CHÚA NHẬT III MÙA CHAY
ĐÀM THOẠI VỚI THIẾU PHỤ SAMARI
MẶC KHẢI CHO DÂN THÀNH SAMARI
(Ga 4, 5- 42)
CÂU HỎI GỢI Ý
1. Đoạn văn này được xếp đặt thế nào trong bối cảnh chung của các chương 2- 4 ? Bố cục của nó ra sao ?
2. Hai ám dụ “ơn của Thiên Chua” và “nước sống” tiêu biểu gì? Có phải là hai thực tại khác biệt nhau không?
3. Trong chương 7, 38- 39, Chúa Giêsu đồng hóa nước sống với Chúa Thánh Thần. Nước sống này có phải là cùng một loại với nước mà Chúa Giêsu đề cập tới trong đoạn văn đây, ở câu 10- 12 và 13-15 không ?
4. “Năm người chồng” ở câu 18 có nhất thiết mang một ý nghĩa tượng trưng chăng ?
5. Câu 23 phải chăng đồng nghĩa với sự kết án việc phụng tự bên ngoài ?
6. Câu 34 có mặc khải điều gì về mối tử hệ thần linh của Chúa Giêsu không ?
7. Làm sao giải thích các câu 35-38 cho mạch lạc với nhau ?
1. Quang cảnh tại giếng Gia-cóp là một trong những cảnh đầy tình người và đẹp nhất của Tin Mừng thứ 4. Trang sách này của thánh Gioan để lại cho những ai đã đọc và suy niệm một cảm tưởng khó quên nhờ có nhiều hoài niệm Thánh Kinh ; nhờ tính cách thi vị của khung cảnh, của những cuộc gặp gỡ bên bờ giếng, của hình ảnh nguồn suối lạ lùng, mạch nước trào phun, đồng lúa chín vàng; nhờ nét tế nhị và sâu sắc của câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ lúc đầu chỉ là một ngươi xa lạ nhưng sau đó đã thành một kẻ tin; nhờ những nhãn giới rộng rãi mở ra cho sứ mạng của Giáo Hội và cho việc tôn thờ Chúa Cha trong Thần khí và sự thật.
Tuy nhiên tầm quan trọng của đoạn văn này trước tiên nằm trong lãnh vực thần học. Đôi khi người ta muốn gán cho trình thuật một lối giải thích có tính cách tâm lý và mục vụ: chẳng hạn’ như bảo rằng Chúa Giêsu muốn chỉ dạy cho chúng ta phải ăn nói thế nào với một tâm hồn tội lỗi để kéo họ hối cải trở về. Số người khác thì đề nghị một cách chú giải thiên về bí tích; nước sống là nước rửa tội, của ăn mà Chúa Giêsu đề cập ở 4, 33-34 ám chỉ phép Thánh Thể. Nhưng cả hai cách giải thích trên đều không tôn trọng đủ các dữ kiện của bản văn. Quan điểm của tác giả chủ yếu là một quan điểm Kitô luận : ở đây ông trình bày một khía cạnh trong chủ đề cơ bản của Tin Mừng ông trả lời cho câu hỏi “Giêsu là ai” là con người đạt được niềm tin vào Người.
Ta chỉ hiểu được sự khai triển chủ đề này nếu biết đặt đoạn văn vào trong bối cảnh chung rộng lớn hơn của các chương 2- 4. Cả phần này được khai mào bằng hai trình thuật, hai “dấu lạ” có tính cách mặc khải Đấng Thiên sai, tạo thành một bức song bình: “dấu lạ” Cana (2, 1- 12) và “dấu lạ” Đền thờ Giêrusalem (2, 13-22). Trong các cuộc đối thoại theo sau, ba nhân vật đàm đạo với Chúa Giêsu tượng trưng cho ba hạng người đạt được niềm tin: Nicôđêmô (3, 1 -21) ; thiếu phụ mà Chúa Giê-su gặp bên bờ giếng Giacóp (4, 1 -42); viên quan chức thành Cana (4, 43-54). Cả ba nhân vật hình như đều mang một giá trị biểu trưng : Nicôđêmô, người Do thái gốc Giêrusalem và vị thầy trong dân Israel” (3, 10), dưới con mắt của Gioan, là hiện thân cho Do thái giáo chính thức; người thiếu phụ Sychar (4, 5) là hiện thân cho Do thái giáo ly khai của người Samari, và viên quan chức thành Cana, có lẽ là người ngoại giáo, tượng trưng cho thế giới ngoài Do thái.
Giai thoại người thiếu phụ Samari được bố cục rất kỹ lưỡng. Nó gồm hai cuộc đối thoại chính lồng vào trong những câu thuật sự:
1. Nhập đề: Chúa Giêsu trở lại Galilê và băng qua Samari ; người đến giếng Giacóp (1- 6)
2. Đối thoại với thiếu phụ Samari (7- 26)
– Chúa Giêsu hứa ban nước sống (7-15)
– Chúa Giêsu là Ngôn,sứ (16-19)
– Mặc khải của Giêsu Thiên sai (20-26)
3. chuyển đề : Các môn đồ trở về, thiếu phụ ra đi, dân thành Samari đến (27-30)
4. Đối thoại với các môn đồ (31- 38)
– Lương thực của Chúa Giê-su (31 -34)
– Mùa gặt thiên sai (35- 38)
5. Kết luận : Dân thành Samari tin vào Chúa Giêsu (39- 42)
Mỗi cuộc đối thoại được khai triển. theo một lược đồ văn chương đặc biệt của Tin Mừng thứ 4: các lại mặc khải của Chúa Giêsu xen kẽ với những ngộ nhận của con người. Trong các câu 7-15, người thiếu phụ Samari chỉ nghĩ đến nước giếng trong lúc Chúa Giêsu cố gắng giải thích cho bà hiểu nước ban sự sống mà Người hứa là một loại nước khác: đó là thứ nước sẽ dập tắt vĩnh viễn cơn khát và sẽ trào phun trong chính con người, vọt đến sự sống đời đời. Trong phần cuối của màn đối thoại (20-26) người thiếu phụ chỉ nghĩ đến vấn đề gây chia rẽ giữa người Do thái và người Samari, tức vấn đề nơi chốn của việc phung tự đích thật: phải thờ phượng Thiên Chúa trên núi Garizim hay tại Đền thờ Giêrusalem ? Nhưng Chúa Giêsu mặc khải cho bà biết việc tôn thờ Chúa Cha vào thời thiên sai sẽ được thi hành trong Thần khí và sự thật. Ngay các môn đồ cũng tỏ ra không hiểu tý gì. Từ thành trở về hai chỉ bận tâm lo lắng bắt Chúa Giêsu dùng lương thực vật chất. Nhưng Người trả lời với họ rằng thức ăn đích thật của Người là chu toàn sứ mệnh (31- 34). Sau hết, trong các câu 35- 38, Chúa Giêsu dựa vào một câu nói của các môn đồ về mấy tháng nữa mới tới mùa gặt để mở cho họ một cái nhìn về một mùa gặt khác: mùa gặt thiên sai, lúc mà thợ gặt sẽ thu lượm thóc lúa cho sự sống đời đời.
2. Cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ Samari gợi nhớ các cảnh tượng khác trong Thánh kinh, mô tả cuộc gặp gỡ giữa người lữ khách mệt mỏi và những người đàn bà đến múc nước ( St 24, 11- 27 ; 29, 1- 21 ; Xh 2, 15-21). Chúa Giêsu, ngồi bên bờ giếng, nói với thiếu phụ xứ Sychar: “Cho tôi uống với” (c.7). Ngay từ đầu, chủ đề thứ nhất, chủ đề “nước”, đã được đề cập: Chúa Giêsu chụp ngay cơ hội để mặc khải cho thiếu phụ Samari mầu nhiệm nước sống. Nhưng bà vẫn ở trong bình diện các tương giao nhân loại sao ? ông là người Do thái mà lại xin với tôi là đàn bà Samari nước uống à? – Số là dân Do thái không liên lạc với dân Samari” (c.9). Trong câu trả lời, Chúa Giêsu cho bà hiểu là Người muốn nói tới một thực tại bí nhiệm mà nước giếng chỉ là biểu tượng thôi: “Nếu bà biết được ơn của Thiên Chúa và ai là người nói với bà : cho tôi uống với, thì chính bà sẽ khẩn xin và Người sẽ ban cho nước sống” (c . 10)
a- Có cần phải coi hai ám dụ “ơn Thiên Chúa” và “nước sống”: chỉ hai thực tại khác biệt nhau không. Một vài người đã nghĩ như thế (Euthymius, Tolet, Van den Bussche). Tuy nhiên số đông các nhà chú giải đều công nhận một cách hợp lý rằng ơn của Thiên Chúa chính là nước sống. Căn cứ vào câu song song ở 7, 37-39, nhiều tác giả quả quyết rằng ở đây Chúa Giêsu rnuốn nói tới Thánh Thần, nhưng có lẽ nào quan niệm được rằng Chúa Giêsu đã trù tính ban Thánh Thần cho người thiếu phụ này trước ngày sống lại ! Với một số khác, thì ơn nước sống đúng hơn là chính sự mặc khải của Chúa Giêsu về bản thân ,mình. Có lẽ nên tìm câu giải đáp trong lối giải thích này, nhưng nên phân biệt hai giai đoạn liên tiếp trong nhiệm cục mặc khải như chúng ta đã thấy sau: thời gian của Chúa Kitô và thời gian của Thánh Thần. Chính bản văn cũng cho chúng ta một chỉ dẫn quý giá: theo lời tuyên bố của Chúa Giêsu với người thiếu phụ thì “biết ơn của Thiên Chúa” là biết Người là ai. Sự khám phá dần dần mầu nhiệm Giêsu, sự hiểu biết thâm sâu Người là ai, chính đó là ơn của Thiên Chúa, ơn nước sống vậy. Phân tích đơn giản hai chủ đề này, ta sẽ thấy rõ hơn.
b- Theo các sách của người Do thái, ơn tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa là luật môi sen, chẳng hạn như một đoạn văn của F.Josèphe, Ant. Jud. 4,8,47- 31, 8), có nói: Môisen, sau cuộc thần hiện ở Sinai, dã kêu mời dân thờ kính Thiên Chúa với những lời như sau: “Phận sự của các ngươi là tôn thờ Thiên Chúa và tuân giữ các giới luật của Ngài, hồng ân quý báu nhất trong tất cả mọi sự mà Ngài đã ban cho các ngươi và sẽ còn ban nữa, theo lòng nhân hậu trường cừu của Ngài”. Bài Tựa của thánh Gioan đã vang vọng lại truyền thống ấy: luật được ban cho nhờ Môisen” (1, 17). Nhiều chỗ khác trong Tin Mừng thứ tư động từ “ban cho” rất được năng dùng. Chỉ một lần duy nhất, nó có túc từ là Đấng Bầu Chữa (14, 16): nhưng trong bài diễn từ sau Tiệc ly này, động từ ở thì tương lai và quy hướng về thời gian của Giáo Hội. Tuy vậy trong 3, 34, động từ lại ở thì hiện tại: có lẽ ám chỉ: Chúa Giêsu, Đấng Thiên Chúa sai đến kẻ “nói được lời của Thiên Chúa” và ban cho Thần khí không giới hạn ” = ơn Thần khí đã có cách nào đó trong các lời nói của Chúa Giêsu; nhưng việc làm cho lời đó ăn sâu vào tâm hồn nhờ Thánh Thần, thì sẽ chỉ được thực hiện sau ngày Phục sinh). Vậy câu 14,16 không thể dùng như một câu song song với câu của chúng ta đây được (4, 10). Còn theo 3,16, động từ “ban cho” có túc từ là Con Một Thiên Chúa. Thường thì động từ ấy được áp dụng vào những lời mà Chúa Cha đã ban cho Chúa Con và Chúa Con ban cho các môn đồ (17, 8.14), hoặc áp dụng vào huấn lệnh của Chúa Cha hay Chúa Con (12, 49 ; 13, 34 ; 14, 31). Kiểu nói ở 4,10 tổng hợp các dữ kiện trên. “Ơn của thiên Chúa” không còn là Luật Môisen như trong Do thái giáo nữa, song là Luật Mới, là mặc khải tối hậu trong Chúa Giêsu. Lời ấy của Chúa Giêsu, lời mặc khải chung quyết của thời đại thiên sai, đã kiện toàn mặc khải bất toàn của Sinai. Theo 1, 17, cái từ nay sẽ thay thế luật Môisen, chính là mặc khải do Chúa Giêsu đem tới, chính là sự thật, chính là Người (14, 6). Vì thế, khi hứa ban ơn Thiên Chúa cho thiếu phụ Samari, Chúa Giêsu ngầm cho hiểu là Người sắp tỏ mình cho bà; và thực sự, để tiếp nối lời hứa còn mơ hồ của câu 10 : “Nếu bà biết … ai là người nói với bà …”, câu kết luận xác quyết rõ ràng: “(Đấng Messia) Chính là Ta, người đang nói với bà đây” (26).
c. Biểu tượng “nước sống” còn quan trọng hơn biểu tượng trước, vì Chúa Giêsu sẽ dùng lại nó ở câu 14, rồi sau này một lần nữa, trong mặc khải long trọng vào dịp lễ Lều trại (7, 38t). Theo nghĩa vật chất, nước sống chỉ nước chảy, đối nghịch vòi nước tù (St 26, 19 ; Lv 2, 13). Nơi các ngôn sứ, thì nước sống trở thành một trong các biểu tượng lớn về những hồng ân của thời đại thiên sai. Trong ngày đó, nước sống sẽ vọt lên từ Giêrusalem ” (Dcr 14, 8 ; x. Ed 47, 1 ; Gr 4, 18). Nhưng trong các sách khôn ngoan, ý nghĩa của hình ảnh này trở nên rõ hơn : nước sống chỉ làn sóng của sự khôn ngoan, hoặc chỉ giáo huấn rút ra từ Lề Luật (Cn 13, 14 ; 16, 22 : 18, 4 ; Hc 24, 30t). Một vài văn phạm Do thái theo lối giải thích này khi chú giải cách ẩn dụ các giếng nước đề cập trong Thánh Kinh (nhất là Ds 21, 17- 19) : theo truyền thống ấy thì một giòng nước bí nhiệm đã được ban cho Israel, giêng mà từ đó phát xuất làn nước sống; giếng là Lề Luật, nước sống tuôn tràn) ra là giáo thuyết khôn
ngoan mà người ta tìm được khi nghiền ngẫm Lề luật. Hãy để ý là trong các bản văn tiền-Kitô giáo này. Nước sống không bao giờ là biểu tượng trực tiếp của Thần khí cả trong các sách mà chúng ta vừa nêu ra, nttờc sống chỉ sự khôn ngoan, sự thật, sự phong phú chứa đựng trong mặc khải.
Đó là cách giải thích árn hợp hơn hết đối với lời của Chúa Giê-su nói với thiếu phụ Samari (Ga 4, 10 : nước sống tượng trưng chỉ giáo thuyết đầy sức tác sinh mà Chúa Giêsu Đấng Khôn ngoan mang lại (x. 4, 25) cho sự thật mà Người tuyên bố (1, 17), cho mặc khải mà Người đem tới trong chỉnh bản nhân người (14, 6). Thế là chúng ta gặp lại cách chú giải đưa ra trên đây về ám dụ “ơn của Thiên Chúa” ; điều đó xác nhận rằng hai ám dụ trên cùng chỉ một thực tại duy nhất mà thôi.
