HIẾN CHẾ TÍN LÝ VỀ MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA (Dei Verbum)
Lời giới thiệu
1. Lịch sử bản văn
Hiến chế này là một trong những văn kiện quan trọng nhất của Công Đồng Vaticanô II, về phương diện giáo : thật vậy, chính trong khi bàn cãi về Lược Đồ này các Nghị Phụ đã nhận thức được sự phân chia khuynh hướng thần học giữa các Ngài. Lược Đồ về mạc khải nằm ở đầu quyển sách mà Ủy Ban Trung Ương đã xuất bản năm 1962, 1 và như vậy người ta tưởng sẽ được bàn cãi về Phụng vụ trước tiên vì các Nghị Phụ đễ đồng ý về vấn đề này hơn.
Bản văn trình bày trong quyển sách thật ra là bản thứ năm mà Ủy Ban và các Nghị Phụ đã soạn thảo. Ngày 12-7-1962, Đức Gioan XXIII truyền lệnh gởi cho các Nghị Phụ bàn cãi loạt Lược đồ thứ nhất. Trong số đó có Lược đồ này bàn cãi ngày 14 đến 21 tháng 11 năm 1962. Chính trong các cuộc bàn cãi này mà công đồng Vaticanô II đã tự chia ra phe “đa số” và “thiểu số” theo luồng tư tưởng và theo lối diễn tả thần học của các Nghị Phụ. Từ đó các khuynh hướng khác biệt này chi phối tất cả công việc của Công Đồng.
Trong diễn văn khai mạc ngày 10-11. Đức Giáo Hoàng đã nói : “Bản chất của giáo thuyết cổ truyền chứa trong kho tàng đức tin là một chuyện, còn việc định thức bản chất lại là chuyện khác, vì việc định thức căn cứ trên những hình thức và sự tương xứng với những nhu cầu giáo huấn, nhất là về mục vụ”. Sự phân biệt giữa “bản chất” và “định thức” sẽ giữ một vai trò quan trọng trong cuộc bản cãi lược đồ này. Lược đồ được các Đức Hồng Y Ollaviani, Ruffini, Siri, V,V.. bênh vực và bị các Hồng Y Líenari, Frings,. Kết án, còn các Đức Hồng Y Bea, Léger, Tisserant.. thì chỉ trích. Người ta cho rằng cách nói quá kinh viện, lối hành văn phản mục vụ, phản Kinh thánh và phản Hiệp Nhất. Chủ tịch đoàn Công Đồng quyết định bỏ thăm bản văn (20-11-1962) và bản văn bị bỏ với 1368 phiếu chống, 822 phiếu thuận và 19 phiếu bất hợp lệ. Buổi họp trải dài qua nhiều giờ lộn sộn vì chưa đủ đả số 2/3 để loại bỏ một lược đồ( cần phải 1473 phiếu mới đủ 2/3). Nhưng có nên chấp nhận một lược đồ bị một đa số như trên loạai bỏ không? Khi ấy Đức Gioan XXIII đích thân can thiệp : Ngài quyết định trao trả lược đồ cho một Ủy ban hỗn hợp do Đức Giáo Hoàng chỉ định gồm 7 Hồng Y với các thành phần của Ủy Ban Thần Học và của Văn Phòng Hiệp Nhất Kitô giáo.
Ủy Ban này khởi công bằng việc đồng ý về nhiều điểm quan trọng như bò tựa đề “về hai nguồn..” (vì nó sẽ gây ra nhiều hiểu lầm), và đặt tựa đề cho chương I : “Về lời Chúa được mạc khải..” (như thế nó tổng quát và dễ chấp nhận hơn). Tuy nhiên vẫn cón những bất đồng, nhất là về tương quan giữa Thánh kinh và Thánh Truyền. Lược đồ được hoàn thành vào tháng 3-1963 và được gởi cho các Nghị Phụ vào tháng 5. Bản văn sẽ không được bàn cãi trong kỳ họp thứ hai, nhưng vẫn không thiếu những phê bình được gởi tới. Thật vậy các vị soạn thảo muốn ” cố ý tránh vấn đề hia nguồn Mạc khải mà không xác nhận hay chối bỏ rằng Thánh Kinh không có” (Relatio…trg 5). Điều đó làm cho bản văn lạt lẽo, thiếu màu sắc và hàm hồ …Mạc khải được hiểu như là một “nội dung” của Mạc khải hơn là hành động Chúa Mạc Khải ; Thánh Truyền duy nhaá©t lẫn lộn với các truyền thống, điều này gây nhiều hiểu lầm .v.v..
Đến ngày 31-1-1964, các Nghị Phụ hết hạn gởi nhận xét. Như thế người ta có thể lợi dụng được các ý kiến trong những cuộc bàn cãi đương diễn ra “về Lược Đồ Giáo Hội” vì Mạc khải và Giáo Hội không thể tách rời nhau. Những lời than phiền của các Nghị Phụ hầu như chỉ quy về hia điểm và của Thánh Truyền, cũng như chưa được cân nhắc đầy đủ. Ngày 7 tháng 3, người ta thành lập một tiểu ban phụ trách tu chỉnh bản văn dưới dự chủ tọa của Đức Giám Mục Charue với sự cộng tác của nhiều chuyên viên. Ủy ban này chi làm hai nhóm : nhóm thứ nhất phụ trách các chương I và II( chủ tịch Đức Giám Mục Florit và các chuyên viên : Congar, Rahner, Moeller, Ramires, v..v.) và nhóm thứ hai phụ trách từ chương III đến VI (chủ tịch là Đức Giám Mục Charue và các chuyên viên : Cerfaux, Grilllmeier, Rigaux, Turrado, Semmonelroth, v.v..). Từ 20 đến 24 tháng 4 năm 1964, các Ngài bổ túc bản văn mới và đưa ra bản văn tối hậu. Sau đó bản văn được trình bày lên văn phòng Hiệp nhất để xem có phải sửa đổi lại gì không. ngày 30-6-1964 Văn phòng trả lời chaá©p thuận ; Đức Hồng Y Bea xét rằng không cần phải hợp hai cơ quan để tu chỉnh. Sau đó Uỷ Ban Giáo Thuyết cứu xét bản văn (từ ngày 3 đến 5 tháng 6). Chương tạm được chấp nhận (17 phiếu thuận và 7 phiếu chống) vì 7 Nghị Phụ đòi phải nói : Thánh Truyền khách quan rộng hơn Thánh Kinh) (x. Relatio…trg6).
Cuộc bàn cãi bản văn bắt đầu ngày 30-9 tại đền Thánh Phêrô. Có hai bản phúc trình : một của nhóm đa số trong Ủy Ban (Đức Giám Mục Florit đọc), và một của nhóm thiểu số (Đức Giám Mục Franic trình bày). Vấn nạn quan trọng nhất nhóm thiểu số đưa ra lý tưởng về ” Thánh Truyền cấu thành” (Traditio constitutiva). Đó là giảng thuyết và đức tin của toàn thể Giáo Hội Tông Đồ, dưới sự tác động của Thánh Thần Mạc Khải, chứa đựng những chân lý thực ra không có trong Thánh Kinh. Đó là trường hợp các tín điều về Đức Mẹ (Đức Giám Mục Beras). Ngoài ra nếu hạ giá Thánh Truyền, như Lược Đồ đã làm, người ta sẽ rơi vào một thứ Tân Thời Thuyết. Tuy thế, đa số chấp nhận và khen ngợi ý tưởng của các Bản văn. Dầu vậy, những lời phê bình của nhóm thiểu số cũng rất hữu ích vì nó giúp xác định rõ ràng nhiều ý niệm.
Theo Ủy Ban, kết quả cuộc can thiệp của các Nghị Phụ như sau :
1) Điểm tích cực :
- Ngôn ngữ rõ ràng, cẩn thận và có tính cách trình bày.
- Cơ cấu bản văn được sắp đặt kỹ lưỡng và cân đối.
- Giáo thuyết chắc chắn phải xuất từ Cổ Truyền và Thánh Kinh.
- Quan niệm Mạc Khải quy về Chúa Kitô và con người cũng như cách thức trình bày tương quan giữa Thánh kinh và Thánh Truyền.
2) Điểm tiêu cực :
- Cách hành văn phức tạp và đôi khi tối nghĩa.
- Im lặng trước những sai lạac và lạm dụng hiện có.
- Trình bày khiếm khuyết về cựu ước.
- Phải trình bày vai trò của Chúa Thánh Thần trong hoạt động của quyền tuyên huấn Giáo Hội.
các tiểu ban bắt tay làm việc, để tổng hợp đề nghị của các Nghị Phụ. Nhờ đó có một bản văn thứ tư được thành hình và đã được gởi tới cho các Nghị Phụ trong phiên họp khoáng đại cuối cùng của Kỳ họp thứ ba (20-11-1964). Có thể tóm các thay đổi chính như sau :
- Nhấn mạnh đến truyền thống ” phát nguyên từ Tông đồ” thay vì Thánh Truyền “sống” (có thể phát xuất từ đời sống Giáo Hội)
- Vấn đề phát triển tín lý, bản văn trước nói rắng kinh nghiệm của các tín hữu là một yếu tố phát triển, nhưng bản mới nhắc thêm đến lý trí (số 8bạn) để tránh chủ quan thuyết hiện tượng luận).
- Nhắc đến việc nhờ Thánh Truyền mà Giáo Hội biết được bản chính lục Thánh Kinh(số 8Chúa).
- Phân biệt rõ ràng hơn nội dung của Thánh Truyền thời các tông đồ và thời hậu tông đồ.
- Xác định vai trò của quyền giáo huấn bằng cách bãi bỏ danh từ uy quyền “tối thượng” và không nhắc đến ơn bất khả ngộ và hơn nữa còn nói rằng quyền giáo huấn phải “thành kính lắng nghe”. Lời Chúa (số 10). Trong kỳ họp thứ bạn, các Nghị Phụ không bỏ phiếu bản văn này, nên các Ngài có thể viết các nhận xét gởi về Ủy Ban.
Sau cùng, ngày 21 và 22 tháng 9-1965, các Nghị Phụ đã bỏ phiếu lược đồ này. Các chương đều được chấp nhận, nhưng chương II có 334 phiếu thuận với vài sửa đổi. Ủy ban phụ trách kết nạp các đề nghị tu chỉnh, cố gắng dung hòa ý kiến mọi người bằng cách sử đổi từng tiểu tiết của bản văn. Chính Đức Giáo Hoàng cũng đã đề nghị một vài thay đổi. Sua khi Ủy ban Giáo Thuyết xem xét, bản văn được phát cho các Nghị Phụ ngày 25-10-1965 và bỏ phiếu ngày 29. Ở vòng bỏ phiếu chót, trong số 2115 Nghị Phụ bỏ phiếu, có 2081 phiếu thuận, 27 phiếu chống và 7 phiếu hợp lệt. Ngày 18-11 là ngày công bố với 2344 phiếu thuận và 6 phiếu chống.
2. Cơ cấu Hiến chế
Những nét chính của bản sơ khảo đầu tiên được giữ lại đến cùng : một phần dành cho Thánh Kinh. Lược Đồ thứ nhất được chia như sau : Chương I : Hian guồn Mạc Khải ; Chương II : Linh ứng, bất khản gnộ và cấu tạo văn chương của Thánh Kinh; chương III : Cựu ước ; chương IV : Tân Ước; chương V: Thánh Kinh trong Giáo Hội.
Như trong lược đồ thứ nhất, Lược đồ thứ hia giữ lại chương I như một lời mở đầu giới thiệu Thánh Kinh; các chương khác cũng chứaa đựng chất liệu tương tự như Lược đồ thứ nhất. Chính trong lần soạn thảo thứ ba mà giáo thuyết “chi phối” mọi việc khai triển khác. nội dung của Lược đồ thứ ba là : chương I : vế chính mạc khải ; chương II : sự lưu truyền mạc khải; chương III : linh ứng của Thiên Chúa và việc Chú giải Thánh Kinh ; chương IV : Cựu Ước; chương V : Tân Ước; chương VI : Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội.
