Gợi Ý Bài Giảng Chúa Nhật 10 Quanh Năm A

CHÚA NHẬT 10 QUANH NĂM A

GỌI MÁTTHÊÔ (Mt 9, 9- 13)

CÂU HỎI GỢI Ý

1.Tại sao Mt chèn vào cặp câu chuyện này? Đâu là tầm mức và ý nghĩa của câu trích dẫn sách Hôsê ?
2. Tại sao Chúa Giêsu ưu tiên lưu tâm đến hạng thu thuế và tội lỗi? Phải chăng vì Người thấy họ dễ mến? Vì khám phá nơi họ một sự tươi sáng bình dân hay một lòng khiêm tốn có chân giá trị?

1.Vào thời Chúa Giêsu, kinh nghiệm cho thấy các nhân viên và chủ thầu thu thuế, cũng như cấp phụ tá của họ, hầu như luôn luôn lợi dụng chức vụ để làm giàu cách bất chính. Sách Mishna dạy rằng: “Các. mục đồng, nhân viên và chủ thầu thu thuế khó mà làm việc đền tội “. Lý do là vì họ không thể biết tất cả những ai họ đã phương hại, gạt lừa để bồi thường.

Vì thế, người ta có thói quen liên kết nhân viên và chủ thầu thu thuế với quân trộm cắp (Mishna), với hạng tội lỗi (Mt 18, 17) với dân ngoại đạo (Mt 18,17), với bọn đĩ điếm (Mt 21, 31- 32), với phường gian tham – bất lương – ngoại tình (Lc 18, 11) ; tập quán còn gọi thẳng người thu thuế là kẻ “tội lỗi” nữa (Lc 19, 7). Có luật cấm không được đổi tiền với họ hay nhận của họ bố thí để giúp kẻ nghèo, vì đó là tiền phi nghĩa bất công. Nếu trước khi lãnh chức vụ thu thuế hay chủ thầu, họ đã thuộc về một cộng đoàn Biệt phái, thì lập tức bị đuổi ra khỏi đó và chỉ có thể được phục quyền sau khi đã từ bỏ nhiệm sở.

Tuy nhiên, không chỉ trong tâm trí quần chúng mà nghề này bị khinh khi thậm tệ, ghét nữa là đằng khác; song còn xét theo luật nó cũng chính thức bất hợp pháp và bị cấm chỉ hoàn toàn. Ai hành nghề này thì không thể làm quan án, và vì chẳng có khả năng làm chứng nên đương sự bị đồng hóa với nô lệ. Nói cách khác, y bị tước các quyền công dân và chính trị mà mọi người Do thái đều được, kể cả nhưng kẻ có gốc tích ô nhục như con ngoại hôn. Điều ớó cho thấy thật quái gở đến mức nào khi Chúa Giêsu gọi một tên thu thuế làm môn đồ thân thiết của mình và ăn cùng bàn với ông ta.