3. Dầu sao cũng còn một vấn nạn. Trong 7, 38- 39, Chúa Giêsu tự áp dụng cho mình một lời Kỉnh thánh: “Tự lòng Người, có những sông tuôn chảy nước sống”. Và thánh sử ghi thêm: người nói về Thần khí mà các kẻ tin vào Người sẽ lĩnh lấy vì Thần khí chưa có, bởi Chúa Giêsu chưa được tôn vinh”. Nhiều nhà chú giải xét rằng cần phải lấy cách giải thích như thế để áp dụng cho nước sống mà Chúa Giêsu đề cập ở chương 4, trong cuộc đối thoại với thiếu phụ Samari: nghĩa là Nước sống chỉ Thánh Thần.
Tuy nhiên, nhãn giới của hại đoạn văn rất khác biệt. Trong 7, 38-39, theo chính thánh Gioan, thì Chúa Giêsu muốn nói tới ơn Thần khí mà các kẻ tin sẽ lãnh nhận sau khi Người được tôn vinh. Còn lúc đầu buổi đàm thoại với thiếu phụ Samari, Chúa Giêsu nói ở thì hiện tại: trong nhãn giới của Gioan, không thể có chuyện Thần khí ở đây. Gioan phân biệt rõ ràng hai thời gian liên tiếp trong tiến trình mặc khải. Trong mạch văn của c.uộc đàm thoại ở giếng Giacóp, nước sống mà Chúa Giêsu đề cập tại là một sự “vén màn” tiệm tiến mầu nhiệm của chính Người. Nhưng ngay sau đó, Người mở rộng nhãn giới rất nhiều; bắt đầu câu 13, không còn nói đến người thiếu phụ nữa, mà “bất cứ ai” muốn uống; và ở câu 14 thì các động từ đều ở thì tương lai: hai sẽ uống nước Ta sẽ ban cho, sẽ không bao giờ khát: nước) sẽ trở nên trong nó mạch suối nước vọt đến sự sống đời đời”. Ở đây và chỉ ớ đây mà thôi, nhãn giới mdi trùng hợp với nhãn giới trong câu tuyên bố của Chúa Giêsu vào dịp lễ Lều trại (7, 38- 39), nghĩa là từ chỗ này mới đến cái thời gian bắt đầu với giờ” của Chúa Giêsu, cái thời gian mà Người sẽ không ngừng được mặc khải nhờ Thánh Thần trong Giáo Hội.
Thành ra nơi thánh Gioan, chúng ta chứng kiến một sự – đào sâu ý nghĩa của ám dụ nước sống. Đầu cuộc đối thoại với người thiếu phụ, nước bí nhiệm kia, đúng theo nghĩa có sẵn trong truyền thống tiền ki tô giáo, chỉ tượng trưng cho lời của Chúa Giêsu, cho sự thật của Người. Nhưng lời đó, sự thật đó, không thể ở ngoài con người: như sự khôn ngoan, nước sống cần phải được người tin sống ” vào (4, 14t ; 7, 37 ; x. Cn 9, 18, bản 70 ; Hc 15, 3) ; chỉ với điều kiện đó nó rưới trớ thành “trong ngươi ấy” (Ga 4.14b) một suối nước vọt-lên. Điều đó muốn nói rõ rằng lời mặc khải của Chúa Giêsu cần phải được thấm nhuần sâu thẳm trong tâm hồn của người môn đồ (5, 38). Và đó chính là hoạt động của Thần khí Sự thật vậy (14, 26).
Như thế, ám dụ nước sống mang một âm hưởng cố chiều kích Giáo Hội, chính diềm này cho ám dụ một tầm quan trọng thật đối với đời sống của Kitô hữu: nước sống mà họ phải uống chính là sự thật của Chúa Giêsu, chính ỉa sứ điệp được lãnh hội trong thần khí, chính là Chúa Giêsu, Đấng tỏ lộ dần dần mầu nhiệm của người qua Tin Mừng cho các kẻ tin để thông ban cho họ sự sống thần linh. Đó cũng là cách chú giải của thánh Thomas. Đối với ngài. nước sống chỉ một trật giáo thuyết của Chúa Giêsu và ơn của Thánh Thần : “Ơn Thánh Thần thật đúng là nước sống” (Super vang. S.Joann. số 577) ; nhưng (Chúa Giêsu cũng) muốn chỉ rằng giáo thuyết của Người là nước tốt lành nhất” (số 585); “nước được hiểu là “trí khôn ngoan có sức cứu rỗi” (số 634).
4. Lần này cũng thế, phản ứng của người thiếu phụ Samari chứng tỏ bà hoàn toàn không hiểu gì: bà xin Chúa Giêsu cho bà thứ nước ấy đè khỏi phải đến giếng múc nước nữa (c.15). Chúa Giêsu không kéo dài vấn đề thêm và đột nhiên hướng câu chuyện qua một lối khác: “Hãy về gọi chồng bà đến đây.” (c.16). Và khi thấy thiếu phụ bảo là không có chồng, Chúa Giêsu bắt bẻ: bà đã có 5 chồng rồi, nhưng bà nói phải, vì người đang sống với bà không phải là chồng bà thật.
Nhiều tác giả nghĩ rằng phải giải thích câu trả lời của Chúa Giêsu như một ẩn dụ: ngươi đàn bà với “năm ông chồng” tượng trưng cho xứ Samari, nơi quy tụ các bộ lạc khác nhau của dân Babylon, mỗi bộ lạc có một vị thần riêng (tiếng hy bá baal, “chủ”, có thể chỉ một vị thần ngoại giáo cũng như chỉ một người chồng). Năm ông chồng nhắc đến việc người Samari tôn thờ 5 thần minh, là những vị thực sự không phải là thần chính thức; người chồng thứ sáu, cũng bất chính thức, có lẽ ám chỉ việc phụng thờ Giavê cách hỗn hợp và sai lầm. Lối chú giải ấy dựa vào 2V 17, 24- 42 là đoạn kể ra 5 bộ lạc Babylon di cư đến Samari, mỗi bộ lạc du nhập vào đó thần tượng của mình. Nhưng lối giải thích này cũng không phải là không gặp khó khăn.
Trước tiên người ta sẽ chất vấn rằng 2V 17, 30- 32.41 kể đến bảy vị thần giả tạo của người Samari chứ không phải là năm để trả lời vấn nạn, các nhà chủ trương lối giải thích ẩn dụ bảo rằng bốn vị thần sau cùng trong số 7 vị kia được liên kết thành từng đôi, nên chỉ còn năm việc phụng tự ngẫu tượng mà thôi. Hơn nữa, chính F.Josèphe, một sử gia đương thời vòi Chúa Giêsu cũng đã hiểu như thế (Ant. Jud. 9, 288).
Dầu vậy, cách giải thích ẩn dụ này, cho dù có thể được, vẫn không có tính cách bắt buộc, vì chứng cớ dựa vào Cựu ước quá yếu. Tác giả Tin Mừng không cho một dấu gì chứng tỏ ông liên tượng đến Cựu tước. Trái lại, lời ám chỉ ở câu 29: Tất cả những gì tôi đã làm” hình như quy về tác phong cụ thể của người thiếu phụ. Hơn nữa ta không hiểu được tại sao một lời ám chỉ khó hiểu đến các thần minh Samari như vậy lại có thể giúp người thiếu phụ nhận ra Chúa Giêsu là một ngôn sứ ; trong lúc đó giả thuyết trái ngược lại có vẻ thật hơn : Chúa Giêsu đã dò thấu tâm can của người đàn bà và đã cho bà biết, như trước đây đã cho Nathanael biết (1, 47- 49), rằng dưới mắt Người bà không phải là một kẻ xa lạ vô danh. Ngẩn ngơ sững sờ, người đàn bà kết luận Chúa Giêsu là một ngôn sứ, một người biết rõ các bí mật trong quá khứ và tương lai (x. 2, 25). Trong khi mặc khải cho thiếu phụ Samari biết đời tư của bà, Chúa Giêsu đã tự mặc khải chính mình. Mục đích của người không phải là đem người đàn bà thống hối trở lại cho bằng là chuẩn bỉ cho bà khám phá mầu nhiệm của chính Người. Đó là chủ đề của những câu tiếp theo.
5. Nhận thấy người đối thoại với mình sáng suốt, thiếu phụ Samari liền nêu ra vấn đề lâu đời chia rẽ người Do thái với người Samari: Phải thờ phượng Thiên Chúa trên núi này hay tại Đền thờ Giêrusalem? đối với người Samari, núi Garizim là núi thánh: sau trận đại hồng thủy, Noê đã dựng ở đó một bàn thờ; cũng chính đấy là nơi mà họ cho là Abraham dâng hy tế; theo sách Ngũ kinh của người Samari (Đnl 27,4-8), thì người Hy bá đã dâng tại đây hy tế đầu tiên của họ, sau khi vào Đất hứa. Đền thờ do người Samari xây trên núi Garizim đã trở nên đối thủ của đền thờ Giêrusalem. Nhưng theo sách Đệ nhị luật (12, 1- 14), thì trong Israel, chỉ có một đền thánh độc nhất mà thôi. Nên câu hỏi do bà Samari đặt ra rất hiện thực: nơi thờ phụng đích thật là nơi nào ?
Chúa Giêsu trả lời với một giọng điệu trịnh trọng: “Này bà, hãy tin Ta …”. Qua câu đó, người không chỉ muốn nói với kẻ đối thoại là hãy tin vào lời Người, song còn gởi đến bà một lời kêu mời đức tin thực sự. Người xin bà tiếp nhận mặc khải mà Người sắp ban cho về việc phụng tự đích thực của thời đại thiên sai: “ Sẽ đến giờ (c.21) … Sẽ đến giờ, và là lúc này đây …” (c.23). Với Người, một thời kỳ đã chấm dứt, một thời kỳ khác bắt đầu : thời mà việc phụng lự gắn liền với ngọn núi đã trôi qua, việc tranh chấp giữa các đền thờ cũng xưa rồi. Từ nay, những kẻ thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Cha trong Thần khí và sự thật ” (c.23).
Từ thời Cải cách (Tin lành), người ta đã lạm dụng kiểu nói này dễ sợ, làm như đó là lột lời kết án mọi việc phụng tự bên ngoài. Nhưng đây không phải là điều mà bản văn Tin Mừng muốn nói. Trong Thần khí “chẳng có nghĩa là một cách thiêng liêng, không cần hình hài ” như các giáo phụ Hy-lạp đôi khi đã tưởng, vì chịu ảnh hưởng của thuyết nhị nguyên Platon; thần khí lại càng không chỉ tinh thần con người hoặc linh hồn nhân loại. Chúa Giêsu chẳng muốn nhấn mạnh ở đây về đặc tính nội tâm của việc cầu nguyện (đó chỉ là cách chú giải tâm lý của trường phái Augustin). Tiếng Pneuma mà người nói đây là Thần khí của Thiên Chúa (x.câu 24), Thần khí là một lời cầu do Thánh Thần gợi hứng trong tâm hồn tín hữu (x.Rm 8, 26- 27). Các nhà chú giải Tin Mừng thứ 4 thời Trung cổ dã không nhầm lẫn về điểm này, chẳng hạn như J.Scot Erigène: “Những ai được Thánh Thần soi sáng, sẽ thờ phụng trong Thần khí” (Pl 122, 339a).
Phần thứ hai của công thức trên cũng thường bị xuyên tạc ý nghĩa còn hơn phần thứ nhất nữa. Nhiều người cho đó là một trạng từ có ý nghĩa tĩnh từ như trong các sinh ngữ hiện đại: việc thờ phượng “trong Sự thật” là việc thờ phượng “đích thật”. Nhiều kẻ khác, nhất là các giáo phụ, thì cho sự thật” chính là thực tại của phụng tự Kitô giáo, đối nghịch với các tiền- trưng của nó trong Lề luật cũ. Nhưng đối với thánh Gioan thì từ ngữ “sự thật” chẳng có nghĩa là thực tại”, song chỉ sự mặc khải thời thiên sai, thứ mặc khải đồng hóa với sứ điệp là con người Chúa Giêsu (14, 6 ; x. de la Poterie, “Je suis la voi, la Vérité ét la Vie”, Nouvelle Revue Théologique 88 (1966) tr. 907- 942). Dưới tác động của thần khí, sự thật của Chúa Ki-tô hiện diện là sinh hoạt trung tâm hồn người tín hữu (2 Ga 2) : sự thật trở thành nguồn mạch bí mật của đời sống Kitô hữu: nó gợi hứng cho việc thực thi bác ái (lửa 3,18-19 ; 2 Ga 1- 2), cho ước muốn nên thánh (Ga 17, 17-19), cho việc thờ phượng Chúa Cha (4, 22- 23). Phần cuối của cuộc đối thoại, như thế, gắn liền với phần đầu: “Thần khí và Sự thật” không gì khác hơn là nước sống mà Chúa Giêsu đề cập trước đó.Việc phượng thờ của thời đại thiên sai được khơi nguồn và được nuôi dưỡng bằng mặc khải của Chúa Kitô dưới tác động của Thần khí Sự thật: việc thờ phượng Chúa Cha ấy, ngọn lửa của lời kinh ấy, vọt lên một cách tự nhiên từ mọi tâm hồn Kitô hữu, nơi có Sự thật bừng cháy.
Thành ra chủ đề do thiếu phụ Samari nêu lên ở câu 20 không bị bỏ rơi: vấn đề luôn xoay quanh nơi chốn của việc phụng tự đích thật. Nhưng Chúa Giêsu mặc khải cho thiếu phụ Samari biết rằng vào thời thiên sai, nơi ấy sẽ có tính cách thiêng liêng: dưới tác động của Thánh Thần, từ nay phải cầu nguyện Chúa Cha “trong sự thật” nghĩa là trong chính Chúa Giêsu. (Người ta thường chú trọng đến chữ “trong Thần khí”, nhưng theo cách dùng của gian, khi nào hai thành ngữ được nối ghép vào nhau bởi liên tự “và”, thì thành ngữ thứ hai quan trọng hơn; chẳng hạn như 20, 8 : “ông thấy và ông tin”. Việc thờ phượng Chúa Cha được thực hiện “trong Thần khí”, dưới sự linh ứng của Ngài, và “trong sự thật”? trong sự hiệp thông với Chúa Giêsu. Sự kết hiệp ấy với Chúa Kitô tạo thành không gian bên trong của lời cầu nguyện Kitô giáo; lời cầu nguyện được thực hành “in Christo”; Chúa Giêsu là Đền thờ mới, từ nay sẽ thay thế Đền thờ trên núi Garizim lẫn đền thánh Giêrusalem. Ngoài ra, việc cầu nguyện này còn mang chiều kích Ba Ngôi: được linh ứng, do Thần khí Sự thật, nó được thực hành trong sự thông hiệp với Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, và dâng lên Chúa Cha. Đó là lời cầu có tính cách hiếu thảo nhất, lời cầu đặc biệt của con cái Thiên Chúa.
Thiếu phụ Sychar chả hiểu gì mấy về tất cả diễn từ này tôi biết rằng Đấng Messia, lức là Chúa Ki-tô, sẽ đến; khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự ” (c.25). Dù không bắt được ý nghĩa các câu nói của người đối thoại với mình, bà ta cũng đã bắt đầu quan tâm đến các vấn đề tôn giáo; hy vọng của bà bây giờ hướng về Đấng Messia, như hướng về một người sẽ mang lại ánh sáng mặc khải giải phóng. Không cần đợi gì hơn nữa, Chúa Giêsu giờ có thể nói với bà lời tuyên bố quyết định: “Chính Ta đây, người đang nói với người”. Sứ điệp ánh sáng, mà thiếu phụ Samari mong đợi, được ban cho bà cách đột ngột: Giêsu Messia tỏ mình cho bà ; thời gian đã hoàn tất ; giờ thờ phượng Chúa Cha trong Thần khí và Sự thật” đã đến.
6. Sau khi người thiếu phụ đi về thành, các môn đồ liền bắt chuyện với Thầy. Họ trình cho Người thực phẩm kiếm được và giục Người ăn (31). Ở câu sau (35) khi ám chỉ đến các cánh đồng mà họ vừa băng qua để trớ lại bên bờ giếng, các môn đồ sẽ nói về mùa gặt sắp đến. Mấy lời bày tỏ có tính chất thường tình ấy trở nên cơ hội để Chúa Giêsu nâng cao bình diện của diễn từ và hướng cái nhìn của các môn đồ về thời gian sắp đến.
Ta gặp lại ở đây, với một chút thay đổi, cái phương pháp hành văn đã đề cập lúc đầu, là xen kẽ mặc khải của Chúa Giêsu với những ngộ nhận của con người. Đó là lược đồ hai thì của việc mặc khải: mặc khải lần thứ nhất (bí nhịệm) – ngộ nhận – mặc khải lần thứ hai rõ rệt).
Để bắt đầu cuộc đàm thoại với thiếu phụ Samari, Chúa Giêsu đã xin nước uống. Đó là dịp để Người hứa ban cho thiếu phụ ơn nước sống (c. 10). ở đây thì trái lại, chính các môn đồ khơi mào cuộc đối thoa.i: “Rabbi, mời Thầy ăn”. Chúa Giêsu trả lời một cách khó hiểu: “Có thứ lương thực Thầy phải ăn mà các con không biết”.
Theo truyền thống các sách Khôn ngoan, bánh, cũng như nước và rượu, là biểu tượng cho ân huệ của Đức Khôn ngoan và của Lề luật. Đức Khôn ngoan mời con người đến dự tiệc như sau: “Hãy đến, hãy ăn bánh và uống rượu mà ta đã dọn” (Cn 9,5); Đức Khôn ngoan “cho con người ăn bánh tinh khôn” (Hc 15, 3 ; 24, 21). Nhưng sự khôn ngoan theo người Do thái không chỉ là lý thuyết, mà còn quy hướng về hành động và phải biến đổi đời sống. Thành ra, ta hiểu được rằng Chúa Giêsu. Ở đây muốn lấy ám dụ lương thực áp dụng vào việc chu toàn sứ mạng của người: “Lương thực của Ta, là làm theo ý Đấng đã sai Ta và chu toàn công việc của Ngài” (c.34). Hai phần của câu trả lời này không phải đồng nghĩa đầu ; phần thứ hai nói lên nhiều hơn phần thật nhất.
Chúa Giêsu từ trời xuống dể thực hiện thành ý của Đấng đã sai Người (6,38). Người hằng “tìm kiếm” thánh ý của Thiên Chúa (5,30) như tìm kiếm lương thực mà Người không thể nào bỏ qua; tương tự như thế, người chỉ tìm kiếm vinh quang của Đấng đã sai Người (7, 18 ; 8, 50). Động từ “tìm kiếm” và ám dụ lương thực này nói lên khía cạnh cơ bản trong cuộc đời của Chúa Giêsu, cho thấy động lực thâm sâu thúc đẩy mọi hoạt động của Người. Thành ra không phải là không mỉa mai mà tác giả Tin Mừng đã ghi chép câu 27: Sau khi nhận xét rằng các môn đồ ngạc nhiên vì thấy Chúa Giêsu nói chuyện với một người đàn bà, tác giả ghi tiếp: “Tuy vậy không có ai nói “Thầy tìm gì” hay “nói gì với bà ấy”. Tính cách lạ lùng của câu hỏi thứ nhất (ti zêteis) đã làm cho nhiều dịch giả bối rối, khiến họ thường dịch là : “Thầy xin gì” hay “Thầy muốn gì nơi bà ấy? ” … Nhưng thánh Gioan đâu quan tâm đến điều Chúa Giêsu chờ đợi nơi người đàn bà, ông chỉ muốn cho chúng ta tự hỏi Chúa Giêsu. Tìm kiếm gì khi nói chuyện với bà ấy thôi; nên phải cùng với TOB dịch từng chứ như thế này: “Thầy tìm gì?”. Đó là câu hỏi thiết yếu, song lại chẳng có môn đồ nào đặt ra với Chúa Giêsu. Họ không hiểu được điều Chúa Giêsu tìm kiếm thật sự. Bằng câu chuyển mạch đó, Gioan đã khéo léo nối kết cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu cùng thiếu phụ Samari với cuộc đối thoại cùng các môn đồ. Ý nghĩa thâm sâu của câu chuyện thứ nhất nằm trong câu chuyện thứ hai: khi đàm đạo với thiếu phụ Sychar, bất chấp dư luận bàn tán, Chúa Giêsu đã thực thi ý muốn của Cha, đã tìm cách chu toàn công việc của Ngài vậy.
Chúa Giêsu thường nói về các “công việc” Người phải hoàn thành; khi hạn từ được dùng ở số ít (c.34), thì nó chỉ toàn thể hoạt động của Chúa Giêsu, toàn thể công việc mặc khải và cứu rỗi: công việc này là của Chúa Cha; vì thế, nó nói lên sự hiệp nhất giữa Chúa Giê-su với Cha Người (10, 38). Việc đề cập đến “công việc ” chỉ gặp lại trong !ời nguyện tế hiến, trong bối cảnh trực tiếp của “Giờ “: “Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm” (17,4). Trong 4,34, khi nói với các môn đồ về công việc của Thiên Chúa mà Người muốn hoàn tất, Chúa Giêsu đã mở một viễn tượng về Giờ Khổ nạn Phục sinh và về thời gian của Giáo Hội.
Ga 4,34 là một trong những bản văn chủ chốt của Tin Mừng 4 bàn về sự vâng phục hoàn toàn của Chúa Giêsu đối với Đấng đã sai Người. Chúa Giêsu chẳng có gì là của riêng mình: người chỉ là kẻ Thiên Chúa sai đến; tư tưởng, và dự phóng của Người là tư tưởng và dự phóng của Chúa Cha; các lời người thông truyền không phải của người, song là lời ‘ Chúa Cha (3, 34 ; 7, 16 ; 8, 26. 38. 40 ; 14, 10. 24 ; 17, 8. 14). Người không hoàn tất các công việc của Người, nhưng của Chúa Cha (5,17. 19- 20. 30, 36 ; 8, 28 ; 10, 25. 37; 14, 10 ; 17, 4), Người chẳng thi hành ý muốn riêng tư, song ý của Đấng đã sai mình (4, 34 ; 5, 30 ; 6, 38). Sự khuất phục triệt để như thế cho thấy phần nào mầu nhiệm của Chúa Giêsu. Dĩ nhiên sự vâng phục ấy là của con người Giêsu. Nhưng như Origène và thánh Cyriile thành Alexandrie đã hiểu đúng, sự hiệp nhất tuyệt diệu giữa ý muốn của Chúa Giêsu vì Chúa Cha cuối cùng chỉ có thể giải thích là vì Người là Con của Thiên Chúa và đồng bản thể với Chúa Cha. Theo Origène, sở dĩ ý muốn của Chúa Cha là lương thực đích thực đối với Chúa Giê-su, là vì Người đã lấy ý muốn của Thiên Chúa làm của mình đến nỗi kể như không còn ý muốn riêng nữa: sự hiệp nhất hoàn hảo giữa ý muốn nhân loại của Chúa Giêsu với ý muốn của Thiên Chúa tỏ lộ một sự hiệp nhất sâu xa hơn : hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, vì ý muốn của Chúa Con và ý muốn của Chúa Cha là một; bởi thế nên Người có thể bảo: “Cha và Ta, Chúng Ta là một” (10, 30) (PG 14, 460.1). Thánh Cyrille còn nói mạnh dạn hơn: “Chúa Con là ý muốn sống động và có bản thể của Chúa Cha” (PG 73, 324c).
Nhưng khi nhấn mạnh ước muốn chu toàn công việc của Đấng đã sai Người, Chúa Giêsu đi vào phần cuối của bài diễn từ và hướng lòng trí các môn đồ về sứ mạng Kitô hữu.
7. Các câu tiếp theo (35-38) có phần nào tối nghĩa và đã gây ra nhiều lối giải thích khác nhau. Phải chăng Chúa Giêsu trích hai lần (c.35a và 37b) một câu tục ngữ, hay là Người chỉ nhắc lại một câu nói của các môn đồ, ít nhất trong trường hợp thứ nhất? Người muốn ám chỉ ai khi nói đến kẻ gieo (36c) người gặt (37b), khi nói đến “những kẻ khác” đã vất vả khó nhọc trước lúc các môn đồ thừa hưởng hoa quả do công lao của họ ? (38c). Chắc chắn phải bảo “người gieo” của câu 36 với “người gieo” của câu 37 là một. Về điểm này cũng như các điểm khác, chúng ta sẽ làm nổi bật sự nhất thống sâu xa của bốn câu văn, nhưng chúng ta cũng sẽ minh chứng rằng công việc Chúa Giêsu chu toàn được mô tả ở đây trong viễn ảnh việc tông đồ mà các môn đồ sẽ phải hoàn tất khi đến phiên họ.
“Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt” (35). Người ta đôi lúc giát thích lời này như một câu tục ngữ nông thôn (Bốn tháng có qua, mùa màng mới đến). Nhưng câu dẫn nhập trước đó (“Các người lại chẳng nói thế này sao gần giống như câu dẫn nhập vào cc. 31 và 33 (“môn đồ nói nằng với Người mà rằng”, các môn đồ mới nói”), cho phép ta giả thiết rằng các tiếng báo trước như thế có một phận vụ giống nhau trong cuộc đối thoại. Điều Gioan muốn ở đây, không phải là trích dẫn một câu ngạn ngữ quen thuộc (mà chẳng đâu khác nói đến), song là ghi lại một nhận định riêng của chính các môn đồ, để làm sáng tỏ thêm một lần nữa óc chậm hiểu của các ông. Phải bốn tháng nữa mới tới mùa gặt” các ông nhìn những cánh đồng xung quanh và nói như thế. Nhưng Chúa Giêsu đã dùng một công thức Kinh Thánh cổ xưa để mở đầu câu trả lời của mình : “Hãy ngước mắt lên mà nhìn”. Trong Cựu ước, đó là tiếng mời gọi chiêm ngắm sự cao cả của Thiên Chúa (Is 40, 26), sự phổ quát của những lời hứa cho Abraham (St 13, 14) và nhất là sự quy tụ các dân nước (Is 49,18 ; 60, 4 ; Br 5, 5- 6).
Trong Ga 4, 35, việc áp dụng các tiếng này thật rõ ràng. Chúa Giêsu đặt mình ngay vào bình diện thiêng liêng. Trái ngược với điều các môn đồ nghĩ, ngay bây giờ đồng lúa đã chín vàng chờ gặt rồi : dân thành Samari, đang tới gần và trong chốc lát sẽ tin vào Người (41), là những hoa quả đầu tiên của mùa gặt thiên sai đối với Chúa Giêsu; việc muôn dân nước quy tụ mà các ngôn sứ tiên báo đã bắt đầu thực hiện với họ. Trong Thánh Kinh, mùa gặt có hai nghĩa: nói thì chén lúa chí sự phán xét của Thiên Chúa; chỗ khác mùa gặt tượng trưng, niềm vui ơn cứu độ (Is 9, 2 ; Am 9, 13 ; Tv 126, 5), sự trở về của những người tản mác tha hương (Is 27, 12- 13) và trong Tân ước, tượng trưng cho hoa quả của việc truyền giáo (Mt 9, 37). Đó là trường hợp nêu ra ở đây: Chúa Giêsu gợi lên niềm vui của thợ gặt, phần thưởng của họ, hạt lúa mà họ thâu lượm cho sự sống đời đời. Thường thường là vậy trong Tin Mừng Gioan, các thực tại thời cánh chung được xảy ra trước trong sứ vụ của Chúa Giêsu.
Ta tự hỏi ở đây người gieo và kẻ gặt tượng nựng cho ai? Phải chăng họ chỉ là những yếu tố mô tả dùng để khai triển đề tài mùa gặt? Khuynh hướng dừng biểu tượng của Tin Mừng thứ tư mời gọi chúng ta nên hiểu kẻ gieo người gặt theo nghĩa ám dụ; việc chú giải cũng phái lưu ý đến cái nguyên tắc được nhắc lại ở câu 37 trong ngạn ngữ: “Kẻ gieo khác, người gặt khác”. Kẻ gieo không chỉ những người đi trước Chúa Giêsu (các ngôn sứ hay Gioan Tẩy giả), cũng chẳng chỉ Chúa Cha, nhưng chỉ chính Chúa Giêsu mà lời nói, theo Tin mừng, là một hạt giống (Lc 8, 11) ; thực vậy, cuộc đàm thoại với thiếu phụ Samari đã mang lại những hoa trái đầu tiên. Do đó, hình ảnh người gặt chỉ có thể áp dụng cho các môn đồ; mặc dầu chưa sai họ đi truyền giáo, nhưng Chúa Giêsu đã thấy việc rao giảng của Người được nối tiếp trong việc rao giảng của họ (x. câu 38): “Kẻ .gieo cùng người gặt đều hoan hỉ” (c.36): ngay từ bây giờ, Chúa Giêsu và các môn đồ đều vui sướng nhìn hoa quả của công việc truyền giáo.
“Ta sai các ngươi đi gặt nơi các ngươi đã chẳng vất vả làm ra” (c.38). Tin Mừng thứ 4 không hề nói đến một cuộc truyền giáo nào của các môn đồ khi Chúa Giêsu còn tại thế cả: việc sai đi truyền giáo chỉ xảy ra vào ngày Phục sinh (20,21). Thành ra, để có thể hiểu 4,38, phải cùng với tác giả đặt mình trong quan điểm của việc rao giảng thời đầu Giáo Hội: các người truyền giáo phải luôn nhớ rằng mình đã được Chúa Kitô sai đi. Họ se gặt nơi “họ không vất vả làm ra”. Ở đây cũng còn phải coi nhứ một lời ám chỉ đến công việc của Chúa Giêsu. Vẫn biết động từ “làm vất vả” (kopiân) thường diễn tả công việc tông đồ khó nhọc, nhất là trong khung cảnh truyền giáo của thánh Phaolô (1Cr 15, 10 ; 16, 16 ; Gl 4,11 ; Pl 2, 16 ; Cl 1, 29 ; 1Tm 5, 17), và Gioan cũng áp dụng động từ này cho các môn đồ (với thể phủ quyết ở câu 38: ou kekopiakate). nhưng lúc đầu câu chuyện, ông đã áp dụng động từ cho Chúa Giêsu: người mệt mỏi (kekopiakos) vì đường sá (c.6). Ta có thể nghĩ rằng, đối với tác giả, đó là người “mệt mỏi” vì gieo hạt. Công khó của Chúa Giêsu đưa người đến thánh giá, sẽ mang lại hoa quả trong sứ vụ của các môn đồ; cái chết của Người là hạt giống (12, 24. 32- 33) ; nhưng các môn đồ sẽ cảm nếm niềm vui của mùa gặt.
Ở cuối câu 38, việc đồng hóa các nhân vật trở nên rắc rối, vì chủ từ của động từ là số nhiều: “Những người khác đã vất vả rồi, còn các ngt~i dã đến tht~a hướng công lao của họ”. Những người khác” này không thể hiểu là một mình Chúa Giêsu được. Theo cách chú giải thông thường của các tác giả xưa thì từ ngữ chỉ những người đi trước Chúa Giêsu: các Tổ phụ và các ngôn sứ; một vài kẻ lại cho là Gioan tẩy giả và môn đồ của ông. Nhưng sự song đối giữa “gieo” và “vất vả làm ra” không cho phép chúng ta nghĩ đến một thời đại trước Chúa Giêsu. Bản văn làm nổi bật nét tương phản giữa việc rao giảng đầu tiên (“gieo” “vất vả”) và sự phong phú hoa quả trong Giáo Hội (“gặt”). Chúa Giêsu là người đầu tiên giữa “những kẻ khác” này, nghĩa là người đầu tiên trong các người thợ đã vất vả khó nhọc để rao giảng Lời. Nhưng viễn ảnh mở rộng ra ngay lập tức, như cách thay đổi thì của các động từ cho thấy: từ việc rao giảng của Chúa Giêsu (xem cuộc đối thoại với thiếu phụ Samari), tất cả chú ý đều chuyển qua sứ mệnh truyền giáo của Kitô hữu. Có lẽ Gioan liên tưởng đến sứ vụ truyền giáo đầu tiên tại Samari, có kể lại trong sách Công vụ (8,4- 17) : tại đây Tin Mừng được rao giảng trước tiên do những người Do thái hy hóa, nhất là do Philipphê, nhưng ơn Thần khí chỉ được ban cho người Samari do các sứ đồ Phêrô và Gioan những kẻ khác từng vất vả trước các sứ đồ là tất cả những ai đã rao truyền Tin Mừng trước họ, đầu tiên là chính Chúa Giêsu, và sau Người là các nhà rao giảng Tin Mừng tiên khởi. Bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã xây nền móng cho sứ vụ truyền giáo của Kitô hữu vậy.
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Người phải băng qua Samari”. Lộ trình ngắn nhất và dễ nhận từ Giuđê đến Galilê chạy ngang qua miền Samari. Edei, “Người phải “, diễn tả một sự bắt buộc hay một sự tiện lợi về địa dư ? ‘Động từ dei, trong Tin Mừng Gioan (3, 7.14. 30 ; 4, 20. 24 ; 9, 4 ; 10, 16 ; 12, 34 …) cũng như trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 8, 31 ; 9, 11) thường có nghĩa một sự bắt buộc phát xuất từ ý định cứu rỗi của Thiên Chúa. Có thể bảo edei vừa xác định thêm chi tiết địa dư, vừa đặc biệt ám chỉ rằng Thiên Chúa muốn có câu chuyện này xảy ra ở Samari để mặc khải tính cách phổ quát của ơn cứu độ do Con Ngài mang đến.
“Lúc ấy chừng giờ thứ sáu”. Những lối xác định thời gian loại đó ta còn gặp thấy trong 1, 39 ; 4, 52 và 19, 14. Trong 19, 14, cũng một thành ngữ như ở đây tái hiện trong bối cảnh vụ xử án Chúa Giêsu: có thể Gioan đã muốn dùng cùng một cách nói như vậy để ngụ ý là tính cách phổ quát của ơn cứu rỗi, được tỏ lộ trong câu chuyện hôm nay, tùy thuộc vào cái chết cứu chuộc của Chúa Kitô.
“Cho tôi uống với”: Như trong mọi trình thuật của Gioan, chính Chúa Giêsu là người khởi xướng. Lời xin của Người có vẻ tự nhiên, vì lúc đó là buổi trưa, sau khi đi đường xa mệt mỏi. Nhưng đối với độc giả của Gioan, thì một lời xin như thế có vẻ lạ thường, vì người xin uống nước là chính người phải ban cho nước sống dư tràn.
“Trong Thần khí và sự thật”. Một lối chú giải rất được phổ biến cho đây là lời ám chỉ việc phụng tự thiêng liêng, nội tâm, loại bỏ mọi hy tế và mọi nơi thờ phượng.. Việc phụng tự hoàn toàn nội tâm này được khơi nguồn do sự hiểu biết đích thực về Thiên Chúa và do lòng sùng kính thành thật đối với chân lý. Song một lối giải thích như vậy vẫn còn thiếu sót, vì không lưu ý tới tính cách mới mẻ của việc phụng tự do Chúa Kitô thiết lập. Thật vậy, các ngôn sứ đã đòi hỏi việc phụng tự nội tâm nhiều lần rồi (Am 5, 20- 26 ; Is 1, 11- 20 ; 29, 13 ; Tv 50, 7- 23; 51, 18tt). Vào thời Chúa Giêsu, người Do thái cũng như dân ngoại đều biết rằng phụng tự nội tâm trồi vượt phụng tự bên ngoài. Việc phụng tự mới được Chúa Kitô trình bày ở đây không thể chỉ là lặp lại lý tưởng các ngôn sứ rao giảng; nó phải được đặt vào trong bối cảnh chung của khởi điểm mới trong Chúa Kitô. Việc phụng tự Chúa Cha đích thực phải đáp ứng với địa vị mới của người tín hữu là được trở thành con Thiên Chúa: “Những kẻ thờ phượng đích thật” là những kẻ “sinh bởi Thiên Chúa” (1, 13) bằng nước và Thần khí (3, 5) và được hiến thánh nhờ sự thật (17, 17. 19). Thành ra việc phụng tự mới là việc phụng tự khơi nguồn bởi nguyên lý sự sống của các Kitô hữu. Đây là phụng tự trong sự thật”, vì được thành hình do mặc khải vẹn toàn của Chúa Giêsu.
“Thiên Chúa là Thần khí”. Xác quyết này là một trong ba xác quyết quan trọng của Gioan về Thiên Chúa (“Thiên Chúa là ánh sáng ” 1Ga 1, 5 ; “‘Thiên Chúa là Tình yêu” 1Ga 4, 8- 16). Nó có vẻ như là một định nghĩa về Ngài. Nó gần giống như phản ứng của các người Do thái hy hóa và các triết gia ngoại giáo chống lại những lối trình bày nhân hình về Thiên Chúa. Với lại ta không thấy một giáo huấn nào tương tự trong Cựu ước cả. Vì vậy có kẻ nghĩ rằng lời xác quyết của Gioan ở đây mang nguồn gốc Hy lạp. Tuy nhiên, không nên giả thiết một sự vay mượn như thề vì giáo thuyết của Gioan về Thần khí nối dài giáo thuyết của Cựu ước, theo đó thì Thần khí không phải là cách hiện hữu đối nghịch với vật chất, nhưng là hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa nhằm phát sinh sự sống. Đó cũng là ý nghĩa cơ bản mà ta thường gặp nơi Gioan (3, 5-8 ; 6, 63 ; 7, 38 ; 14, 17- 19). Thành ra phải kết luận rằng ớ đây Gioan không có ý chống lại những cái nhìn vật chất, như nhìn về Thiên Chúa, song chỉ muốn xác nhận quyền năng đáng tạo sự sống của Ngài.