Như thế, chúng ta có một bản văn chia làm hia phần lớn, được soạn thảo dưới sự hướng dẫn của hia tiểu ban. Phất nhất bàn về mạc khải tổng quát, gồm hai chương : chương I bàn về diễn tiến mạc khải mà Thiên Chúa đã tự biểu lộ và phó mình cách trọn vẹn trong Giáo Hội bằng tất cả những gì tạo thành đời sống Giáo Hội, qua tiến trình lịch sử.
Phần thứ hai bàn về Thánh Kinh, một hình thức đặc biệt của sự biểu ;lộ và phó mình của Thiên Chúa, chương III trình bày những khía cạnh tổng quát của Thánh Kinh : đó là một tác phẩm của Thiên Chúa, Đấng hạ mình đến với chúng ta, nhưng cũng là một tác phẩm của con người; chương IV bàn về giá trị của Cựu Ước, chương V bàn về Tân Ước. Sau cùng chương VI trình bày ý nghĩa của Thánh Kinh đối với Giáo Hội mọi thời và mọi hoàn cảnh.
3. Tầm quan trọng
Hiến chế Mạc Khải đã không giải quyết mọi vấn đề, đã không có một thái độ rõ ràng về nhiều vấn đề, và không làm thỏa mãn mọi người. Hiến chế không thể làm điều đó. Dầu vậy Hiến chế cũng nói lên một bước tiến rất tích cực trong công cuộc tìm hiểu Mạc Khải cũng sẽ có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong nền thần học Công giáo và cuộc đối thoại Hiệp nhất.
Công đồng tiến hành công việc trong nổ lực hòa giải. Hiến chế Mạc Khải đã phải tổng hợp nhãn quan của nhiều trường phái không luôn luôn phù hợp nhau, và phải tóm lược các ý tưởng (dù làm như vậy có vẻ đơn giản vấn đề). Bản văn phải được nghiên cứu cẩn thận chứ không chỉ đọc thoáng qua. Tuy hhiên không được vì thế mà lãng quên tâm điểm của toàn thể giáo thuyết, tâm điểm đó chính là tác động cứu độ của Thiên Chúa đang diễn tiến trên thế gian vàtrong lịch sử nhờ Lời của Ngài là Chúa Kitô.
Cũng nên chú ý là bản văn sau cùng đã được đại đa số trong Công Đồng chấp thuận, như thế bản văn nói lên đức tin của Giáo Hội về vấn đề này. Dầu không đồng tâm về những chi tiết, nhưng phần giáo thuyết căn bản thì không ai có thể bàn cãi được nữa.
Người ta có thể lấy làm tiếc là Thánh Truyền và quyền Giáo Huấn lại đứng bên cạnh Thánh Kinh. Nhưng như thế là vì đã có thành kiến luôn đối chiếu ba thực thể trên. Trong khi đó Công Đồng đã quan niệm và thành công trong việc dung hòa: cả ba đều mang Lời Chúa, tuy mỗi thực thể theo một cách thức riêng và với một tước vị riêng.
Bản văn này phải thúc đẩy các nhà thông thái nghiên cứu Thánh Kinh và giúp tín hữu say mê Thánh kinh. Theo đường hướng cởi mở của thông điệp Divino afflante Spiritu, Hiến chế về Mạc Khải mở những chân trời mới cho công việc chú giải. Người ta được tự do nghiên cứu để khai thác các “văn loại” và các khám phá mà lịch sử và khoa học đem lại, mà không sợ những cấm đoán đè nặng từ bên ngoài như trường hợp các đồng nghiệp của họ thời trước. Nhưng cùng một lúc Hiến Chế cũng xác định những điều ta không thể chối bỏ mà không triệt tiêu Mạc Khải. Do đó, không được nghi ngờ lịch sử tính của các Phúc Âm và nguồn gốc Tông Đồ của các sách đó. Công Đồng đã không kết án phương pháp văn hình sử (formgeschichte) nhưng đã nêu ra những giới hạn của phương pháp ấy; không phải tất cả những ý thưởng “giải huyền thoại” của R.Bultmann là sai nhưng phải cẩn thận để khỏi rơi vào thuyết duy tín mà phương pháp này đưa đến. Còn về tầm quan trọng thực tế của những lời khuyên mục vụ ở chương VI thì chỉ có tương lai mới có thể trả lời cho chúng ta.
Việc xác định chân lý Thánh Kinh ở số 11 là một điều rất quan trọng. Người ta không thể tìm thấy trong Thánh Kinh bất cứ loại chân lý nào (khoa học, lịch sử, địa lý, dân chủng học, v.v…) nhưng chỉ có thứ chân lý cứu thoát chúng ta, và ta cũng nên lưu ý Công Đồng không nói những chân lý nhưng nói chân lý ở số ít: chân lý ấy đồng thời cũng làsự sống, là đường dẫn đến sự cứu độ. Đều đó muốn nói rằng chân lý của chúng ta không phải chỉ là một điều ta biết suông, nhưng là một bổn phận phải thực hành: “thực hành chân lý” (x. Eph 4, 15) và phải tiến tới trong chân lý: “đi trong chân lý”. Công Đồng muốn giải phóng thần học khỏi quan niệm Hy Lạp về chân lý quá tĩnh để trở về với ý niệm Do Thái linh động hơn, hiện sinh hơn, cởi mở hơn đối với mầu nhiệm Thiên Chúa.
Một số người công kích, số khác lại ca tụng về tầm quan trọng hiệp nhất của Hiến chế về Mạc Khải. Người ta đã chỉ trích sự hàm hồ về mối tương quan giữa Thánh Kinh và Thánh Truyền. Nhưng có người lại thấy ở đó một cách cửa đưa đến đối thoại, nhất là vào thời đại các Giáo Hội phát sinh sau khi Phong trào Cải Cách đặt lạivấn đềThánh truyền. Việc tự do tìm hiểu đã chiếm được một địa vị, nhờ đó sự cộng tác giữa các nhà chú giải Công Giáo và Tin Lành càng dễ dàng và đáng khích lệ hơn. Ngoài ra, việc khuyến khích đọc Thánh Kinh đã tạo nên một nến tảng vững chắc đưa các Kitô hữu xích lại gần nhau hơn, vì họcùng lắng nghe một Lời Chúa. Dù bản chính lục Thánh Kinh vẫn còn đôi chút khác biệt, nhưng sự kiện này không có tầm quan trọng thực tiễn nào.
PHAOLÔ GIÁM MỤC
TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA
HIỆP NHẤT VỚI CÁC NGHỊ PHỤ CỦA THÁNH CÔNG ĐỒNG ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ
HIẾN CHẾ TÍN LÝ VỀ MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA 1*
LỜI MỞ ĐẦU
1 Trong niềm thành kính lắng nghe và tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa, 2* Thánh Công Đồng lập lại lời Thánh Gioan: “Chúng tôi loan truyền cho anh em sự sống đời đời, đã có nơi Chúa Cha và đã hiện diện nơi chúng tôi: điều chúng tôi đã thấy, đã nghe, chúng tôi loan truyền cho anh em, để anh em cũng được hiệp nhất với chúng tôi, và chúng tôi hiệp nhất với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô Con Ngài” (1Gio 1, 2-3). Bởi thế, noi gương Công Đồng Triđentinô và Vaticanô I, Công Đồng này muốn trình bày giáo lý chân thực về mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền mạc khải ấy, để khi nghe công bố ơn cứu độ, toàn thể nhân loại tin theo, để nhờ tin mà hy vọng, và nhờ hy vọng mà yêu mến 3* 1
CHƯƠNG I: VỀ CHÍNH VIỆC MẠC KHẢI 4*
Bản tính và đối tượg của Mạc Khải
2 Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết bí tích ThánhÝ Ngài (x. Eph 1, 9). Nhờ đó loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. Eph 2, 18; 2P 1, 4). Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình (x. Col 1, 15; 1Tm 1, 17) ngỏ lời với loài người như với bạn hữu (x. Xac 33, 11; Gio 15, 14-15). Ngài đối thoại với họ (x. Bar 3, 38) để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài. Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì công bố các việc làm và khai sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó. 5* Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn thể mạc khải.6*2
Chuẩn bị mạc khải Phúc Am
3 7* Thiên Chúa Đấng tạo dựng và bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời (x. Gio 1, 3), không ngừng làm chứng về Mình trước mặt loài người qua các tạo vật (x. Rm 1, 19-20). 8* Và vì muốn mỏ đường cứu rỗi cao trọng, nên từ đầu Ngài còn tỏ Mình ra cho tổ tông chúng ta.
Sau khi tổ tông sa ngã, qua lời hứa ban ơn cứu chuộc, Ngài đã nâng đỡ họ dậy trong niềm hy vọng cứu rỗi (x. Stk 3, 15). Ngài không ngừng săn sóc nhân loại để ban sự sống đời đời cho những ai tìm kiếm sự cứu rỗi nhờ kiên tâm làm việc thiện (x. Rm 2, 6-7). 9* Khi đến giờ đã định, Ngài gọi Abraham để qua ông, Ngài tạo lập một dân tộc lớn mạnh (x. Stk 12, 2-3), một dân tộc mà sau thời các Tổ Phu, Ngài đã dùng Môisen và các ngôn sứ dạy dỗ để họ nhận biết Ngài là Chúa duy nhất, hằng sống và chân thật, là Chúa quan phòng, là thẩm phán chí công để họ trông đợi Đấng Cứu Thế được hứa ban và nhờ vậy, qưa bao thế kỷ, Ngài đã dọn đường 10* cho Phúc Âm.
Đức Kitô hoàn tất mạc khải
4 11* Sau khi phán dạy nhiều lần, nhiều cách qua các Tiên Tri, “nay là thời cuối cùng, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Chúa Con” (Dth 1, 1-2). 12* Thực vậy, Ngài đã sai Con Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng sáng soi mọi người, đến sống giữa mọi người và nói cho họ nghe những điều kín nhiệm nơi Thiên Chúa (x. Gio 1, 1-18). Bởi vậy, Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể “là người đã được sai đế với loài người”, 3 “nói tiếng nói của Thiên Chúa” (Gio 3, 34) và hoàn thành công trình cứu rỗi của Chúa Cha đã giao phó cho Người thực hiện (x. Gio 5, 36; 17, 4). Vì thế, chính Người, Đấng mà ai thấy tức là thấy Chúa Cha (x. Gio 14, 9), đã đến bổ túc và hoàn tất mạc khải, bằng tất cả sự hiện diện và tỏ mình qua lời nói cũng như việc làm, dấu chỉ và phép lạ, nhất là qua cái chết và sống lại vinh quang từ kẻ chết, sau cùng bằng việc phái Thần Chân Lý đến, bằng chứng của Thiên Chúa, Người xác nhận Thiên Chúa hằng ở cùng với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi và sự chết, rồi phục sinh chúng ta để được sống đời đời.