2.Để hiểu điều Chúa Giêsu làm khi ngồi ăn với các người “tội lỗi”, cần lưu ý điểm này là tại vùng Cận Đông, ngày nay vẫn thế, mời ai ăn cơm là một vinh dự. Đó là tỏ ra muốn hoà bình, tin tưởng, huynh đệ và tha thứ ; nói tóm, ăn chung có nghĩa là sống chung. Sự kiện trong 2V 25. 27- 30 (song song với Gr 52, 31- 34) vau Babylon hạ lệnh đem Gioakim ra khỏi tù và mời ông ngồi bàn cùng ăn đi mình có giá trị như lời công khai tuyên bố phục chức ông ta. Cũng thế, việc vua Agrippa Đệ I mời tướng thất sủng Silas cùng ngồi dùng bữa, là dấu chỉ cho thấy nhà vua đã tha thứ cho ông (Flavius Josèphe, Antìquités 19, 31). Đặc biệt trong Do thái giáo, chia sẻ bữa ăn có nghĩa là liên hợp với nhau trước mặt Thiên Chúa, vì sự kiện cùng bẻ một chiếc bánh nhấn mạnh việc đồng tham dự vào lời chúc tụng trên bánh do gia chủ đọc lên. Chính vì vậy mà các bữa ăn của Chúa Giêsu với người thu thuế và tội lỗi không chỉ là những biến cố có tính cách xã hội, hay là biểu thức của tình nhân ái lạ lùng nơi Người và lòng Người thiện cảm bao dung đối với một giai cấp xã hội bị khinh thị, mà còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Chúng biểu lộ sứ mệnh và sứ điệp của Người; chúng trở nên những bữa ăn cánh chung, chúng cử hành trước thời hạn bữa tiệc ngày Quang lâm, chúng biểu hiện cho cộng đoàn các thánh.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Tên ông là Matthêô “: Đây chắc là cùng một nhân vật với Lêvi trong Mc 2, 14 và Lc 5, 27, dù từ thời Origène, người ta “thường hay phủ nhận. Là nhân viên thu thuế ở Capharnaum, Matthêô không trực tiếp phục vụ người rôm, nhưng phục vụ Hêrôđê Antipas ; nhờ chức vụ này mà có lẽ ông có một đời sống khá giả khiến có thể mời Chúa Giêsu và môn đồ Người đến ăn; người ta cũng đã nhận xét là ngoài tiếng Aram, tức tiếng mẹ đẻ ông còn biết tiếng Hy lạp, thứ ngôn ngữ hành chánh đương thời, đồng thời là người có trật tự và chính xác hết thảy những nhận xét này đã được đưa vào trong cuộc tranh luận về vấn đề tác giả của Tin Mừng thứ nhất, nơi người ta cũng tìm thấy các tính cách nói trên. Nhưng về cuộc đời ông, ta không biết một tí mảy may nào.

“Và ông đứng dậy đi theo Người “: Như mọi lần, kẻ được gọi luôn lập tức đáp lời, nhưng không có gì trong con người của một giải thích thái độ đó. Chỉ có uy quyền của Chúa Giê-su mới cắt nghĩa được sự biến đổi cách nhanh chóng đời sống ta một người hư đốn như vậy thôi.

“Đến ngồi đồng bàn “: ở đây chẳng nói rõ ngày giờ bữa ăn, trong lúc ở Lc 5, 29 nó như thể là bữa cơm tối giã từ (sở quan thuế) để khai mạc một đời sống mới. Các loài tiệc này chúng ta quá quen thuộc. Vì thế đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy tụ họp quanh cùng một bàn ăn các bạn bè cũ và mới của Matthêô. Chỉ có sự hiện diện của Chúa Giêsu, một rabbi, là không hợp mà thôi.

“Tại sao Thầy các ông lại ăn với quân thu thuế và tội lỗi”: Quy định vô số của các giáo sĩ về các bữa ăn (là những việc rốt cục cũng có ý nghĩa tôn giáo) cho ta lượng được cơn bất bình của Biệt phái khi thấy Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với kẻ tội lỗi là những người, theo định nghĩa, không tôn trọng các quy định trên. Thành thử câu nói của Biệt phái chẳng phải là một chất vấn nhưng là một lời buộc tội.

“Lương y”: việc dùng hình ảnh vết thương để ám chỉ tội lỗi và lương y để nói lên ơn tha thứ là điều thường thấy trong Cựu ước (Đnl 32, 39 ; Is 1, 6 ; 19, 22 ; 30, 26 ; 57, 18 – 19 ; 33, 6 ; Hs 5, 13 ; 7, 7 v.v…).. Ngay cả ý tưởng cho rằng tình trạng của tội nhân được tha thứ sẽ trỗi vượt hơn tình trạng họ đã nằm trong đó trước khi phạm tội, cũng là chủ đề cốt yếu của các sấm ngôn thiên sai (Hs 14, 2- 9 ; Is 30, 26 ; 35 ; 40 ; 55 ; 60, 19 ; Ed 36, 23- 38). Thành ra tội nhân là đối tượng của một tình yêu vĩ đại hơn lúc ông ta hãy còn là người công chính chưa phạm tội.

