CHÚA NHẬT 33 QUANH NĂM A
DỤ NGÔN NÉN VÀNG (Mt 25, 14- 30)
CÂU HỎI GỢI Ý
1. Theo chính bố cục của trình thuật, phải tìm chìa khóa hay trọng tâm của nó đâU ? Trọng tâm ấy là gì?
2. Trình thuật này phải chăng chỉ là một dụ ngôn? Một dụ ngôn với nhiều nét ẩn dụ? Nếu thế, thì những nét Đó là gì? Hay đây là một ẩn dụ thực sự ? nếu đúng, thì tại sao ?
3. Văn mạch của trình thật có soi sáng văn thể của trình thuật không, nghĩa là nó có chỉ đây là một dụ ngôn đơn thuần, một dụ ngôn với nhiều nét ẩn dụ, hay một ẩn dụ không?
4. Xét theo cuộc sống ki tô hữu, thì các nén vàng tương ứng với cái gì?
5. Nếu áp dụng dụ ngôn này vào cuộc Phán xét cuối cùng và nếu xem ông chủ của ba tôi tớ là hình ảnh của Chúa Giêsu, thì làm sao giải thích câu 26 ?
1. Tất cả mọi dữ kiện của trình thuật này không quan trọng như nhau. Rõ ràng các câu đầu chỉ là một lời dẫn nhập. Việc chủ ra đi, số vàng ông trao cho tôi tớ việc họ sử dụng số vàng (cc. 14-18): tất cả đang còn là giả thiết trước của cảnh chính: việc tính sổ khí chủ về.
Cảnh tính sổ này được chia thành ba phân cảnh : ba tôi tớ tới trình diện, mỗi người cho biết đã dùng số tiền ấy ra sao và nghe lời chủ phán quyết về thái độ của mình. Nhưng các phân cảnh này không có cùng tầm quan trọng. hai tôi tớ đầu tiên, những kẻ đã làm việc giỏi, đều thấy trường hợp mình được giải quyết trong hai câu mỗi người (cc.20-23), trong lúc kẻ thứ ba, tôi tớ bất hảo, lại được người kể dụ ngôn dành cho 7 câu (cc 24- 30). Nếu không tính hai câu cuối cùng (cc.29-30) là những câu có lẽ được Mt biên soạn thêm vào hơn là do Chúa Giêsu nói, thì vẫn còn năm: tôi tớ thứ ba vẫn được nhiều câu hơn hai người kia góp chung vậy.
Phải thêm rằng trường hợp của hai tôi tớ đầu hết sức giống nhau: điều đã nói cho người thứ nhất cũng được lặp lại cho kẻ thứ hai. Về lương diện văn thê, bốn câu dành cho họ làm thành một đơn vị văn chương cân với phần dành cho kẻ thứ ba. Nghĩa là, dù mang hình thức một mình thuật có ba giai đoạn, thật ra đây cũng chỉ là một đối ngẫu: điều quan trọng nằm trong sự tương phản đối nghịch hai tôi tớ đầu với tôi tớ thứ ba.
Như đã biết, trong các dụ ngôn được xây dựng theo hình thức đối ngẫu, thì điểm nhấn mạnh bao giờ cũng nằm trong vế thứ hai, còn vế thứ nhất chỉ dùng để làm nổi bật thêm cho nó. Chẳng hạn trường hợp ngụ ngôn răn đời của Giotam (Tl 9). Trong dụ ngôn này, cây cối kéo nhau đi tìm một ông vua, đã ngỏ lời trước tiên với cây Ô-liu, với cây vả, với cây nho, rồi với bụi gai; nhưng chỉ bụi gai mới liên can tới việc áp dụng cho dân Xikem, là những người đã phong vương cho Abimélek. Phương thức này cũng gặp lại trong nhiều dụ ngôn Tin Mừng: người gieo giống, tá điền vườn nho, đứa con phung phá v.v…
Ta có thể kết luận rằng: để nắm được ý hướng đã khai sinh dụ ngôn, cần phải tập trung chú ý vào người tôi tớ bất hảo. Phải tìm chìa khóa trình thuật trong chính cuộc đối thoại giữa y và chủ y.
2.Chỉ dẫn chính về giáo huấn mà Mt muốn minh giải qua dụ ngôn, nằm trong chữ “vì chưng” đặt ngay đầu trình thuật (mà bản dịch BJ tiếc thay đã bỏ đi). Dụ ngôn như thế được trình bày như một sự khai triển nhằm giải thích câu châm ngôn đi trước chữ “vì chưng” đó, châm ngôn mà tác giả Tin Mừng ở c.13 đã đem làm câu kết luận cho dụ ngôn mười thiếu nữ : Vậy các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào giờ nào. Vì chưng cũng như người kia trẩy đi xa… Thành thử dụ ngôn có ý ghi vào óc sự cần thiết phải “thức tỉnh”. Dĩ nhiên Mt muốn hiểu động từ theo nghĩa bóng, nếu không ông đã chẳng có thể dùng lời :khuyến dụ ấy làm câu kết luận của một dụ ngôn trong đó ta thấy các cô thiếu nữ, khôn cũng như khờ đều ngủ cả. “Tỉnh thức” nghĩa là hãy “sẵn sàng” (25,10) đợi cuộc Phán xét mà ngày giờ chẳng một ai hay. Đàng khác chủ đề tỉnh thức ấy cũng là đối tượng của cả phần thứ hai của Diễn từ cánh chứng từ 24, 42 : “Vậy các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chủ các người đến “. Năm dụ ngôn đi liền sau câu này phân tích các khía cạnh khác nhau của sự tỉnh thức mà nhờ có giây phút Chúa trở về, đối với các môn đồ Chúa Giêsu, sẽ chẳng phải là giây phút luận phạt họ (24,43-25,46).
Thành thử trong tư tưởng của tác giả Tin Mừng, dụ ngôn ta đang nghiên cứu muốn khuyên bảo hãy tỉnh thức. Một nhận xét nhỏ sẽ cho ta thấy đâu là hoàn cảnh khiến đưa ra lời khuyên ấy. Ở câu 19, Mt xác định “đằng đẵng mãi lâu sau chủ mới về. Chi tiết này tương ứng với chi tiết ta gặp trong dụ ngôn trước: “nhưng lang quân đến trễ”.(25, 5), và ở đây lại lấy lại một chi tiết trong dụ ngôn người quản gia: tên đầy tớ nghĩ rằng : “chủ ta về trễ” (24,48). Các điểm này, qua sự kiện được lặp lại nhiều lần, bắt ta phải lưu ý. Tự nhiên người ta nghĩ đến cái vấn đề được đặt ra cho các Kitô hữu cuối thời các sứ đồ do việc ngày Quang lâm chậm đến: Cuộc trở lại của Chúa Kitô, mà người ta hy vọng là rất gần, đã không xảy ra? nỗi thất vọng đó dễ gây nên nhiều hậu quả trầm trọng cho đức tin Kitô giáo (x 2Pr 3, 4) ; nó cũng dễ lung lạc lòng kiên trì của các tín hữu, lung lạc sự tỉnh thức đã được nuôi dưỡng bởi niềm hy vọng Chúa sắp trở lại.
3. Khía cạnh dưới đó Mt nhận xét đế’n bổn phận “tỉnh thức” trong dụ ngôn nén vàng, đặc biệt lộ ra nơi các tĩnh từ ông dùng để định tính chất cho các tôi tớ. Phương thức này ta năng gặp nơi ông. Chẳng hạn như trong dụ ngôn kết thúc Diễn từ trên núi, ông gọi là “khôn” kẻ xây nhà trên đá, và “dại” kẻ xây nhà trên cát (7, 24- 26). Người quản gia chẳng mảng bổn phận mình bị gọi là tôi tớ “ác gian” (24,48). Trong cả hai trường hợp vừa kể, Lc không dùng tới các tĩnh từ như vậy. Trong giai thoại người bất toại, các ký lục đã có những ý nghĩ “ngang trái” về Chúa Giêsu (9, 4 so với Mc 2, 8). Trong lời Người hạch tội, bọn họ bị gọi là quân “giả hình” (23, 13-19 so vai Lc 11, 39- 52). Tất cả các tiếng xác định đó nói lên ưu tư sư phạm của tác giả là muốn soi chiếu sự phê phán của các độc giả ông.
Trong dụ ngôn ta đang nghiên cứu, chủ nói với tôi tớ thứ nhất, theo Lc: “Tôi tớ lương hảo” (19,17); với hai người đầu tiên, theo Mt: “Tôi tớ lương hảo và trung trực” (25,21.23). Với kẻ sau cùng, theo Lc: “Tôi tớ bất hảo” (19, 22) ; theo Mt: “Tôi tớ bất hảo và lười biếng” (25,26). Và người này còn được gọi là tôi tớ vô dụng” bản BJ : (“không được việc gì”) (c.30). Phải chăng ta có thể nghĩ rằng người tôi tớ này sẽ chứng tỏ mình ít lười biếng hơn nếu đã gởi vào ngân hàng tiền của chủ, hơn là đào lỗ chôn dấu? Mt rõ ràng không quan tâm đến một vấn nạn như vậy. Khi gọi là “lười biếng” tên đầy tớ gian ác, ông chỉ muốn lưu ý tới việc áp dụng tĩnh từ đó cho các Kitô hữu xấu thời ông hơn là tới sự mạch lạc nội tại của hình ảnh dụ ngôn.
Ở đầu trình thuật, Mt ghi lại việc các tôi tớ làm “ngay đó” với số tiền họ đã lãnh (cc.16-18). Ba câu này không có song song trong Lc, và ta có cảm tưởng chúng nói ra trước một cách đáng tiếc cảnh Phán xét sau cùng, khiến làm mất đi tính cách bất ngờ của cảnh ấy. Nhưng đồng thời ta lại thấy chúng góp phần tích cực vào việc làm sáng tỏ giáo huấn mà Mt muốn rút từ dụ ngôn: chúng làm nổi bật hơn lòng hăng say tích cực của hai tôi tớ “trung trực” và thói lơ là của tôi tớ “lười biếng”.
Trong các lời chủ tuyên phán, chỉ Mt mới có những điểm rõ ràng vượt khỏi khung cảnh của trình thuật dụ ngôn và không thấy có nơi Lc. Hai tôi tớ đầu được mời “vào trong hoan lạc của chủ” (c.21 và 23): hoan lạc này chắc hẳn phải hiểu về bữa tiệc thiên sai, hơn là về các tâm tình chợt, cảm thấy vì một lý do nào đó mà bản văn không chỉ rõ. Cũng vậy, người tôi tớ vô dụng bị đuổi ra nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (c.30): hình phạt này chỉ có thể là chỉ sự luận phạt muôn đời muôn kiếp. (x.Mt 22, 13).
Qua việc phân tích tất cả các chi tiết vừa kể, ta thấy rằng khi lưu truyền dụ ngôn này, Mt không hề quên giáo huấn mà độc giả ông phải rút ra từ đó. Cho dù ngày Quang lâm đến trễ, các Kitô hữu cũng cần phải “tỉnh thức” nghĩ đến lời phán xét sẽ được tuyên đọc trên thái độ sống của họ và sẽ quyết định việc họ đi vào hoan lạc Nước Trời. Sự tỉnh thức này đồng thời là sự trong thành chu tất các bổn phận đã được giao phó cho, nghĩa là tất cả mọi bổn phận của đời ki tô hữu. Về phương diện này, dụ ngôn nén vàng có nhiều điểm chung với dụ ngôn người quản gia (24, 45- 51). Trong cả hai trường hợp, chủ đã ban cho các tôi tớ ông những chỉ thị rõ ràng trong thời gian ông đi vắng. Điều quan trọng là họ trung thành thực hiện ý ông. Nhưng có một điểm mới được thêm vào trong dụ ngôn nén vàng, điểm tạo nên trọng tám riêng của nó. Đấy là không chỉ thi hành, theo mặt chữ và tinh thần, một sứ mệnh rõ ràng đã được ủy thác, nhưng còn phải tự mình đưa ra sáng kiến và làm việc theo chiều hướng của cái mà chủ có thể mong chờ nơi họ.
Thành thử để được cứu rối, và đó chính là điểm Mt nhấn mạnh trong dụ ngôn này, thì không những chỉ nghe Lời Chúa, mà còn phải đem ra thực hành, làm lời ấy sinth nhiều hoa quả. Muốn né tránh công việc vất vả như vậy là chứng tỏ mình lười biếng, là liều lĩnh lãnh án phạt khủng khiếp nhất. Ta nhận ra trong giáo huấn này một trong những bận tâm lớn của Tin Mừng thứ nhất. Tín hữu nào không chịu đem sứ điệp Kitô giáo áp dụng trong đời sống mình, sẽ không sinh lợi gì cho cải mình đã lãnh: họ giống như thực khách vào phòng tiệc mà chẳng mặc áo cưới (22, 11- 13), như các thiếu nữ được gọi nhập đoàn kiệu đón chàng rể, nhưng đã không nghĩ đến việc dự trữ dầu đèn (25, 1-12), như người xây nhà trên cát (7, 26- 27), như người tôi tớ không chịu khó gây lời cho nén vàng đã nhận.
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Người thì được ông trao cho năm nén vàng”: Trong Pháp ngữ, chữ “talent ‘ rất tiếc có hai nghĩa:
1/ “khả năng, ưu thế tự nhiên để làm một việc gì” (Larousse),
2/ “giá trị hay đơn vị tiền tệ “, nghĩa dùng trong dụ ngôn đây.
Thực tế sự đồng âm song nghĩa này đã lái cách giải thích dụ ngôn theo một chiều hướng rõ ràng là duy tự nhiên: người ta đã coi đây như là một lời khuyến giục hãy khai thác các khả năng tự nhiên của mình và đặc biệt là các khả năng trí tuệ. Nhưng một lối giải thích như thế, dù không tuyệt đối bị loại khỏi nhãn giới Mt, vẫn chắc chắn là ở bên lề. Vì trong quan niệm Mt, không có gì là “tự nhiên” theo nghĩa hiện đại cửa từ ngữ, tất cả đều là hồng ân Thiên Chúa. Và ngay trong các hồng ân Thiên Chúa, thì sự sắc bén của trí tuệ hay tài khôn khéo của con người tự cường không mấy quan trọng. Điều chủ yếu trong Mt, là việc hoàn tất sự “công chính” Kitô giáo, là thực hiện thánh ý Chúa Cha, là sinh hoa trái cho Nước Trời. Mọi cái còn lại ông không mấy lưu tâm. Vì thế, để loại bỏ một lần cho xong cơn cám dỗ muốn giải thích dụ ngôn này theo chiều hướng duy nhất hay quan hệ nhất là sự phát tiền các khả năng tự nhiên bẩm sinh, có lẽ lên bỏ chữ “talent” đi để đem chữ “lingot” (thỏi, nén) thay vào đó.
Nhưng tất cả những điều vừa nói chẳng trả lời cho câu hỏi: các “nén vàng” của dụ ngôn tương ứng với cái gì? Không kể các khả năng tự nhiên, một số nhà chú giải đã xem đó là Tin Mừng hay Lời Thiên Chúa, là chỉnh Chúa Giêsu Kitô được Thiên chúa ban cho các môn đồ, là những anh em phải giúp đỡ hay đưa về đức tin, là các trách nhiệm lãnh đạo trong thế trần hay trong Giáo Hội, là các của cải vật chất phải phát triển “cho Thiên Chúa” v.v… Trong các lối giải thích vừa kể, lối xem ra ăn khớp nhất với các bận tâm của Mt là lối đồng hóa các nén vàng với Tin Mừng, hay hơn nữa với sự hiểu biết mà mỗi người có về Tin Mừng (x.”mỗi người tùy theo tài lực của mình” của câu 15). Không phải là Tin Mừng có thể được tăng bội, nhưng theo nghĩa là sự hiểu biết của lỗi người về Tin Mừng đòi phải trở thành hoa trái phục vụ và yêu thương tha nhân. Theo cách đó Tin Mừng không được tăng bội nhưng được khai thác” trong đời sống mỗi người tùy theo ân huệ Thiên Chùa đã ban (ánh sáng, quảng dại, can đảrn, kiên nhẫn v.v…).
” ít ” : kiểu nói này hơi lạ, vì thực ra các tôi tớ ấy đã nhận một số vốn kếch sù, Nếu lấy làm căn bản tính toán một đồng quan (aenier) lương công nhận của một người thợ, thì người tôi tớ thứ nhất đã nhận 50.000 đồng, người thứ hai 20.000 đồng và ngươi thứ ba 10.000 đồng – số tiền sau cùng này tương đương với tiền công 30 năm của một người thợ: Chữ “ít” dễ hiểu hơn trong Lc (19, 17) nơi nói đến một số tiền kém thua nhiều: một yến bạc (mine) (giá trị bằng 100 đồng). Thành thử số tiền trao cho các tôi tớ xem ra đã được thổi phồng lên trong truyền thống Mt. Nhưng dù phải chịu tiếng thiếu mạch lạc Mt cũng vẫn giữ lại chứ ít có trong các nguồn liệu của ông; điều này chứng tỏ ông hết sức trung thành trong việc lưu truyền cách toàn vẹn các dữ kiện của truyền thống.
“Nên tôi sợ”; Một và tác giả nhấn mạnh người tôi tớ đã thiếu tình yêu đối với ông chủ; ý tưởng này nếu không nằm trên mặt chữ thì cũng nằm trong chiều sâu của bản văn; vị Thiên Chúa của ngươi tôi tớ lười biếng đây chẳng phải là Thiên Chúa của Tin Mừng thứ nhất.
“Người đã biết ta không gieo mà gặt… “: ông chủ bắt đầu bằng cách lặp lại điều người tôi tớ vừa nói về ông. Ong không tự bào chữa, ông chấp nhận, ít ra là với danh nghĩa giả thuyết, ý tưởng người tôi tớ có về ông. Chính khi đi vào quan điểm của người tôi tớ mà ông sắp cho thấy y sai lầm Nếu cho ông là người hà khắc và bóc lột, thì đương nhiên y đã phải biết cẩn thận gửl tiền vào ngân hàng để sinh lời, một chuyện không khó khăn gì hết. Đó là cái tối thiểu mà một kẻ bóc lột có thể đòi hỏi trong những hoàn cảnh như vậy. Thành thử tên đầy tớ bất hảo, dù đứng trong quan điểm hẹp hòi và sợ sệt của y, vẫn đã thiếu hợp lý với chính mình.
“Vì mọi kẻ có thì sẽ được cho thêm… “: Ta đã gặp câu nói này trong 13, 12; chắc hẳn đây là một tục ngữ bình dân, hay một lời nói của Chúa Giêsu đã được một tách ra để đặt ở đây. Nó tóm tắt dụ ngôn cách tuyệt hảo: trong ngày Chung thẩm (bản Hy Lạp nói theo mặt chữ: “sẽ được cho”: ngữ điệu thụ động không có tác nhân là một cách ám chỉ hành động thần linh, và thì tương lai của động từ quy chiếu về một hành động có tính cách cánh chung của Thiên Chúa), kẻ có, nghĩa là kẻ đã trung thành trong các việc tầm thường của đời sống trần gian, sẽ nhận được một phần thưởng lớn; nhưng kẻ không có gì, nghĩa là đã bất trung hay lười biếng, sẽ bị nghiêm trị.
KẾT LUẬN
Tin Mừng là một số vốn: nhưng kẻ đã nhận được nó không có quyền để nổ nằm yên, chẳng sính lợi ra. Họ phải để Tin Mừng biến dối mình và trong mọi hoạt động, phải cảm hứng từ đó. Chỉ như thế họ mọi tỏ ra trong thành với Đấng đã trao phó nó cho họ.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1.Người tôi tớ bất hảo đã không hiểu rằng, khi trao cho y một phần gia sản mình, chủ đã tỏ ra tin tưởng y. Y đã chẳng khám phá ra tình yêu và lòng tin tưởng của chủ. Vì thế y đã sống trong nỗi lo sợ. Đó là hình ảnh của người Kitô hữu nào hôm nay xem Tin Mừng là một bản liệt kê điều răn và huấn lệnh, thay vì là một tin vui cứu độ và là lời mời gọi yêu thương người như anh em. Ho xem Thiên Chúa như một ông chủ hà khắc ác nghiệt, đòi hỏi một lòng vâng phục kiểu nô tỳ. Tin Mừng bị chôn vùi trong đời sống của một Kitô hữu như thế, chôn vùi dưới một đống quy tắc máy móc nặng nề: họ đến nhà thờ ngày Chúa nhật đọc kinh sáng tối xưng tội rước lễ thường xuyên, góp công của để trang trải nhu cầu vật chất của giáo xứ ; nói tắt, họ sòng phẳng với Thiên Chúa. Nhưng tiếc thay, họ không khai thác trong mình năng lực của Chúa Kitô hằng thôi thúc họ liều mạng vì tình yêu. Sống đức vâng phục trong sợ hãi và an toàn hơn với tình yêu thì ta chẳng bao giờ biết trước điều gì sẽ phải đến: có thể bị bỏ rơi, loại trừ, bội phản… Nhiều rủi ro quá… Lắm Kitô hữu đã lý luận như vậy. Họ thích việc giữ luật hơn sống tình yêu, vì họ sợ Thiên Chúa. Và họ sợ Thiên Chúa vì họ không biết đúng về Ngài. Họ chẳng biết rằng “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Nếu biết, chắc họ sẽ không còn sợ nữa. “Nơi lòng mến không có sợ hãi. Lòng mến trọn lành thì xua sợ hãi ra ngoài, vì sợ hãi có liên can với hình phạt, và kẻ sợ hãi ắt không được thành toàn trong lòng mến. Phần ta, ta hãy yêu mến, vì Ngài đã yêu mến ta trước tiên” ( 1 Ga 4, 17- 20).
2. Hai người tôi tớ đầu tiên đã đơn giản làm điều chủ mong chờ nơi họ. Họ đã làm một cách vui vẻ hăng say. Như thế, họ chứng tỏ mình khăng khít với chủ. “Nếu các ngươi giữ lệnh truyền của Ta, các ngươi sẽ lưu lại trong lòng yêu mến của Ta” (Ga 15, 10). “Điều Ta truyền cho các ngươi là hãy yêu mến nhau” (Ga 15,17). Các tôi tớ đó chẳng làm gì phi thường: họ chỉ chu toàn bổn phận mình, đã tìm cách khai thác, trong cuộc sống, sức mạnh của Tin Mừng hằng thúc đẩy họ mến yêu và điều đó đủ làm chủ hả dạ : ông kính trọng và đối xử với họ như bạn hữu, và mời họ vào hưởng hạnh phúc của ông: “Tôi tớ lương hảo cùng trung trực, hãy vào trong hoan lạc của chủ ngươi”.
Giáo Hoàng Học Viện