Vậy nhiệm cục Kitô giáo sẽ không bao giờ mai một, vì là giao ước mới và vĩnh viễn. Chúng ta không phải chờ đợi một mạc khải công cộng nào khác nữa trước khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta hiện đến trong vinh quang (x. 1Tm 6, 14; Tit 2, 13). 13*
Mạc Khải phải được đón nhận bằng đức tin
5 Phải bày tỏ “sự vâng phục bằng đức tin” (Rm 16, 26; x. Rm 1, 5; 2Cor 10, 5-6) đối vớ Thiên Chúa mạc khải. Nhờ sự vâng phục đó, con người phó thác toàn thân cho Thiên Chúa một cách tự do “dâng lên Thiên Chúa mạc khải sự quy phục hoàn toàn của lý trí và ý chí”, 4 đồng thời sẵn lòng chấp nhận mạc khải Ngài ban cho. Để được niềm tin này, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần: Ngài quy hướng và thúc đẩy con tim về cùng Thiên Chúa, mỏ mắt lý trí và ban cho “mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tin theo chân lý”. 5 Và để hiểu biết mạc khải được sâu rộng thêm mãi, cũng chính Chúa Thánh Thần kiện toàn đức tin qua các ơn Ngài. 14*
Tương quan giữa trí thức tự nhiên và siêu nhiên về Thiên Chúa
6 Thiên Chúa đã muốn dùng mạc khải 15* để bày tỏ và thông ban chính mình Ngài cùng những ý định muôn đời của Ngài liên quan đến phần rỗi nhân loại, “nghĩa là cho họ được tham dự vào những sự tốt lành thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn vượt khỏi trí khôn loài người”. 6. 16*
Thánh Công Đồng tuyên xưng rằng: “Con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, có thể từ các tạo vật nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa như nguyên lý và cứu cánh mọi sự” (x. Rm 1, 20). Công Đồng còn dạy: chính nhờ Thiên Chúa mạc khải mà “tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa, tự nó vốn không vượt quá khả năng lý trí con người, trong hoàn cảnh hiện tại của nhân loại, đều có thể biết được cách dễ dàng, chắc chắn mà không lẫn lộn sai lầm” 7. 17*
CHƯƠNG II: SỰ LƯU TRUYỀN MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA 18*
Tông đồ và các người kế vị loan truyền Phúc Âm
7 Những gì Thiên Chúa đã mạc khải để cứu rỗi muôn dân, Ngài đã ân cần sắp đặt để luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi thế hệ. 19* Bởi thế Chúa Kitô nơi người Thiên Chúa tối cao hoàn tất trọn vẹn nguồn mạc khải (x. 2Cor 1, 20 và 3, 16 – 4, 6), đã truyền dạy các Tông Đồ rao giảng cho mọi người Phúc Âm được hứ trước qua miệng các Tiên Tri cùng được chính Người thực hiện và công bố; các ngài rao giảng Phúc Âm như nguồn mọi chân lý cứu độ và lề luật luân lý, 1 đồng thời thông ban cho họ các ân huệ của Thiên Chúa. Việc này đã được thực hiện cách trung thành, một phần do các Tông Đồ: hoặc qua lời giảng dạy, gương lành và các thể chế các ngài đã truyền lại nhựng gì đã nhận lãnh từ miệng Chúa Kitô khi chung sống với Người và thấy Người hành động hoặc đã học biết được nhờ Thánh Thần gợi ý; một phần do chính các ngài và những người phụ tá các ngài đã viết lại 20* tin mừng cứu rỗi dưới sự linh ứng của cùng một Chúa Thánh Thần. 2
Nhưng để Phúc Âm được giữ gìn toàn vẹn và sống động mãi trong Giáo Hội, 21* các Tông Đồ đã để lại những người kế vị là các Giám mục và “trao lại cho họ quyền giáo huấn của các Ngài”. 3 Bởi vậy, Thánh Truyền đó cùng với Thánh Kinh Cựu và Tân Ước, là như tấm gương mà Giáo Hội lữ thứ trên trần gian nhìn vào để chiêm ngưỡng Thiên Chúa, nơi Ngài Giáo Hội nhận lãnh tất cả, cho đến khi được dẫn tới nhìn thấy Ngài, diện đối diện, như chính bản tính Ngài (x. 1Gio 3, 2)
Thánh Truyền
8 22* Vì vậy, những lời giảng dạy của các Tông Đồ được đặt biệt ghi lại trong các sách linh ứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyềnb cho đến tận thế. Do đó khi truyền lại những gì chính mình đã lãnh nhận, các Tông Đồ khuyến cáo tín hữu phải giữ gìn các truyền thống họ đã học biết qua lời chỉ giáo hay bằng thư từ (x. 2Th 2, 15), và phải chiến đấu để bảo vệ đức tin chỉ được truyền dạy cho họ một lần mà thôi (Gđa 3). 4 Và những điều các Tông Đồ truyền lại bao gồm tất cả những gì góp phần vào việc giúp dân Thiên Chúa sống một thời thánh thiện và làm tăng trưởng đức tin. Như vậy, Giáo Hội qua giáo lý, đời sống và việc thờ phượng của mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin. 23*
Thánh Truyền do các Tông Đồ truyền lại được tiến triển trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. 5 Thật vậy, các sự việc và lời nói truyền lại được hiểu biết thấu đáo hơn, nhờ sự chiêm ngắm và học hỏi của các tín hữu, những người đã ghi nhận những điều đó trong lòng (x. Lc 2, 19 và 51), nhờ sự thông hiểu những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được, hoặc nhờ việc giảng dạy của những người lãnh nhận một đoàn sủng chắc chắn về chân lý do việc kế vị trong chức Giám mục. Nói cách khác, qua bao thế kỷ Giáo Hội luôn hướng tới sự viên mãn của chân lý Thiên Chúa, cho đến khi lời Chúa được hoàn tất nơi chính Giáo Hội. 24*
Lời các Thánh Giáo Phụ chứng thực sự có mặt sống động của Thánh Truyền; và sự phong phú của Thánh Truyền đã thâm nhập vào thực hành và đời sống của Giáo Hội hằng tin tưởng và cầu nguyện. Nhờ Thánh Truyền ấy, Giáo Hội biết được toàn bộ chính lục Thánh Kinh và cũng nhờ Thánh Truyền, Thánh Kinh được hiểu biết thấu đáo hơn, cũng như Thánh truyền đã làm cho Thánh Kinh không ngừng hoạt động. Như vậy Thiên Chúa, Đấng xưa đã phán dạy, nay vẫn không ngừng ngỏ lời với Hiền Thê của Con yêu dấu mình; và Thánh Thần, Đấng làm cho tiếng nói sống động của Phúc Âm vang dội trong Giáo Hội và nhờ Giáo Hội làm vang dội trong thế giới, hướng dẫn các tín hữu nhận biết toàn thể chân lý và làm cho lời Chúa Kitô tràn ngập lòng họ (x. Col 3, 16). 25*
Tương quan giữa Thánh Truyền và Thánh Kinh
9 Bởi vậy Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết, phối hiệp mật thiết với nhau vì cả hai xuất phát từ một nguồn mạch là Thiên Chúa, có thể nói kết hợp nên một và cùng hướng về một mục đích. Thực vậy, Thánh Kinh là lời Chúa nói, vì được ghi chép lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần; còn lời Chúa, mà Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần đã ủy thác cho các Tông Đồ, thì Thánh Truyền lưu lại toàn vẹn cho những kẻ kế vị các Ngài, để nhờ Thần Chân Lý soi sáng, họ trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến qua lời rao giảng. Do đó, Giáo Hội không chỉ nhờ Thánh Kinh mà biết cách xác thực những điều mạc khải. Chính vì thế cả Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền đều phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm tình quý mến và kính trọng như nhau. 6. 26*
Tương quan giữa Thánh Truyền, Thánh Kinh, Dân Chúa và Huấn Quyền.
10 Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành một kho tàng thánh thiện duy nhât chứa đựng lời Thiên Chúa và được ủy thác cho Giáo Hội. Trong khi gắng bó với kho tàng ấy, toàn thể dân thánh hợp nhất với các chủ chăn, 27* luôn được vững bền trong giáo lý các Tông Đồ, trong niềm hiệp thông, trong việc bẻ bánh và lời cầu nguyện (x. Cv Sđ 2, 42, bản Hy Lạp), đến nỗi trong việc tuân giữ, thực hành và tuyên xưng đức tin lưu truyền, các Giám mục và tín hữu hiệp nhất với nhau cách lạ lùng. 7
Nhiệm vụ chú giải đích thực lời Chúa đã được viết ra hay lưu truyền 8 chỉ được ủy thác cho Quyền Giáo Huấn sống động của Giáo Hội 9 và Giáo Hội thi hành quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô. 28* Tuy nhiên Quyền Giáo Huấn này không vượt trên lời Chúa nhưng để phục vụ lời Chúa và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và trung thành trình bày lời Chúa, đồng thời từ kho tàng duy nhất ấy, Giáo Hội rút ra mọi chân lý mà dạy phải tin là do mạc khải.
Bởi thế, hiển nhiên là Thánh Truyền, Thánh Kinh và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội, theo ý định vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, liên kết và phối hiệp với nhau đến nỗi không thực thể nào trong ba có thể đứng vững một mình được. Và dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất, cả ba, theo phương cách riêng, cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu rỗi các linh hồn.
CHƯƠNG III: SỰ LINH ỨNG CỦA THIÊN CHÚA VÀ VIỆC GIẢI THÍCH THÁNH KINH
Sự linh ứng và chân lý của Thánh Kinh
11 Những gì Thiên Chúa mạc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần.29* Thực vậy, Giáo Hội Mẹ Thánh, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các thành phần đều là sách thánh và được ghi vào bản chính lục Thánh Kinh: bởi lẽ được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần (x. Gio 20, 31; 2Tm 3, 16; 2P 1, 19-21; 3, 15-16) nên tác giả các sách ấy là chính Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Giáo Hội với tình trạng như vậy. 1 Nhưng để viết các sách thánh, Thiên Chúa đã chọn những người và dùng họ trong khả năng và phương tiện của họ, 2 để khi chíng Ngài hành động trong họ và qua họ, 3 họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ viết những điều đó thôi. 4
Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh ứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý 30* mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta. 5 Bởi vậy “mọi sự trong Thánh kinh được Thiên Chúa linh ứng có ích lợi cho việc dạy dỗ, biện luận, sửa trị và rèn luyện trong công chính: để người của Thiên Chúa trở nên trọn hảo và sẳn sàng thực hiện mọi việc lành” (2Tm 1, 16-17 bản Hy Lạp).
Cách thức giải thích Thánh kinh
12 31* Tuy nhiên vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ loài người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, 6 nên để thấy rõ điều Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, người giải thích Thánh Kinh phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh sử thực sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ.
Để tìm ra chủ ý của thánh sử, giữa những phương pháp khác, cũng cần phải xét đến văn loại. 32* Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác. Hơn nữa, người giải thích còn có bổn phận tìm hiểu ý nghĩa mà trong những trường hợp xác định, thánh sử đã muốn diễn tả và thực sự đã diễn tả trong hoàn cảnh thời đại và văn hóa của họ, qua các lối văn được dùng trong thời đó. 7 Thực vậy, để hiểu đúng ý nghĩa tác giả Thánh Kinh muốn quả quyết trong bản văn, chúng ta phải chú tâm đúng mức đến các cách thức cảm nghĩ, diễn tả, tường thuật do bẩm sinh, được thịnh hành trong thời của họ, cũng như phải để ý đến các hình thức mà người thời ấy thường dùng khi giao tế với nhau. 8
Nhưng Thánh Kinh được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần. 9 Và để hiểu đúng ý nghĩa của sách thánh, chúng ta cũng phải ân cần lưu ý đến nội dung và sự thống nhất toàn bộ Thánh Kinh, dựa trên truyền thống sống động của toàn Giáo Hội và trên sự tương hợp toàn bộ đức tin. 33* Theo các quy tắc ấy, người giải thích có nhiệm vụ nỗ lực tìm hiểu và trình bày ý nghĩa Thánh Kinh cách sâu rộng hơn, hầu sự học hỏi của họ, như một việc làm chuẩn bị, giúp phán quyết của Giáo Hội cách chín chắn. Thực vậy, mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Giáo Hội, vì Giáo Hội được Thiên Chúa giao cho sứ mệnh và chức vụ gìn giữ và giải thích lời Chúa. 10
Sự “hạ mình” của Đấng Khôn Ngoan
13 Cho nên, trong Thánh Kinh, sự hạ mình kỳ diệu của Đấng Khôn Ngoan muôn đời được tỏ lộ, mà vẫn không tổn thương đến sự chân thật và thánh thiện của Thiên Chúa, “để chúng ta học biết lượng nhân từ vô biên của Chúa, và trong sự quan phòng săn sóc đến bản tính chúng ta, Ngài đã thích ứng lời nói của Ngài đến mức nào”. 11 Vì lời nói của Chúa diễn tả qua ngôn ngữ nhân loại, được đồng hóa với tiếng nói loài người, cũng như khi xưa Ngôi Lời của Chúa Hằng Hữu đã trở nên giống loài người, sau khi nhận lấy sự yếu đuối của xác thịt.
CHƯƠNG IV: CỰU ƯỚC
Lịch sử cứu độ trong các sách Cựu Ước
14 Thiên Chúa chí ái, khi ân cần trù liệu và chuẩn bị việc cứu độ toàn thể nhân loại theo một kế hoạch lạ lùng, Ngài đã tuyển chọn một dân tộc để ủy thác những lời ước hẹn. Thực vậy, sau khi ký giao ước với Abraham (x. Sth 15, 18) và với dân Israel qua Môisen (x. Xac 24, 8) Ngài đã dùng lời nói, việc làm mạc khải cho dân Ngài đã chọn để họ biết Ngài là Thiên Chúa độc nhất, chân thật và hằng sống, để Israel nghiệm thấy đâu là đường lối Thiên Chúa đối xử với loài người, và để nhờ chính Ngài phán dạy qua miệng các Tiên Tri, ngày qua ngày, họ thấu hiểu các đường lối ấy cách sâu đậm và rõ ràng hơn, để rồi đem phổ biến rộng rãi nơi các dân tộc (x. Tv 21, 28-29; 95, 1-3; Is 2, 1-4; Gier 3, 17). Vì vậy nhiệm cuộc cứu rỗi được các thánh sử tiên báo, thuật lại và giải thích trong các sách Cựu Ước như là lời nói chân thật của Chúa. Bởi vậy các sách được Thiên Chúa linh ứng này luôn có một giá trị vĩnh cửu: “vì nhữnggì đã được ghi chép là để dạy dỗ chúng ta, hầu chúng ta được hy vọng nhờ sự kiên nhẫn và nhờ sự ủi an của Thánh Kinh”. (Rm 15, 4). 34*
Tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các Kitô hữu
15 Lý do sự hiện hữu của nhiệm cục cứu rỗi thời Cựu Ước, là để chuẩn bị và tiên báo ngày xuất hiện của Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc muôn loài (x. Lc 24,44; Gio 5, 39; 1P 1, 10) và ngày khai nguyên Vương quốc của Đấng Massia, đồng thời biểu thị các biến cố ấy dưới nhiều hình bóng khác nhau (x. 1Cor 10, 11). Thích ứng với hoàn cảnh nhân loại sống trước thời cứu độ do Chúa Kitô thiết lập, các sách Cựu Ước trình bày cho mọi người biết Thiên Chúa là ai và con người là ai, đồng thời trình bày Thiên Chúa công bình và nhân từ đối xử với con người như thế nào. Tuy có nhiều khuyết điểm và tạm bợ, nhưng các sách ấy minh chứngkhoa sư phạm đích thực của Thiên Chúa. 1 Do đó, các Kitô hữu phải thành kính đón nhận các sách này, vì chúng diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Ngài, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nghiệm tuyệt diệu và sau cùng ẩn chứa mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta. 35*
Sự thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước
16 Bởi thế, Thiên Chúa Đấng linh ứng và là tác giả các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước, đa khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước, và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước. 2 Thực vậy, dù Đức Kitô thiết lập Giao Ước Mới trong máu Ngài (x. Lc 22, 20; 1Cor 11, 25), nhưng các sách Cựu Ước vẫn được sử dụng trọn vẹn trong sứ điệp Phúc Âm, 3 đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân Ước (x. Mt 5, 17; Lc 24, 27; Rm 16, 25-26; 2Cor 3, 14-16). Ngược lại Tân Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước. 36*
CHƯƠNG V: TÂN ƯỚC 37*
Sự trổi vượt của Tân ước
17 Là sức thiêng cứu rỗi mọi tín hữu (x. Rm 1, 16), lời Chúa được trình bày cách tuyệt diệu trong các sách Tân Ước và diễn tả quyền năng của Ngài. Thực vậy, khi đến thời viên mãn (x. Gal 4, 4), Ngôi Lời đầy tràn ân sủng và chân lý đã nhập thể và ở giữa chúng ta (Gio 1, 14). Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian. Người mạc khải Cha Người và Chính mình qua lời nói, việc làm và hoàn tất công trình Người khi Người chết, sống lại, lên trời vinh hiển và khi Người sai Chúa Thánh Thần đến. Bị treo lên khỏi đất (x. Gio 12. 3, bản Hy Lạp), Người kéo mọi người lên với Mình, Người là Đấng duy nhất có lời ban sự sống vĩnh cữu (x. Gio 6, 68). Nhưng mầu nhiệm này chưa bao giờ được tỏ cho các thế hệ khác biết, nay đã được mạc khải trong Thánh Thần cho các Thánh Tông Đồ Người và cho các Ngôn Sứ (x. Eph 3, 4-6, bản Hy lạp) để họ rao giảng Phúc Âm, cổ võ lòng tin vào Chúa Giêsu, Đấng được xức dầu và là Chúa, và qui tụ Giáo Hội. Những việc này, các sách Tân Ước đã minh chứng với một bằng chứng có giá trị vĩnh cửu và thần linh. 38*
Sách Phúc Âm bắt nguồn từ các Tông Đồ
18 Mọi người đều biết rằng trong tất cả cá Sách Thánh, kể cả những sách Tân Ước, các sách Phúc Âm xứng đáng chiếm địa vị ưu đẳng, vì Phúc Âm là chứng tích tuyệt hảo về đời sống và giáo lý của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Chuộc chúng ta.
Trong mọi thời và khắp nơi, Giáo Hội đã và đang quả quyết rằng bốn sách Phúc Âm bắt nguồn từ các Tông Đồ. 39* Thực vậy, những gì các Tông Đồ rao giảng theo lệnh Chúa Kitô, sau này nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng chính các ngài và những người sống bên các ngài viết lại và lưu truyền cho chúng ta như nền tảng đức tin: đó là Phúc âm trình bày dưới bốn hình thức: theo Thánh Mattheô, Thánh Marcô, Thánh Luca và Thánh Gioan. 1
Phúc Âm có tính cách lịch sử
19 40* Mẹ thánh Giáo Hội đã và còn đang quả quyết không ngừng lịch sử tính của bốn Phúc âm, cũng như đã mạnh mẽ và liên xỉ xác nhận bốn sách Phúc âm trung thành ghi lại những gì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, khi sống giữa loài người thực sự đã làm và đã dạy vì phần rỗi đời đời của họ cho tới ngày Người lên trời (x. CvSđ 1, 1-2). Thực vậy sau khi Chúa về trời, các Tông Đồ đã truyền lại cho những ai nghe mình những gì Chúa đã nói, đã làm với một trí hiểu biết sâu xa hơn 2 nhờ được các biến cố vinh hiển Chúa Kitô chỉ dạy và ánh sáng của Thần Chân Lý 3 soi sáng. Phần các thánh sử đã viết bốn Phúc Âm: các ngài chọn một ít trong số chất liệu được truyền lại bằng miệng hay bằng sách vở, tóm tắt một số khác hay tùy hoàn cảnh của các Giáo Hội mà giải thích thêm, nhưng vẫn giữ hình thức của bài giảng thuyết và như vậy để luôn chân thành truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Chúa Giêsu. 4 Thực vậy, dựa trên trí nhớ hay kỷ niệm riêng tư, hoặc dựa trên chứng tích của những người “đã chứng kiến từ buổi đầu và trở nên thừa tác viên của Lời Chúa”, các thánh sử đã viết các Phúc âm với mục đích giúp chúng ta nhận biết rằng các lời mà chúng ta đã nghe dạy dỗ đều là “chân thật” (x. Lc 1, 2-4).
Các sách khác của Tân Ước
20 Ngoài bốn Phúc âm, danh sách Tân Ước còn ghi lại các thư Thánh Phaolô và những bút tích khác của các Tông Đồ đã được viết dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Các bút tích này, theo ý định khôn ngoan của Thiên Chúa chứng thực những gì đã được nói về Chúa Kitô, trình bày giáo lý đích thực của Người ngày một rõ ràng hơn, rao truyền sức mạnh cứu độ của công trình thần linh của Chúa Kitô, và kể lại những bước đầu, sự bành trướng kỳ diệu cùng tiên báo sự kết thúc vinh hiển của Giáo Hội. 41*
Thực vậy, Chúa Giêsu đã hiện diện bên các Tông Đồ như Người đã hứa (x. Mt 28, 20) và đã sai Thánh Thần An Ủi đến để dẫn dắt họ đến sự viên mãn của Chân lý (x. Gio 16, 13).
CHƯƠNG VI: THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI 42*
Tầm quan trọng của Thánh Kinh đối với Giáo Hội
21 43*Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng hư từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang đội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Ngôn sứ cùng các Tông Đồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực thế, trong các sách thánh, Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ. Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội. bởi thế, lời nói sau dây thật xứng hợp cho Thánh Kinh : “Thực vậy, Lời Thiên Chúa sống động và linh nghiệm” (Dth 4, 12), “có khả năng gây dựng và ban gia tài cho mọi người đã được thánh hóa” (CvSđ 20, 32 ; x. 1Th 2, 13).
Cần có bản văn và bản dịch
44* Phải mở rộng lối vào Thánh Kinh cho các Kitô Hữu. Chính vì thế mà từ buổi đầu, Giáo Hội đã công nhận như của riêng mình bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp, một bản văn rất cổ và được gọi là bản Bảy Mươi. Ngoài ra Giáo Hội còn luôn tôn trọng các bản dịch của Đông Phương hay các bản dịch Latinh, nhất là bản thường gọi là bản “Phổ Thông”. Vì phải đem Lời Chúa đến cho mọi thời đại, Giáo Hội như một ngườ mẹ ân cần lo liệu cho các sách thách được dịch ra các thứ tiếng cách thích hợp và đúng đắn, đặc biệt dịch từ nguyên bản. Mọi Kitô hữu có thể sử dụng những bản dịch được thực hiện chung với cả những anh em ly khai trong trường hợp thuận tiện và được giáo quyền chấp thuận.
Nhiệm vụ tông đồ của các nhà Thánh Kinh học
23 45* Hiền Thê của Ngôi Lời nhậo thể, tức Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, hằng cố gắng hiểu biết Thánh Kinh ngày càng sâu rộng hơn, hầu không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng con cái mình. Do đó, Giáo Hội có lý khi khuyến khích việc học hỏi các thánh Giáo Phụ Đông Phương và Tây Phương cũng như các Phụng Vụ thánh. Phần các nhà chú giải Thánh Kinh công giáo và những người chuyên về Thần Học Thánh phải ân cần lo lắng, dưới dự trông nom của Quyền Giáo Huấn Thánh, và dùng những phương thế thích hợp để nghiên cứu và trình bày Thánh Kinh, để cung ứng nhiều thừa tác viên Lời Chúa hết sức có thể hầu lương thực Thánh Kinh được đồi dào ban bố cho dân Chúa, để soi sáng trí khôn, kiên trì ý chí và nung đốt lòng người yêu Chúa1. Thánh Công Đồng khuyến khích các con cái Giáo Hội đang chuyên cần học hỏi những khoa học Thánh Kinh, hãy tiếp tục theo đuổi công trình đã khởi sự cách tốt đẹp với những năng lực ngày được đổi mới, và bằng tất cả hăng say hợp với cảm thức của Giáo Hội2.
24 Tầm quan trọng của Thánh Kinh đối với thần học
46*Khoa Thần Học thánh dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền như dụa vào một nền tảng vĩnh cửu. Trên nền tảng này, thần học được củng cố, trở ên vững chắc và được trẻ trugn mãi trong hi tìm kiếm, dưới ánh sáng đức tin, tất cả chân lý tiềm ẩn trong ầu nhiệm Chúa Kitô. Thánh Kinh chứa đựng Lời Chúa và vì được linh ứng nên thực sự là Lời của Chúa, nên việc nghiên cứu Thánh Kinh phải như là linh hồn của Khoa Thần Học Thánh3. Thừa tác vụ Lời Chúa – nghĩa là việc rao giảng mục vụ, dạy giáo lý và toàn thể giáo huấn Kitô giáo, torng đó bải giảng phải chiếm một chỗ quan trọng phải được nuôi dưỡng lành mạnh và gia tăng sinh lực cách thánh thiện nhờ lời Thánh Kinh.
Khuyên nhủ năng lực học hỏi và đọc Thánh Kinh
25 47* Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là các Linh Mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa, như các Phó Tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Thánh Kinh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa, nhất là trong phụng vụ thánh, cho các giáo hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành “kẻ huênh hoang rao giảng lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe ời Thiên Chúa trong lòng”4. Thánh Công Đồng cũng tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy năng đọc Thánh Kinh để hiểu biết “khoa học siêu siệt của Chúa Kitô” (Ph 3, 8). ” vì không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô”5. Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chỉnh bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ Thánh dồi dào lời Thiên Chúa, hoặc nhờ sốt sắng đọc Thánh Kinh hay nhờ những tổ chức học hỏi thích hợp,hoặc bất cứ phương thế nào và ngày nay đã được các Chủ Chăn trong Giáo Hội chấp thuận và ân cần phổ biến khắp nơi. Nhưng mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với vyệc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. vì “chúng ta ngỏ ời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh”6.
Các Giám mục là những người “gìn giữ giáo lý tông truyền” 7 có phận sự dạy cách thích hợp cho các tín hữu đã được ủy thác cho các nàgi biết sử dụng đúng đắn sách thánh, nhất là Tân Ước và trước tiên các sách Phúc Âm, nhờ các bản dịch, và các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ, để co cái Giáo Hội có thể sử dụng Thánh Kinh cách bảo đảm và ích lợi, cũng như được thấm nhuần tinh thần Thánh Kinh.
Hơn nữa, cũng cần thực hiện những ấn bản Thánh Kinh với lời chú giải thích hợp cho cả những người ngoài Kitô giáo và thích hợp với hoàn cảnh của họ. Các vị Chủ Chăn linh hồn cũng như các Kitô hữu, dù trong bậc sống nào, cũng phải ân cần lo lắng phổ biến các văn bản ấy.
Kết luận
26 48* Vì thế, ước gì nhờ việc đọc và học hỏi sách thánh, “Lời Thiên Chúa được trôi chảy và sáng sủa” (2Th 3, 1), và ước gì kho tàng Mạc Khải, đã được ủy thác cho Giáo Hội, ngày một tràn ngập tâm hồn con người. Nếu đời sống Giáo Hội được tăng triển nhờ năng nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể thế nào đời sống thiêng liêng cũng hy vọng có thể được đổi mới như vậy nhờ thêm lòng sùng kính lời Chúa, là lời “hằng tồn tại muôn đời” (Is 40, 8; 1P 1, 23-25)
Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Hiến Chế tín lý này đề được các Nghị Phụ Thánh Công Đồng chấp thuận. Và dùng quyền Tông Đồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính, trong Chúa Thánh Thần, Chúng Tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã được Thánh Công Đồng quyết nghị, Chúng Tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.
Roma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 18 tháng 11 năm 1965
Tôi, PHAOLÔ Giám Mục Giáo Hội Công Giáo.
Tiếp theo là chữ ký của các Nghị Phụ.
TRÍCH VĂN KIỆN CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II
THÔNG TRI
Do vị Tổng thư ký của Thánh Công Đồng trong phiên họp khoáng đại lần thứ 171 ngày 15-11-1965.
Có người thắc mắc về phẩm tính thần học của giáo thuyết được trình bày trong Lược Đồ của Hiến Chế tín lý về Mạc Khải của Thiên Chúa và được đem ra đầu phiếu.
Ủy Ban về Giáo thuyết đức tin và phong hóa đã trả lời thắc mắc trên theo Tuyên Ngôn ngày 06 tháng 3 năm 1964:
“Xét theo tập tục Công Đồng và chủ đích mục vụ của Công Đồng hiện tại, Thánh Công Đồng này xác định rằng, Giáo Hội chỉ phải tuân giữ những điều có liên quan đến đức tin và phong hóa được chính Thánh Công Đồng tuyên bố là như vậy”.
“Còn những điểm khác được Thánh Công Đồng trình bày, vì là giáo thuyết của Quyền Giáo Huấn Tối Thượng của Giáo Hội, nên tất cả và mội một Kitô hữu phải chấp nhận và hiểu theo ý của chính Thánh Công Đồng, dựa trên những tiêu chuẩn của phương pháp giải thích thần học: ý Công Đồng tỏ lộ qua nội dung được trình bày hoặc qua cách diễn đạt của Công Đồng”.
PERICLES FELICI
Tổng Giám Mục hiệu tòa Samosate
Tổng Thư Ký Thánh Công Đồng Vaticanô II
1* – Lược đồ thứ nhất mang tựa đề “Lược đồ Hiến chế tín lý về các nguồn Mạc Khải”. Trong lần soạn thảo thứ hai, lược đồ lại mang tên “Lược đồ Hiến chế tín lý về Mạc Khải của Thiên Chúa”. Nhưng vì bản văn nói về Mạc Khải rấ ít nên có người đề nghị tựa đề “Về Thiên Chúa Đấng tự mạc khải”, hoặc về “Thánh Kinh”. Trong lần soạn thảo thứ ba tĩnh từ “tín lý”bị loại bỏ , nhưng nó lại xuất hiện trong bản văn cuối cùng.
2* – Nguyên văn viết tất cả hai chữ bằng chữ hoa, nên ta không biết nó chỉ Ngôi Lời của Thiên Chúa hay là Lời của Chúa, tức phúc Âm.
3* – Ở đây Công Đồng trình bày: mục đích của Mạc Khải là cứu độ con người chứ không phải để thõa mãn óc tìm tòi của trí khôn chúng ta. Quyền Giáo Huấn không phải là chủ của Lời Chúa nhưng là tôi tớ “lắng nghe” và vâng theo (số 10); do đó quyền giáo huấn phải làm chứng những gì đã được giao phó. Việc trích dẫn 1Gio 1, 2-3 trình bày nội dung Mạc Khải (đời sống vĩng cữu) như sự hiệp thông giữa con người và ba Ngôi Thiên Chúa; nội dung đó được gởi đến cho mọi người nhờ các chứng tá. Những điều trên đương nhiên đòi hỏi một hoạt động truyền giáo: việc “công bố ơn cứu độ” (x. CvSđ 13, 26; Eph 1, 13)
4* – Chương này xuất hiện ở trong lược đồ thứ ba. Trong các lược đồ trước, lời mở đầu chỉ bàn sơ qua về vài khía cạnh như “sự cần thiết và đối tượng của Mạc Khải” (số 1), “Mạc Khải tiệm tiến” (số 2) v.v… Nhưng nhiều Nghị Phụ đòi bàn về chính việc Mạc Khải, vì Mạc Khải chứa đựng không những các chân lý về Thiên Chúa mà cả sự kiện Thiên Chúa tự Mạc Khải. Trong chương này Công Đồng đã muốn trình bày Mạc Khải dưới cái nhìn của con người để thích ứng hơn với những đòi hỏi con người thời nay. Phải xemxét trọn giáo thuyết này dưới ánh sáng của lịch sử cứu độ. Chúa phó mình cho con người ngay từ khi tạo dựng vũ trụ. Bố cục của chương này như sau: số 2: Sự kiện Chúa phó mình và từ đó tự Mạc Khải; số 3 và 4: các giai đoạn Mạc Khải và sự hoàn thành trong Chúa Kitô; số 5: thái độ con người để tiếp nhận Mạc Khải; số 6: các chân lý Mạc Khải.
5* – Nền thầnhọc Công Giáo đã thường coi mạc Khải như một lời nói; còn các hoạt động của Chúa bị liệt vào hàng rất phụ thuộc. Công Đồng lại muốn trình bày là Thiên Chúa tự Mạc Khải trước tiên bằng “hành động” (gesta) (không bằng việc làm (facta) vì việc làm có vẻ một tác động vật chất hơn). Ở đây chữ “hành động” còn có nghĩa là những biến cố do một người gây nên; trong trường hợp này, người đó chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa tự mạc khải bằng cách hoạt động phù trợ dân Ngài, thăm viếng bạn hữu (Abraham, Môisen) và bằng các phép lạ (ví dụ Chúa Kitô) v.v…
Trước đó số 2 này mang tựa đề: “sự cần thiết của mạc khải” sau đổi thành “Bản tính và đối tượng”. Chúng ta thấy Mạc Khải phát xuất không do “sự khôn ngoan và nhân lành của Thiên Chúa” như Vaticanô I đã nói (Dz 1785/3004) nhưng do “Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan”. Đối tượng là chính Thiên Chúa và Nhiệm cuộc cứu rỗi của Ngài. Ở đây Công Đồng dùng tiếng “bí tích” để nói lên dấu chỉ và phương tiện, lời nói và hành động (x. GH 1). Mạc Khải là ơn hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, tỏ bày cho các “bạn hữu” như trong một cuộc đối thoại, nghĩa là không những nói mà còn sống chung nữa.
6* – Câu này không thấy trong những lần soạn thảo trước, sau được thêm vào do lời đề nghị của nhiều Nghị Phụ. Vấn đề quan trọng làphải xem Chúa Kitô là trung gian duy nhất của Mạc Khải vì người là Lời mà Chúa Cha nói với chúng ta, và là sự viên mãn vì trong Người Chúa Cha nói với chúng ta tất cả mọi sự. Vì vậy Mạc khải có Kitô tính.
7* – Để mục tổng quát của đoạn này là sự trông chờ Mạc Khải của Chúa Kitô. Mạc Khải này thề hiện từng giai đoạn, ta có thể gọi là Mạc Khải qua vũ trụ, Mạc Khải sơ khai và Mạc Khải trong lịch sử.
8* – Bản văn xác nhận sự kiện “Mạc Khải qua vũ trụ” hay qua “tạo vật” theo thư gởi tín hữu Roma 1, 19-20. Nhưng bản phúc trình không muốn giải quyết vấn nạn là trong thực tế Thiên Chúa có ban ơn để người ta có thể nhận biết Chúa qua tạo vật hay không (Relatio đính kèm lược đồ III, 1964, trg 11, 3, A). Thiên Chúa Mạc Khải khi tạo dựng: nhưng nên chú ý là bản văn nói “Chúa tạo dựng” chứ không nói “Chúa đã tạo dựng” để chỉ rõ lả tất cả tạo vật luôn luôn phụ thuộc vào Đấng Tạo Hóa, dầu cả trong giả thuyết tiến hóa. Mọi người đều có thể thấy trong tạo vật bằng chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chính đây là nền móng cho thần học của các tôn giáo ngoài Kitô giáo.
9* – “Mạc khải sơ khai” được trình bày trong tầm mức siêu nhiên. Bản văn loại bỏ vấn đề độc tổ thuyết hay đa tổ thuyết, mà chỉ muốn nói là Thiên Chúa đã tỏ mình cho con người (không nói bằng cách nào), cũng như chỉ muốn là Thiên Chúa đã luôn luôn cứu thoát con người, và tình trạng này vẫn còn giá trị ngay cả bây giờ (xem GH 16).
10* – “Mạc Khải trong lịch sử” bắt đầu với Abraham. Công Đồng đã muốn nêu lên mối liên lạc giữa việc tuyển chọn và Mạc Khải. Thiên Chúa được gọi là “Cha”, nhưng các chữ “giữa mọi người” lại bị loại bỏ vì trong Cựu Ước phổ quát tính chưa rõ ràng lắm. Cựu Ước được coi như là sự “chuẩn bị” cho Phúc Am để nói lên ý tưởng mạc khải trong Cựu ước còn bất toàn và có liên quan đến Mạc Khải của Chúa Kitô.
11* – Số này đáp ứng số 2: Mạc Khải được thể hiện bằng hành động và ngôn từ. Chúa Kitô vừa là biến cố vừa là Lời của Thiên Chúa. Có hai giai đoạn: đoạn thứ nhất cắt nghĩa tại Chúa Kitô đem lại cho chúng ta mạc khải viên mãn; đoạn hai nói mạc khải này là tối hậu và sẽ không còn mạc khải nào khác nữa.
12* – Công Đồng đánh dấu sự liên tục và tương phản giữa mạc khải Chúa Kitô với những gì xảy ra trước. Một đối với nhiều, như tàn thể đối với phân tán. Nhập thể là cuộc Mạc Khải vĩ đại của Thiên Chúa. Vì vậy phải xác định chân lý nhập thể, bản tính nhân loại của Chúa Kitô, trong đó ta “thấy” Chúa (x. Gio 14, 9) và lịch sử thật của Người, “lời nói và việc làm”. Các phép lạ không chỉ là sự “xác nhận” Mạc Khải, nhưng là chính Mạc Khải: vì Chúa Kitô tỏ mình qua các phép lạ.
13* – Theo ý tưởng của thư gởi tín hữu Do Thái, Mạc Khải cũng như chức Linh Mục của Chúa Kitô phải là độc nhất và vĩnh cửu. Một vài Nghị Phụ muốn nói là “vì Mạc Khải chấm dứt với các Tông đồ”, nhưng Ủy ban bác bỏ các ý kiến trên”vì đó là một lời giải thích đang được bàncãi”. Lý do sâu xa: vì Chúa Kitô là sự viên mãn và như vậy hoàn tất Mạc Khải, nên không còn gì vượt trên sự viên mãn nữa. Nhưng cuộc Mạc Khải còn chờ sự vinh quang vào ngày Quang Lâm. Còn vấn đề tiến triển: không phải tiến triển trong Mạc Khải nhưng tiến triển chính trong việc chúng ta hiểu biết và thực hành Phúc Âm; đó là công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng không nói sự gì mới lạ nhưng làm chứng về Chúa Kitô. (x. Gio 16, 14).
14* – Trong số này Công Đồng trình bày lời đáp ứng của con người đối với Thiên Chúa Mạc Khải: d0ó là đức tin, nhưng đức tin được hiểu dưới phương diện nhân bản, như một cuộc “đối thoại cứu rỗi” (Ecclesiam Suam, 06-8-1964 số 72-79). Công Đồng cũng nhận định những khía cạnh của hành vi đức tin: tự do, thuộc lý trí, thuộc ý chí, không thể có nếu không có ơn Chúa. Kiểu nói “sự vâng phục bằng đức tin” không được trình bày như một đòi buộcluân lý suông nhưng như là một đòi hỏi chính yếu của mối liên hệ mà Thiên Chúa mạc khải nối kết với con người. Trong hành vi đức tin con người dấn thân toàn diện chứ không phải chỉ bằng lý trí. Ở đây bàn đến “đức tin đã thành hình” bao gồm cả đức cậy và đức mến như ta có thể phỏng đoán theo những câu trích Thánh Kinh. Nhưng Uy Ban cắt nghĩa thêm: “đức tin chưa thành hình” cũng là đức tin và cũng cần ơn Chúa Thánh Thần. Đức tin luôn luôn lớn mạnh dưới tác động của chính Chúa Thánh Thần.
15* – Trong số này Công Đồng bàn về những chân lý mạc khải, trước hết là những chân lý siêu nhiên, rồi đến những chân lý tự nhiên. Công Đồng nói theo Vaticanô I. Nhưng thứ tự ở Caticanô I là: a) Trí thức tự nhiên về những chân lý tự nhiên, b) Trí thức những chân lý tự nhiên nhờ mạc khải. c) Trí thức chân lý siêu nhiên nhờ mạc khải. Đang khi đó thứ tự ở đây lại là c-a-b: Nghĩa là theo một viễn tượng Kinh Thánh và quy về Thiên Chúa hơn.
16* – Đoạn này nói lên đối tượng riêng biệt của Mạc Khải, nghĩa là đối tượng mà chúng ta cần được mạc khải: Chính Thiên Chúa và những ý định cứu rỗi của Ngài (x. Relatio, trg 9, 5). Mạc Khải này không phải chỉ là một sự thông đạt kiến thức nhưng cũng có mục đích cứu rỗi con người nghĩa là thông phần vào đời sống Thiên Chúa.
17* – Phần thứ hai của số 6 lặp lại giáo thuyết của Công Đồng Vaticanô I về sự nhận biết Thiên Chúa bằng lý trí, nhưng Công Đồng dùng những từ ngữ rất mạnh để chống lại thuyết vô thần. Nhưng chữ “tuyên xưng” và “dạy” ở phần này nói lên một tín điều. Con người thật sự có thể nhận biết Thiên Chúa như ng họ không thể không sai lầm nếu Thiên Chúa không giúp. Lịch sử minh chứng con người luôn tìm kiếm Thiên Chúa nhưng không bao giờ thoát khỏi lầm lẫn; và trong thực tế, ảnh hưởng của tội lỗi hình như đã làm cho thế giới thường trở thành một chướng ngại vật. Tuy nhhiên, trong “nhiệm cục” cứu rỗi chúng ta đang sống, một tri thức hoàn toàn tự nhiên chỉ là một tư tưởng trừu tượng, vì ơn Chúa hiện diện khắp mọi nơi.
18* – Trong bản thảo thứ hai, chương I mang tực đề: “Về Lời Chúa được Mạc Khải” và gồm bốn số. Trong bản thảo thứ ba, người ta thêm số 8 và rồi chương II này. Nhiều người đã phê bình tựa đề, vì Mạc Khải- theo ý họ- là lời mạc khải hơn là lời được mạc khải. Tựa đề hiện tại thích hợp với nội dung hơn: “chổ này chúng tôi miêu tả việc lưu truyền mạc khải cách tổng quát, nhưng chúng tôi quan tâm đặt biệt đến truyền thống sống vì nó có liên quan trực tiếp với mạc khải được lưu truyền và nó vẫn tiếp tục sau khi Thánh Kinh đã được viết. Như thế, chương này là một bài nhập đề khá hay cho những chương nói về Thánh Kinh sau này” ( Relatio, trg 19).
Một số các nghị Phụ muốn nhấn mạnh Thánh Truyền nên đòi phải có một đề mục về điểm này. “Phần đông các Nghị Phụ này muốn đặt Thánh Truyền lên trước Thánh Kinh, vì theo bản tính thời gian Thánh Truyền có trước Thánh Kinh… Các Nghị Phụ khác muốn xác nhận Thánh Truyền là một nguồn Mạc Khải hoàn toàn tách biệt khỏi Thánh Kinh (Relatio, n.v.t). Còn Ủy Ban lại muốn tránh tất cả những vấn đề đang trong vòng tranh luận. Thế là đề mục Mạc Khải đã trở thành nóng bỏng hơn cả đề mục về Cộng Đoàn tính của Giám mục. Vấn đề ở đây là di sản của bao thế kỷ tranh luận chống Tin Lành. Chúng ta phải vượt qua vấn đề đó, nhưng không phải là việc dễ dàng, nhất là vì chúng lại xa lạ với Đông Phương và các Giáo Hội tân lập. Đây là lời Đức Giám mục Edelly trong một cuộc phát biểu ý kiến: “Phải thoát ra khỏi vấn đề sau Công Đồng Triđentinô… Đặt mình vào trung tâm mầu nhiệm Giáo Hội là thân thể của Người. Hơn nữa, Chúa cũng đã minh nhiên công bố sự cần thiết của người cải cách và Latinh tự đóng khung vào. Từ thờ Trung Cổ, chính tâm thức này đã đối nghịch “việc truyền phép” với “lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần”. Và chính tâm thức này mới đây đã trình bày “quyền tối thượng” và “cộng đoàn tính” như hai thực thể tách biệt. Cũng chính tâm thức này đã đặt Thánh Kinh và Thánh Truyền song song nhau… Thánh Kinh là một thực tại phục vụ và ngôn sứ Các Giáo Hội Đông Phương coi Thánh Kinh là một “việc truyền phép” lịch sử cứu độ dưới “hình thức” tiếng nói con người, nhưng không tách biệt với việc truyền phép Mình Thánh Chúa trong đó tất cả lịch sử được quy hợp trong Thánh Thể Chúa Kitô. “Việc truyền phép” này cần một “lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần” của lịch sử cứu rỗi, là sự tỏ mình của Thánh Thần: Bởi thế, nếu thiếu lịch sử, Thánh Truyền sẽ không thể hiểu được và Thánh Kinh là những chữ chết. Tiếng Thánh Truyền không luôn có cùng một nghĩa vì vậy Ủy Ban đã cho biết cách chung là từ khoảng giữa số 8 (và những điều các Tông Đồ truyền lại) tiếng “Thánh Truyền” phải hiểu theo nghĩa thụ động: thực thể hay chân lý được lưu truyền.
19* – Câu này nói lên ý hướng của toàn chương: Thiên Chúa muốn lưu truyền toàn thể Mạc Khải, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, cho mọi thời đại. Các Tông Đồ đã được lệnh truyền dạy tất cả những điều các Ngài đã thu nhận nơi Chúa Kitô (Mt 28, 20)
20* – Công Đồng dạy về hai nguồn lưu truyền “Phúc Âm” trước hết theo chiều dọc: từ Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần đến các Tông Đồ, sau đó theo chiều ngang: từ các Tông Đồ đến Giáo Hội. Đoạn này nhấn mạnh đến giai đoạn đặt biệt là “thời các Tông Đồ”, gồm cả những “môn đệ của các Tông Đồ” vì họ đã viết một phần Tân Ước, ngay cả sau khi vị Tông Đồ cuối cùng băng hà. Các phương tiện lưu truyền là lời giảng dạy và Thánh Kinh: cả hai phương tiện đều lưu truyền cùng một mạc khải. Công Đồng không muốn nói là trong lời giảng dạy chứa nhiều mạc khải hơn trong các bản văn. Việc giảng dạy không phải chỉ bằng lời nói suông mà còn là những thực thể.
21* – Ở đây bàn về tính cách liên tục của Mạc Khải sau thời các Tông Đồ. Đề mục này được bàn kỷ lưỡng trong Hiến Chế Giáo Hội số 20 và 21. Ở đây Công Đồng chỉ nhắc lại. Ở chổ khác Công Đồng cũng dạy rằng nhiệm vụ thiết yếu của các Giám mục là lưu truyền Mạc Khải (x. GH 25a, GM 12a). Sự viên mãn của Mạc Khải hiện hữu trong Giáo Hội, và chính nơi Giáo Hội, nhờ đức tin ta gặp được Thiên Chúa, tức là khởi đầu việc hưởng nhan Chúa: có sự liên tục giữa Giáo Hội hiện tại và Giáo Hội cách chung.
22* – Số này xuất hiện trong bản thảo thứ ba, nhiều Nghị Phụ đòi Công Đồng phải trực tiếp bàn đến Thánh Truyền, vì các lược đồ trước hầu như không nói gì đến.
23* – Đoạn này bàn về sự hiện hữu và bản tính của Thánh Truyền. Một Nghị Phụ muốn bản văn nói: “các chân lý mà các Tông Đồ đã mạc khải bằng miệng và không có trong Thánh Kinh, được lưu truyền cho chúng ta bằng Thánh Truyền”. Nhưng Ủy Ban bác bỏ đề nghị trên, vì Ủy Ban không muốn đặt vấn đề về tính cách đầy đủ chất liệu của Thánh Kinh và nội dung của Thánh Truyền. Chỉ có một điều không còn nghi ngờ là Thánh Truyền có nội dung rộng hơn Thánh Kinh; bằng chứng là trường hợp bản chính lục và sự linh ứng của chính Thánh Kinh. Như thế câu “lời giảng dạy của các Tông Đồ” bao gồm tất cả mọi điều mà các Tông Đồ đã lưu truyền bằng bất cứ cách nào. Và những điều đó nhờ linh ứng được chứa đựng “cách đặt biệt” trong Thánh Kinh (nghĩa là không phải chỉ trong Thánh Kinh).
24* – Thánh Truyền luôn linh động, gia tăng và tiến triển liên tục (không phải trong bản chất mà trong việc hiểu biết) và luôn giữ tính đồng nhất nguyên thủy của mình trong khi vẫn hướng về sự viên mãn của chân lý. Để chỉ “bản chất” ta nói “Tông Truyền” thay vì “Thánh Truyền sống”. Nguồn gốc sự phát triển là: việc chiêm ngắm, sự nghiên cứu của các nhà thần học, ơn hiểu biết Chúa Thánh Thần ban và lời giảng dạy của hàng Giáo Phẩm. Ở đây người ta theo kiểu nói của Thánh Ireneô mà không nêu danh tánh, vì các ngôn từ “đoàn sủng về chân lý” có thể có ba nghĩa: ơn ban chân lý mạc khải, ân sủng giúp trung thành với chân lý, và ơn giúp cắt nghĩa mạc khải cách chân thực; ở đây theo nghĩa thứ ba.
25* – các Giáo Phụ là những nhân chứng qua trọng nhất của Thánh Truyền, không phải chỉ vì các ngài sống gần thời của Tông Đồ mà vì các ngài đã hệ thống hóa giáo thuyết, đến nỗi đã có thể truyền lại cho chúng ta thoe những công thức mà chính ngài đã hình thành.
26* – Thánh Truyền không phải chỉ là của Giáo Hội nhưng còn mang đặt tính thần linh như Thánh Kinh cả về nguồn gốc, nội dung và mục đích. Nội dung là xét theo phẩm, chứ Công Đồng không bàn đến lượng. Ở đây ta thấy có sự phân biệt vai trò của các Tông Đồ, những người cấu tạo Thánh Truyền, và vai trò của các Giám mục, những người bảo vệ Thánh Truyền. Câu “Do đó, Giáo Hội không chỉ nhờ…” được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ghi thêm vào phút chót. Nhiều người Tin Lành phản đối và cho rằng đó là một bước quay về thuyết “Hai nguồn”. Nhưng Ủy Ban cắt nghĩa là câu trên không hề thay đỗi ý nghĩa bản văn. Thực ra 270 Nghị Phụ đã yêu cầu sửa đổi theo nghĩa đó (trong số đó có 111 Nghị Phụ thuộc nhóm đưa ra đề nghị tu chỉnh danh tiếng 40D). Được Đức Hồng Y Bea khuyến khích, Ủy Ban đã chấp nhận câu thứ 3 trong số 7 câu do Đức Giáo Hoàng đề nghị và nói rằng câu đó không năn trở những vấn đề đương tranh luận.
27* – Đoạn này dạy rằng Mạc Khải là gia sản của toàn thể Dân Chúa. Do đó, tín hữu không thể thụ động đối với Lời Mạc Khải. Giáo thuyết này là một bước tiến sánh với Vaticanô I và thông điệp Humani Generis. Dân Chúa sống đạo sẽ làm giàu Thánh Truyền và giải thích Lời Chúa.
28* – Quyền Giáo Huấn là lời giải thích chính thức và độc đáo của Mạc Khải, quyền này do Chúa thiết lập và giữ vai trò Phụng sự lời Chúa và Dân Chúa. Quyền Giáo Huấn có thể là thường và bất thường, khả ngộ và bất khả ngộ. Về phương diện hiệp nhất lời xác quyết sau đây thực là lời tối quan trọng: Quyền Giáo Huấn phải tuân theo Lời Chúa, dầu quyền này gây khó khăn cho nhiều Kitô hữu khác.
29* – Trong chương này Công Đồng bàn về những điểm gay go nhất của Thánh Kinh: linh ứng, vô ngộ, chú giải.
Trước tiên là vấn đề linh ứng: lược đồ thứ nhất đề cập dài dòng về đề mục này, nhưng theo lối trình bày của các sách thần học nên bị giới hạn vì những tranh luận chưa ổn thỏa. Với lập trường không nghiêng về luận đề này hay luận đề kia, Công Đồng dạy:
- a) Có linh ứng Thánh kinh, nghĩa là có ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần theo hai nghĩa: mạc khải các chân lý (ví dụ cho các ngôn sứ) và tác động giúp viết thành văn bản để lưu truyền, đồng thời bảo đảm kết quả.
- b) Linh ứng ảnh hưởng đến toàn bản chính lục, bởi lẽ một cuốn sách được liệt kê vào bản chính lục là vì nó được linh ứng. Bản văn lập lại giáo thuyết của Vaticanô I, và thêm rằng giáo thuyết về linh ứng Thánh Kinh là di sản của các Tông Đồ (đức tin tông truyền)
- c) Liên quan giữa các Thánh sử và Chúa Thánh Thần, Đấng linh ứng: Chúa là tác giả, còn thánh sử là người viết sách; người ta tránh gọi các thánh sử là “dụng cụ”, vì như vậy có vẽ quá thụ động. Cũng vậy, người ta sẽ tránh hiểu Thiên Chúa như tác giả “chính” mà thích nói Ngài là tác giả “siêu việt”. Thiên Chúa không là “thánh sử” nhưng Ngài dùng con người dầu vẫn để con người hoàn toàn tự do và tự phát (với lỗi lầm của họ). Đây là nền tảng của việc phê bình Thánh Kinh.
30* – Kết quả của linh ứng là chân lý của Thánh kinh. Trước kia lược đồ 2 chỉ nói vô ngộ, sau đó bản thảo thứ ba lại thêm: vô ngộ và chân lý; trong bản thảo thứ tư, ủy ban thêm tĩnh từ “cứu rỗi” vào danh từ “chân lý”. Điều này gây nên một cuộc tranh luận rộng lớn và sôi nổi, vì người ta cho rằng như thế sẽ hạn chế tính cách vô ngộ của Thánh kinh vào những điều siêu nhiên và đi ngược lại Giáo Huấn của các Đức Giáo Hoàng gần đây. Ủy Ban chấp nhận đề nghị sửa đổi của 73 Nghị Phụ: “vì phần rỗi chúng ta” trong khi nhấn mạnh là linh ứng không bị giới hạn vào một phần nào của Thánh Kinh. Nhưng câu này chỉ rõ đặc tính riêng biệt của chân lý Thánh Kinh, nghĩa là chiều hướng để hiểu đúng những xác quyết của Thánh Kinh. Chân lý Thánh kinh chứa đựng trong những lời xác quyết hay lời giáo huấn của các tác giả chứ không trong những từ ngữ. Những giáo huấn ấy không bị giới hạn trong “đức tin và luân lý” bởi vì các “chân lý cứu độ” cũng bao gồm cả những sự kiện lịch sử. Nên lưu ý là bản văn không nói: “những chân lý”, nhưng nói: “chân lý” theo số ít và chân lý ở đây hiểu theo nghĩa Thánh Kinh nghĩa là hàm chứa sự biểu lộ của Thiên Chúa chân thật (chứ không theo nghĩa duy trí). Chân lý lịch sử của Thánh Kinh không nhất thiết hệ tại việc dựng lại các sự kiện theo thời gian và hoàn cảnh xã hội, nhưng hệ tại sự giải thích các sự kiện, nghĩa là dưới phương diện những sự kiện đó diễn tả mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa.
31* – Công Đồng dạy vấn đề giải thích rất cần thiết để hiểu Thánh Kinh. Khoa giải thích tìm tòi những phương pháp văn chương của thánh sử để khám phá điều thánh sử muốn dạy. Thiên Chúa muốn dạy cũng điều đó và có lẽ còn hơn nữa: đó là vấn đề nghĩa thâm sâu (sensus plenior) mà Ủy Ban không muốn phán quyết.
32* – Đoạn này bàn về việc phê bình Thánh Kinh nghĩa là nhằm phân tách “ khía cạnh nhân loại” của Thánh Kinh: văn thể, phạm trù trí thức, hoàn cảnh lịch sử v.v… cũng như bất cứ một tác phẩm văn chương nào. Tầm quan trọng của “văn loại” được đặt lên hàng đầu, dầu không kê khai đầy đủ. Ta nên lưu ý điểm này: phải công nhận sự hiện hữu của nhiều loại lịch sử khác nhau, vì trong các cuốn sách của Thánh Kinh quan niệm lịch sử không có cùng một nghĩa như nhau. Ý tưởng sâu xa được hiểu ngầm ở đây là Lời Thiên Chúa đã trở thành lời thực sự của con người, nghĩa là lời nhập thể, như trình bày ở số 13.
33* – Khoa học chưa đủ cho việc chú giải của Kitô giáo. Cần phải có đức tin. Nhà chú giải cũng phải được hướng dẫn bởi cùng một Thánh Thần linh ứng các thánh sử. Tiếp đến, phải đặt mỗi cuốn sách trong toànbộ Thánh Kinh vì nó không có cùng một giá trị như nhau. Phải nhớ rằng Mạc Khải còn tiến triển: Tân Ước soi sáng Cựu Ước và Thánh Truyền của Giáo Hội lại soi sáng Tân Ước. Sau cùng, việc chú giải và Quyền Giáo Huấn phải cộng tác theo cùng một mục đích là làm phát triển sự hiểu biết Mạc Khải.
34* – Số này bàn về lịch sử ơn cứu độ trong Cựu Ước, xét như là cuốn sách và kế hoạch cứu rỗi. Thiên Chúa đã phán bằng những biến cố trong lịch sử dân Do Thái và do các ngôn sứ (nghĩa rộng): đã có Lời Chúa trước khi có sách, nhưng bây giờ Lời Chúa được tồ trử trong sách. Nên lưu ý đến ý hướng của việc tuyển chọn dân Do Thái: phổ quát tính của ơn cứu độ. Cựu Ước gồmnhiều giai đoạn: giai đoạn các tổ phụ đánh dấu bằng lời hứa, giai đoạn Môisen thiết lập d6an Chúa trong Giao Ước, giai đoạn ngôn sứ trong đó Mạc Khải được khai triển.
35* – Số này bàn về việc Kitô hữu đọc Cựu Ước. Ba ý tưởng: tương quan giữa Cựu và Tân Ước, bản tính của sách Cựu Ước, giá trị của Cựu Ước đối với cá Kitô hữu. Chúa Kitô là ý nghĩa của Cựu Ước: của cả các biến cố cũng như các sách. Tất cả những gì xảy ra trước Chúa Kitô đều có mục đích chuẩn bị. Việc tuyển chọn dân Do Thái, lịch sử, văn hóa của dân này v.v… đều chuẩn bị chính con người, ngôn ngữ và tôn giáo của Chúa Kitô v.v… Bản văn nói đến những “khuôn mẫu”: không nên hiểu theo nghĩa kỹ thuật, nhưng theo ý là những biến cố quá khứ trở thành những “mẫu”, những “hình” của một biến cố tương lai nhờ đó những biến cố kia được trọn nghĩa. Việc liệt kê giá trị của Cựu Ước hơi lộn xộn. Bản văn nhắc đến tính cách tạm thời của Cựu Ước để đề phòng chống lại nền luân lý tiền Kitô giáo của dân Do Thái. Người ta nói đến “kho tàng kinh nghiệm” để bênh vực các thánh vịnh, chống lại những người muốn loại bỏ thánh vịnh ra khỏi phụng vụ.
36* – Sự duy nhất của Cựu Ước và Tân Ước. Đoạn này bàn cách lẫn lộn về các sách vừa Tân Ước vừa Cựu Ước. Tân Ước đã thu gồm toàn thể Cựu Ước, ngoại trừ tính cách bất toàn và tạm thời. Như thế nghĩa là các sách Cựu Ước được sát nhập vào lời rao giảng Phúc Âm như thành phần của một Mạc Khải duy nhất. Do đó, chúng hiện ở trong một văn mạch mới, chúng đã được biến đổi vì đã đạt được ý nghĩa tối hậu. Nê lưu ý rằng không những Tân Ước soi sáng Cựu Ước, mà Cựu Ước còn giúp cắt nghĩa Tân Ước, chẳng hạn phải hiểu Isaia Đệ Nhị dưới ánh sáng của thánh Phaolô và ngược lại.