“Ta chuộng nhân nghĩa chứ không phải là lễ tế”: Dịch như vậy chưa phản ảnh đúng ý tưởng nguyên thủy của Hs 6, 1. Chúa Giêsu không tìm lối biện minh thái độ của mình bằng cách nại đến lòng nhân từ của Thiên Chúa, là Đấng thích tội nhân ăn năn hoán cải hơn là cứng đầu chẳng chịu sám hối. Do đó Biệt phái không khiển trách Chúa Giêsu đã hoán cải tội nhân, cho bầng trách Người đã dùng các phương pháp xem ra coi thường các qui định về nghi lễ. Họ không chịu được cảnh Người hòa đồng với tội nhân đến độ đặt mình vào tình thế nhiễm lây sự ô uế chiếu luật của những hạng này. Vì vậy Chúa Giêsu mời họ đọc lại ngôn sứ Hôsê, kẻ từng khiển trách Israel là đã tỉ mỉ tuân giữ các quy định nghi lễ trong lúc lại phạm nhiều bất công xã hội tầy trời. Trước cảnh đó, Hôsê đã đặt vào miệng Giavê lời khẳng định này: “Ta muốn tình yêu chứ không muốn hy tế”, nghĩa là muốn một tình yêu chân thành đối với tha nhân chứ không phải là các nghi lễ. (Khi dịch hạn từ Hy bá hésèd, “tình yêu, lòng trắc ẩn” ra eloas, nhân nghĩa, mật chỉ biết theo bản 70 ; khổ thay, hạn từ Hy lạp lại quá yếu so với hạn từ Hy bá) : Thành thử qua lời trích dẫn Hôsê, Chúa Giêsu cho Biệt phái thấy rằng: khi lưu tâm đến kẻ tội lỗi, Người chỉ thực thi tình yêu mến tha nhân, là thứ tình yêu phải được đặt lên “trên mọi quy định về trong sạch chiếu luật – điều mà người biệt phái không làm. Lòng trung thành bên ngoài với Lề luật của họ đã dẫn họ đến chỗ khinh miệt tha nhân vậy.

“Ta không đến kêu gọi những người công chính mà là những kẻ tội lỗi “: Theo truyền thống Biệt phái, chỉ có người công chính mới dược Thiên Chúa yêu thương. Còn hạng tội lỗi chỉ kéo xuống trên bản thân cũng như trên tập thể cơn giận của người ta còn đi đến chỗ hồ nghi cả khả năng sám hối của họ nữa (Kn 12, 10). Do đó mấy tiếng này của Chúa Giêsu đã hoàn toàn đảo lộn vũ trụ quan của Biệt phái. Đây không chỉ là đặt lại vấn đề một tín điều đơn lễ, nhưng còn nhắm đến chính bản chất của lòng đạo đức theo Lề luật và do đó đụng đến cảm thức sâu xa nhất về giá trị của tôn giáo cổ truyền. Điều tệ hại nhất là Chúa Giêsu đã dựa trên một nền tảng tôn giáo khách quan (câu trích dẫn Hôsê) để đảo lộn các giá trị đó. Thành ra không phải chỉ mình Người, mà còn chính Thiên Chúa phán xét như vậy.