KẾT LUẬN
Qua việc dùng các tước hiệu khác nhau, những tước hiệu mời gọi niềm tin dần dần, trang sách này của thánh Gioan đã mặc khải một khía cạnh cơ bản trong mầu nhiệm Chúa Giêsu. Lúc đầu, Người chỉ là một lữ khách vô danh. Sau đó, thiếu phụ Samari khám phá ra Người là một người Do thái (c 9). Khi nghe lời hứa kỳ lạ về một thứ nước sống, bà hỏi Người: “Dễ chừng Ngài lại lớn hơn Giacóp cha chúng tôi sao?” (c. 12). Lúc nhìn thấy là Người đã thấu rõ bí mật đời tư của mình, bà mới nhận ra Người là một ngôn sứ (c. 19). Sau cùng, khi Chúa Giêsu đã mặc khải cách hoàn toàn rồi, bà phỏng đoán Người có lẽ là Đấng Kitô (c.29). Nhưng chính dân thành Samari, hoa quả đầu mùa của các dân tộc, mới tuyên xưng đức tin của họ vào Chúa Giêsu “Đấng Cứu Thế” (c.42). Từ đầu đến
cuối, việc mặc khải vẫn nằm trong viễn ảnh lịch sử cứu độ. Các chương Tin Mừng khác mặc khải Chúa Giêsu là Đáng Thiên Chúa sai đến và là Con Chúa Cha. “ki tô ” và “Con Thiên Chúa” là hai tước hiệu căn bản của bản tuyên tín theo thánh Gioan (20, 31). Còn “Đấng Cứu Thế” là tước hiệu tổng hợp: Kẻ đã đến như ánh sáng trần gian (8, 12; 12, 46), như Người mặc khải, như Đấng Kitô, là chính Con Một được Thiên Chúa sai đến để cứu rỗi thế gian và cho mọi người có sự sống vĩnh cửu trong mình (3, 16- 18) .
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Chúa Giêsu khai mào câu chuyện với thiếu phụ Samari bằng cách khêu gợi tính tò mò của bà. Người tự đặt mình vào thực tế tầm thường của đời sống thường nhật, vào hoàn cảnh của kẻ phải mệt mỏi kín nước đều đều, để rồi làm cho bà cảm thấy không phải chỉ cần có thứ nước ấy mới sống được, không phải chỉ có những thực tại vật chất là đáng kể trong đời sống. Hôm nay đây, Chúa còn hiện diện trong cuộc sống thường ngày của ta. Ta có biết nhận ra Người chăng ? Có chấp nhận đối thoại với Người ? Có đồng ý là không phải chỉ những thực tại vật chất mới đáng kể trong đời sống của ta Có cố gắng để đừng bị vật chất chi phối chăng? Vì không chỉ có thứ nước tự nhiên mà thôi, song còn thứ nước siêu nhiên vọt đến sự sống vĩnh cửu. Cuộc đời của ta còn phải được nuôi dưỡng bằng việc cầu nguyện và tôn thờ Thiên Chúa.
2. “Ai uống nước giiếng này, sẽ còn khát lại” (c. 13). Nước này không giải khát thật sự, nó vừa tạm thời xoa dịu cơn khát, vừa duy trì và kích thích cơn khát. Ai lại không biết cái chu kỳ quỷ quái của dục vọng, luôn luôn tái phát, chẳng bao giờ nó thỏa; ai mà không cảm thấy các nhu cầu được thỏa mãn cứ trào lên vô tận, thúc đẩy mình hưởng thụ cách nào đó: càng khát, lại càng uống, càng uống lại càng khát ! Và luôn luôn theo lối lý luận ích kỷ ấy mà người thiếu phụ Samari đón nghe những lại của Chúa Giêsu về nước sống và tìm cách lợi dụng cơ hội: xin Ngài ban cho tôi thứ nước ấy để tôi hết khát và khỏi đến cây múc nước” (c.15). Một ngộ nhận như thế cũng gặp thấy nơi người Do thái trong diễn từ Bánh sự sống: thưa Ngài, hãy luôn luôn cho chúng tôi bánh ấy” (6, 34). Theo bản năng tự nhiên, ta có khuynh hướng muốn chụp lấy ơn Thiên Chúa như một thứ bảo hiểm sinh mạng khả dĩ miễn cho mình lăn lộn với đời, như một số vốn mang lại nhiều lợi giúp mình mãi mãi an cư, muốn thứ bánh, thứ nước Ngài ban cho ấy trở thành kho vô tận, dùng mãi không bao giờ cạn. Nhưng ơn Thiên Chúa đâu có muốn giản lược ta vào trong sự thỏa mãn cái tính cách dinh dưỡng đó: “Ai uống nước Ta sẽ ban, thì đời đời sẽ không khát nữa” Chúa Giêsu bảo vậy (c.14). người không giữ nước ấy trong một bình đóng kín, bưng bít một cách ích kỷ . Trái lại, nước Ta sẽ ban cho nó sẽ trở nên trong nó một suối nước vọt đến sự sống đời đời” (c.14). Nước sống ấy có sức giải khát vì, vượt ra ngoài-bản năng bảo tồn, nó làm phát sinh trong ta chính nguồn sống, và dạy chúng ta rằng sống chính là trao ban, là chia sẻ không tính toán, là phun trào ra mà không giữ lại.
3. Cuộc đối thoại chuyển qua hướng mới với mệnh lệnh của Chúa Giêsu : “Hãy đi gọi chồng bà …”. Để cho thiếu phụ Samari hiểu và đón nhận ơn Thiên Chúa, Chúa Giêsu đột ngột đề cập đến bí mật đời tư của bà. Trong lãnh vực này, cơn khát của người đàn bà, cơn khát tình yêu, cũng chẳng được thỏa mãn; thiếu phụ đã có năm đời chồng và người đang sống với bà hiện giờ không phải là chồng đích thực (c. 18). Giống như nước mà bà phải đến múc uống luôn song chẳng đã khát, những nỗ lực tình yêu liên tiếp của bà đã làm bà thất vọng và đẩy bà vào nỗi cô đơn. Mục đích của Chúa Giêsu không phải là đem người thiếu phụ trở về thái độ sám hối song là cho bà thấy, như đã cho Nathanael thấy (1, 47- 50). Người thông suốt lạ lùng, là khiến bà cúi đầu trước uy nhan của vị Ngôn sứ và từ đó chuẩn bị cho bà lãnh hội mặc khải của Thần khí. Thực vậy, không một tiếng quở trách, không một lời khuyến khích nào trên môi miệng Chúa Giêsu; không một tâm trạng tội lỗi, không một giọng thống hối nơi người đàn bà; nhưng chỉ có một lời khen ngợi đầy vẻ ngạc nhiên: thưa Ngài, tôi thấy Ngài là một ngôn sứ (c.19), và sau đó, trong câu nói với dân làng: một người đã bảo cho tôi biết mọi sự tôi đã làm (c. 9). Nếu có chuyện tội chăng nữa, thì vấn đề không phải chỗ đó, hoặc hình như bị gác ngay qua một bên. Với ánh mắt nhân từ và sáng suốt, Chúa Giêsu cũng mời gọi ta hãy nhìn thăng mình không chút tự mãn song cũng chẳng chút xấu hổ, cay đắng và thất vọng. Đặc biệt Người muốn dẫn đưa ta đến chỗ nhìn nhận Người là vị “Ngôn sứ Thiên Chúa sai đến, là Đấng mặc khản về bản tính nhân loại đích thực của ta, là Đấng giúp ta khám phá ý nghĩa và không chiều kích của cơn đói khát trong ta, là Đấng tố cáo những mưu kế mà ta dùng để đánh lừa hoặc thỏa mãn cơn khát ấy một cách rẻ tiền. là Đấng dạy cho ta biết sống và trào dâng nước sống của ơn Chúa.
Giáo Hoàng Học Viện