37* – Trong lược đồ thứ nhất, chương này hầu như có tính cách hoàn toàn biện giáo và tiêu cực. Sau đó người ta đã soạn thảo lại theo một tinh thần cởi mở hơn. Nhưng thực sự, chương này hầu như chỉ bàn về các Phúc Âm.
38* – Bản văn này phát xuất từ bản thảo thứ ba. Câu thứ nhất được coi như luận đề mà cả số này trình bày. Theo tư tưởng của chương I, Tân Ước là chính Chúa Giêsu và công trình của Người. Trong khi hoàn tất Cựu Ước, Tân Ước mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như Người Cha. Bản văn không nói Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo Hội (Giáo Hội xuất hiện thời các Tông Đồ). Như thế người ta chấp nhận sự phân biệt giữa “nước Chúa” và Giáo Hội (x. GH 5, 8). Hoạt động của Chúa Giêsu được đặt trong lịch sử và ngày nay vẫn còn thực hiện. Bản văn dùng động từ ở thì hiện tại: Ngài “kéo” thay vì “đã kéo” của lược đồ trước. Tiếng “mầu nhiệm” chỉ Chúa Kitô và công trình của Người chứ không đúng y như nghĩa của Thánh Phaolô. Lưu ý mục đích truyền giáo của Mạc Khải.
39* – Giá trị chứng tích của các sách Phúc Âm là thiết yếu đối với Giáo Hội. Nhưng trước kia cách thế bênh vực giá trị đó không được thích hợp cho lắm khi đặt nến tảng trên hai lý do: các thánh sử trung thực và thấu đáo vấn đề. Điều này buộc phải chứng minh rằng các ngài là Tông Đồ hay môn đệ các Tông Đồ; nhưng theo lịch sử, sự kiện đó không chắc chắn. Vì thế bản văn bỏ qua vấn đề này. Cùng với Thánh Truyền, Công Đồng xác nhận rằng các Phúc Âm “bắt nguồn từ các Tông Đồ” và truyền lại cho chúng ta dưới hình thức “theo Thánh Mattheô…” v.v… Nguồn gốc này là lời rao giảng hay Phúc Âm truyền khẩu. Mối liên lạc giữa lời rao giảng và Thánh Kinh được Chúa Thánh Thần bảo đảm; nguồn mạch của Phúc Âm được rao giảng là chính Chúa Kitô.
40* – Lịch sử tính của các sách phúc âm là điểm quan trọng của Hiến Chế. Lược đồ thứ nhất nặng tính bút chiến và kết án những lầm lạc của những người nghi ngờ những câu chuyện thời thơ ấu và những cuộc hiện ra v.v… thái độ nàynghịch với tinh thần của Đức gioan XXIII (x. AAS 54 (1962) 792) và giả thuyềt một ý niệm về chân lý lịch sử nặng tính cách khoa học hơn là Thánh Kinh, như có thể tìm thấy nơi những văn kiện chính thức, ví dụ: các bản văn phải tương xứng với những sự kiện như đã xảy ra trong thực tế” (Tđ. Spir. Paraclitus, EB số 457). Nhưng khoa chú giải đã minh chứng rằng hiểu lịch sử Thánh Kinh theo cách này là sai. Các nhà bác học cũng đã minh chứng việc soạn thảo Phúc Âm rấy phức tạp: phải lưu tâm đến những truyền thống khác nhau, những thích ứng trong khi rao giảng, vai trò của các cộng đoàn sơ khai v.v… Nhiều Nghị Phụ sợ rằng lịch sử tính sẽ bị lu mờ nếu lướt qua phương pháp “văn minh sử”. Các cuộc bàn cải sôi nỗi, kéo dài và các Nghị Phụ đã xin Đức Giáo Hoàng can thiệp để tính “lịch sử” được giữ lại trong bản văn. Trong khi đó, để giúp giải quyết các vấn đề, Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh đã phát hành một Huấn Thị về Phúc Âm (14-5-1964). Sau cùng bản văn được chấp thuận đã loại bỏ mọi nghi ngờ về lịch sử tính của Phúc Âm; đó là một chân lý mà Giáo Hội quả quyết bằng đức tin và lý trí (đã và đang quả quyết). Nhưng “lịch sử” trong Phúc Âm lại là một loại đặc biệt, phải xác định sau khi nghiên cứu văn loại của từng đoạn. Phúc Âm truyền đạt cho chúng ta “những điều chân thực và trung thực” về Chúa Giêsu; như thế nghĩa là: những điều chính thực không bị thay đổi; phải hiểu thiếng “điều chân thực” theo như đã nói ở số 11. Tóm lại, Phúc Âm không phải là một bản phúc trình về những biến cố đã qua, nhưng là một lời truyền bá những sự kiện quan hệ cho ơn cứu độ.
41* – Số này không bị thay đổi mấy. Nó xác quyết rằng Tân Ước, ngoài Phúc Âm, còn có nhiều bản văn khác, nhưng không nêu ra danh sách. Theo Công Đồng những bản văn này có nội dung:
- a) thần học: dùng những lý chứng để xác quyết sứ mẹnh của Chúa Kitô. Số này chấp nhận có sự tiến triển nội tại của Tân Ước, đặc biệt trong Kitô học và Giáo Hội học.
- b) giảng thuyết: lời rao giảng về Chúa Kitô.
- c) lịch sử: Công vụ Tông Đồ thuật lại những “bước đầu” của Giáo Hội; người ta đã dùng chữ “bước đầu” thay cho chữ “tổ chức” ở trong bản thảo trước.
- d) tiên tri: loan báo ngày kết thúc (Khải Huyền).
- e)
42* – Chương này phát xuất từ bản thảo thứ hai. Sau só trong bản thảo thứ ba, người ta sát nhập những yếu tố của Lược đồ về Lời Thiên Chúa do văn Phòng Hiệp Nhất soạn thảo. Tựa đề đã thay đổi nhiều lần. Trước tiên tựa đề là : về Thánh Kinh trong Giáo Hội ; như thế có vẻ quá thần học, nên đã được thay đổi thành về việc dùng Thánh Kinh trong Giáo Hội ; nhưng tựa đề này lại có vẻ quá tầm thường. Sau cùng người ta chấp nhận tựa đề hiện tại; tuy nhiên không phải là không gặp chống đối, vì nhiều người muốn dùng tiếng “Lời Chúa” để bao gồm cả Thánh Truyền nữa.
Chương này có tính cách mục vụ. Thực vậy, “đời sống Giáo Hội” bao gồm tất cả mọi hoạt động hướng nội cũng như hướng ngoại, như thế gồm cả việc truyền giáo.
43* – Trong những bản thảo trước, số này mang ự đề : “Nỗi bận tâm của Giáo Hội đối với Thánh Kinh”. Nhưng tựa đ này lại nghiêng về khía cạnh tự vệ. Sau đó các Nghị Phụ chấp nhận tựa đề hiện tại : “Giáo Hội tôn kính Thánh Kinh”. Người ta chỉ có thể nói rõ hơn khi so sánh với Thân Thể Chúa ; sự so sánh này gặp phải nhiều chống đối vì nhiều Nghị Phụ nghĩ rằng những khuynh hướng tân thời muốn giảm thiểu sự hiện diện Chúa trong phép Thánh Thể và hình như được bản văn này khuyến khích. Nhưng Ủy Ban vẫn duy trì bản văn vì sự so sánh này có tính cách cổ truyền và hơn nữa sự hợp nhất giữa Lời Chúa và Bí Tích lại rất quan trọng trong đời sống Giáo Hội (Phụng Vụ). Tầm quan trọng của Thánh Kinh được diễn tả trong câu “cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh .. là qui luật tối cao hướng dẫn đức tin”. Đây là một qui luật khách quan, vì được linh ứng (Thiên Chúa nói với chúng ta qua Thánh Kinh) ; thứ đến nó là qui luật bất biến, vì Thiên Chúa không thay đổi và .. theo cách nói nhân loại – điều gì đã được viết thì đã viết rồi. Bởi thể hậu quả là đời sống Giáo Hội luôn được nuôi dưỡng bởi cùng một nguồn mạch duy nhất và điều đó bảo đảm sự liên tục trong lịch sử cũng như sự bình đẳng trong các nền văn hóa khác nhau.
44* – Việc dịch Thánh Kinh ra các sinh ngữ là một nhu cầu truyền giáo (x. TG 22; MV 44), làm ột đòi hỏi của Công Giáo tính nơi Giáo Hội (x. GH 13) và là một đòi hỏi của việc hiệp nhất (x. Giáo Hội 15, HN 14-17, 19-23). Mỗi Giáo Hội dịch Thánh Kinh ra tiếng bản xứ là làm giàu thêm Giáo Hội phổ quát, vì tất cả bản dịch giả thiết một sự thấu hiểu mới về Mạc Khải.
45* – Sốn ày nhấn mạnh nhiệm vụ tông đồ của các tiến sĩ Giáo Hội và khuyến khích những nhà Chú giải và thần học cộng tác với nhau. Nhìn nhận tầm quan trọng của khoa học để đào sâu Lời Chúa, mặc dầu Giáo Hội có quyền quyết định tối hậu những nghi ngờ (Quyền Giáo Huấn) nhưng đồng thời lại đề phòng chống thứ khoa học (chú giải và thần học) quá cằn cõi về phương diện mục vụ.
46* – Ở đây người ta bàn về vai trò Thánh Kinh trong thần học. Vậy Thánh Kinh là nền tảng :là điểm khởi phát và là điểm qui chiếu. Thánh Kinh làm cho nền thần học trẻ vì đem ại những đề mục và những viễn tượng mới. Thánh Kinh là “linh hồn của thần học” (x. ĐT 16), là nguyên lý sự sống, là nguồn nghị lực của thần học. Nhưng Thánh Kinh không phải là tất cả, vì thần học cũng phải quan tâm đến Thánh Truyền, đến những suy tư của người khác, những trực giác của tín hữu v..v.. và phải luôn luôn biết tạo nên những tổng hợp mới để hiểu thêm Thánh Kinh. Cũng vậy, tín điều phải qui chiếu về Thánh Kinh để thấu hiểu và đào sâu trong ánh sáng Thánh Kinh.
47* – lần đầu tiên trong lịch sử một Công Đồng kêu gọi đọc Thánh Kinh. Những người phục vụ Lời Chúa : Linh Mục, Phó Tế, các người dạy giáo lý .. mang một trách vụ lớn. Tuy nhiên vài Nghị Phụ bối rối và coi lời khuyến khích tổng quát đọc Thánh Kinh là một mối nguy hiểm. Phải đọc “theo tinh thần Giáo Hội “, vì vậy người ta nhấn mạnh đến kinh nghiệm như là một câu đáp lại lời Thiên Chúa, Đấng nói trong Thánh Kinh.
Lãnh tụ của phong trào ày là các Giám Mục, các ngài có bổn phận kiểm soát và khuyến khích. Sau cùng, Thánh Kinh được ban cho Giáo Hội để Giáo Hội mang đến cho mọi người, vậy phải khuyến khích các đợt xuất bản dành cho người ngoài Kitô giáo. Đó là một sáng kiến truyền giáo tốt đẹp.
48* – Số này là lời kết luận của chương VI, chứ không phải của tất cả Hiến Chế. Tinh thần của đoạn này cũng là tinh thần truyền giáo sâu xa. Nên lưu ý việc chuyển tiếp từ việc đọc sách đến Lời Chúa trong câu thứ nhất, vì Thánh Kinh chứa đựng “kho tàng Mạc Khải” của Thiên Chúa cho Giáo Hội, và vì Giáo Hội sẽ luôn sống bằng Lời Chúa như chính Ngôi Lời.