Tuy nhiên cần lưu ý là không khi nào Chúa Giêsu phong thánh cho tội nhân và tội lỗi cả. Người chấp nhận với nhóm Biệt phái rằng hạng thu thuế-trộm cắp kiểu Matthêô là tội lỗi. Người cũng chẳng bảo là tội nhân giá trị hơn chính nhân đâu Người không phân biệt đức công chính thực sự, chẳng hạn như của Abel, kẻ duy nhất được Người gọi là công chính, x.Ml 23, 35 – với đức công chính giả hiệu của nhóm Biệt phái ; nếu phân biệt, có lẽ Người sẽ đặt Biệt phái ngang hàng với hạng thu thuế hay còn thấp hơn nữa! ở đây Người chỉ muốn lấy lại thuật ngữ của Biệt phái mà chẳng phê bình, để họ hiểu được điều Người muốn nói).

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đến cứu vớt tất cả mọi người. Ai cũng có chỗ trong con tim Người và có chỗ trong Nước Thiên Chúa. Vấn đề là họ đừng tự đắc cho mình là công chính, có quyền đòi hỏi Thiên Chúa cứu rỗi, song là chân thành thân hối, từ giã quá khứ tội lỗi để bước đi theo Chúa Giêsu. Như thế, dầu xưa kia họ đã thuộc hạng xấu xa nào, họ vẫn có thể trở thành môn đồ thân tín của Người được.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Thiên Chúa thường có những cách chọn lựa khiến tâm trí ta phải chưng hửng, ngạc nhiên. Ngài có những đường lối canh tân đời sống Giáo Hội một cách bất ngờ, qua trung gian những con người mà ta có khuynh hướng khinh rẻ, gạt sang một bên. Đường lối phong phú của Ngài, của Thánh Thần, vượt quá mọi phê phán, dự định của ta vậy.

2.Nếu chúng ta muốn theo Chúa Kitô, chúng ta cần phải đón nghe tiếng gọi của người và chấp nhận nhiều dứt bỏ. Vì theo Chúa Ki-tô không phải chỉ là trở nên như môn đồ của một ông thầy nào đó, chấp nhận giáo huấn, học thuyết của ông, là gắn bó vào con người của Người, giá trị tuyệt đối hơn.

3.Chúng ta phải biết cho những người đang cần Chúa những dấu hiệu thích hợp của tình huynh đệ, những dấu hiệu làm họ cảm nhận được tính cách cao cả và dịu dàng của việc giải với Thiên Chúa trong Chúa Kitô.

4.Chúng ta thường có khuynh hướng phân chia thế giới làm hai phe: Phe thiện (trong đó có chúng ta) và phe ác. Quả thật, thiện và ác chống đối nhau một cách trường kỳ, song là ở trung chính tâm hồn ta kia. Chúa Giêsu cũng thấy có hai phe như vậy. Nhưng Người không thấy có kẻ lành kẻ dữ, vì tất cả đều là tội nhân. Có kẻ tự coi mình là công chính, kẻ khác tự nhận mình là tội nhân. Chúa Giêsu đến kêu gọi những kẻ tội lỗi va Người bất lực trước những ai tự xem mình công chính.

5.Người ta thường bảo : Kitô hữu không tốt hơn những kẻ khác. Thực ra, cái đặc trưng Kitô hữu không phải là ở chỗ tốt hay xấu hơn. Người Kitô hữu là người chấp nhận đón nghe một tiếng gọi lớn hơn trái tim của mình theo nghĩa này, Kitô hữu có thể vượt lên, không phải trên những người khác, mà là chính mình, vì họ thừa nhận một tiếng gọi mà họ muốn đón nhận như ân sủng). Đồng thời, họ tự coi mình là kẻ tội lỗi, vì tiếng gọi đó cũng là lời phán xét họ.

6. Nhưng lời “phán xét” này chẳng những mặc khải tội lỗi của chúng ta. Nó đồng thời mặc khải tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng kêu mời chúng ta hãy sống và phát triển cái tốt nơi mình. Hơn nữa, Ngài còn đặt trong chúng ta một niềm hy vọng lớn lao mà chúng ta không hề tưởng đến : Ngài đổ Thánh Thần trong ta.

Giáo Hoàng Học Viện

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *