HIẾN CHẾ VỀ PHỤNG VỤ THÁNH (Sacrosanctum Concilium)
Lời giới thiệu
Các mầu nhiệm Phụng Vụ là ” chóp đỉnh ” sinh hoạt của Giáo Hội đồng thời cũng là nguồn mạch các nhân đức. Dầu Giáo Hội luôn luôn sống mật thiết với các mầu nhiệm phụng vụ, nhưng trong lịch sử, trước Vaticanô II chưa có Công Đồng nào lại dành cả một Hiến chế để bàn tới Phụng Vụ với một thời gian khá lâu để chuẩn bị, thảo luận và biểu quyết.
Một vài Công Đồng cũng đã đặt vấn đềnhưng chỉ chú trọng đặc biệt tới ít nhiều nguyên tắc hoặc lên án những sai lầm tín lý.
Thực là may mắn, một Phong Trào Phụng Vụ đã nảy sinh trong thời chúng ta. Đây là ” một trong những hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa đã ban cho kỷ nguyên này ! “1. Nhờ đó, người taa đã bắt đầu suy luận về Phụng vụ một cách sâu sa và chín chắn, mang tính chất thần học và mục vụ. Và vì vậy, Dân Chúa ngày một ý thức về vai trò quan trọng của Phụng Vụ trong đời sống Kitô hữu và Giáo Hội.
Hiến chế về “phụng vụ thánh” của Công Đồng Vaticanô II hướng dẫn phong trào này đến chỗ tuyệt đỉnh và mở ra một kỷ nguyên mới cho đời sống cầu nguyẹn của Giáo Hội.
Hoàn cảnh lịch sử
Trước Công Đồng Triđentinô (kết thúc vào năm 1563) nền Phụng Vụ theo nghi thức Roma đã bị coi là quá cổ kính. Phụng Vụ được phát triển và thay đổi nhưng chỉ phát triển ở những yếu tố bên ngoài theo sáng kiến nhân loại bằng cách thêm những cử điệu và nghi thức trang trọng. Các nghi thức này chắc chắn chỉ thích hợp với thời đại với nhiều người chưa biết đọc biết viết và cho một số ít người trí thức hiểu được tiếng La tinh, một ngôn ngữ hầu như là chính thức của một xã hội chịu quá nhiều ảnh hưởng của giáo sĩ và Giáo Hội.
Thế rồi, thế giới ngày một biến đổi với việc phát minh ngành báo chí, với thuyết nhân bản, với những trào lưu văn hóa, với văn chương lãng mạn (do đó, tiếng La tinh suy yếu dần ), với xã hội ngày càng bị trần tục hóa v. v. .. Theo đà tiến hóa này, tâm thức con người cũng thay đổi sâu xa về quan niệm đối với Giáo Hội và việc phụng tự. Do đó Phụng Vụ trở nên một thứ kinh nguyện ngày càng xa lạ và bí nhiệm đối với dân chúng. Họ tham dự với lòng tin tưởng như thự động và am thầm chẳng khác gì chứng kiến một động tác riêng của hàng giáo sĩ. Trong khi đó, họ chỉ nuôi dưỡng lòng đạo bằng cách gia tăng nhiều việc đạo đức cá nhân.
Công Đồng triđentinô cũng nhìn thấy rõ sự kiện này 2. Tuy nhiên Công Đồng chú trọng bảo vệ giá rị một vài chân lý của các bí tích bị phái Tin Lành đem ra mổ xẻ: như sự công hiệu của bí tích, hiến tế tạ ơn, sự hiện diện thực sự của Chúa trong phép Thánh Thể, chức linh mục thừa tác… Với chủ đích chống lại sự cach tân của Tin Lành, Công Đồng phải dừng lại ở lập trường bảo thủ với những nguyên tắc khắt khe. Thái độ này đương nhiên hạn chế “việc cập nhật hóa” Phụng Vụ.
Từ khi cải tổ sách Phụng Vụ theo huấn thị Công Đồng Triđentinô người ta nói rằng Phụng Vụ Roma có tính cách bất động và cố định vì những qui luật dường như bất di bất dịch. Ngôn ngữ dùng ở đó là ngôn ngữ chết và coi như không thể thay thế được nữa. Các nghi thức cổ truyền này phải được duy trì và cử hành theo đúng như đã ghi chú tỉ mỉ trong sách chữ đỏ, cho dù nhiều người không hiểu nguồn gốc và dấu hiệu tượng trưng bí nhiệm của chúng.
Các qui tắc Phụng Vụ này áp dụng cho mọi nơi, cả các nơi truyền giáo nữa (vì sau Công Đồng Triđentinô là thời kỳ hưng thịnh của công cuộc truyền giáo nên có nhiều cứ đạo mới được thành lập). Khắp mọi nơi đều áp dụng như nhau: cùng những qui tắc tỉ mỉ bất di bất dịch, cùng một ngôn ngữ, một tâm tình tây phương như vậy. Giáo Hội không để ý tới tâm tình, thói quen và phong tục tôn giáo nơi các dân tộc được chiếu giãi ánh sáng Phúc Âm.
Tại Á Châu, một vài đề nghị đã được đem ra mổ xẻ để giải quết vấn đề thích nghi Phụng Vụ trong các xứ tuyền giáo. Việc thảo luận đưa tới những cuộc bút chiến sôi động nảy lữa chung quanh các nghi thức ( chẳng hạn nghi thức Trung Hoa ). Kết cục, vấn đề không đi tới thành quả nào cả.
Mãi tới cuối thế kỷ vừa qua, ý hướng cải tiến do Chúa Thánh Thần linh ứng mới xuất hiện trong Giáo Hội và đã đem lại kết quả tốt đẹp cho nền Phụng Vụ. Chính ý hướng này đã dọn đường cho việc “cập nhật hóa” của Công Đồng Vaticanô II.
Phong Trào Phụng Vụ
Những người tiên phong của phong trào cải tiến Phụng Vụ cuối thế kỷ vừa qua chính là tu sĩ các dòng Benedictô Solesmes, Beuron, Maria Laach v.v… Công lao của họ được Đức Giáo Hoàng Piô XII ghi nhận trong Thông Điệp Mediator Dei ( số 4 ).
Tuy nhiên người tiên phong đích thực của phong trào này chính là Thánh Giáo Hoàng Piô X vị được mệnh danh là Giáo Hoàng của Bí Tích Thánh Thể. Trong tự sắc ” Tra le Sollicitudini “, ngày 22 tháng 11 năm 1903, Ngài mong muốn giáo hữu tham gia tích cực vào các nghi lễ Phụng Vụ, nguồng mạch thứ nhất và cần thiết để nuôi dưỡng tinh thần Kitô Hữu (số 3).
Cố gắng đầu tiên của phong trào này là tìm hiểu và đào sâu chính bản chất nội tại của Phụng Vụ. Những suy tư này mang đặc tính lịch sử, thần học và mục vụ.
Phong trào đã khơi lại nét phong phú chứa đựng trong các nghi thức cũ, đồng thời đem ra ánh sáng những nỗ lực liên lỉ của Giáo Hội qua các thời đại trong việc thích ứng những qui tắc nòng cốt Phụng Vụ cho mọi thời đại và cho mọi dân tộc.
Từ triều đại Thánh Giáo Hoàng Piô X cho đến triều đại Đức Giáo Hoàng Piô XII, Giáo Hội không ngừng tiếp tục việc cải tiến. Lúc ban đầu, việc cải tiến này có vẻ dò dẫm và dè dặn rồi mạnh bạo dần theo đà của việc tra cứu học hỏi và hoàn cảnh thuận để phổ biến.
Người có công lao lớn lao nhất là Đức Giáo Hoàng Piô XII với thông điệp Mediator Dei ( 1947 ). Ngài để lại cho Giáo Hội tài liệu giáo huấn có giá trị đầu tiênvề Phụng Vụ. Thông điệp Mediator Dei cho đến nay vẫn là một trong những nguồn mạch cốt cánvà nền tảng về thần học của Phụng Vụ. Chính Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh của Công Đồng Vaticanô II đã thâu nhận và trích dẫn dồi dào từ kho tàng này; đôi khi Công Đồng còn đồng hóa các tư tưởng, các lời nói của Thông Điệp này như là của mình và đã không sử dụng tới dấu hiệu để phân biệt hay ghi xuất xứ. Hiến Chế chỉ thêm vào đó các yếu tố Thánh Kinh, cộng đoàn và mục vụ cho thích hợp với thời đại và tinh thần Công Đồng3.
Lược trình Hiến Chế
Lược đồ của Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh được một Ủy Ban tiền Công Đồng soạn thảo dưới sự hướng dẫn của Đức Hồng Y Gaetano Cicongani. Sau khi Ngài từ trần, lược đồ được chuyển sang Đức Hồng Y Arcadio Larraona4. ” Đây là lược đồ được cứu xét đầu tiên ở Công Đồng và cũng có thể là lược đồ giá trị nhất theo tầm quan trọng của nó trong đời sống Giáo Hội “5.
Ngày 14-11-1962, trong một phiên họp khoáng đại, lược đồ đã được các Nghị Phụ bỏ phiếu chấp thuận trên nguyên tắc. Kết quả có 2162 phiếu thuận và 46 phiếu chống. Sau đó các chuyên viên Công Đồng bắt tay vào việc cứu xét những điểm đề nghị tu chỉnh. Công việc kéo dài từ 17-11 đến 6-12-1962 và đầu kỳ họp II năm 1963.
Ngày 4-12-1963 Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, trước kia, khi còn là Hồng Y, đã tích cực ủng hộ lược đồ, bây giờ long trọng công bố Hiến Chế với tư cách thủ lãnh của Giáo Hội.
Nội dung giáo lý
Hiến Chế được chia thành 7 chương hàm chứa nhiều nguyên tắc thần học và những tiêu chuẩn hướng dẫn việc canh tân và phát triển hữu hiệu nền Phụng Vụ.
1– Trước hết chương I phác họa nền tảng thần học của Phụng Vụ.
Phụng Vụ là công cuộc cứu rỗi của Chúa Kitô (số 5). Công cuộc này còn được tiếp tục và tồn tại mãi trong Giáo Hội, nhất là qua các lễ nghi hiến tế tạ ơn và các bí tích (số 6).
Chính Chúa Kitô, Đấng hiện diện trong Giáo Hội, dùng các dấu chỉ bí tích dâng lên Thiên Chúa lễ vật toàn thiện và thánh hóa nhân loại, là Thủ lãnh tối cao của Giáo Hội, Người cầu nguyện với dân Người và ban phát nguồn ơn cứu chuộc.
Do đó, những động tác Phụng Vụ chỉ là sự thực thi củ thể chức vụ tư tế của Chúa Kitô trong Giáo Hội : chức tư tế luôn luôn hiện và hoạt động, nó tự biểu lộ qua các nghi thức khả giác và hữu hiệu (số 7).
Đồng thời, Phụng Vụ là sự chờ đợi, là sự nếm trước Phụng Vụ trên trời, nơi mà tất cả chúng ta đang tiến về như những người lữ hành (số 8).
Như thế, Phụng Vụ là ” chóp đỉnh ” các sinh hoạt Giáo Hội (số 10) tuy không phải là sinh hoạt độc nhất của Giáo Hội . thực vậy, sứ mệnh tiên quyết của Giáo Hội là mời gọi nhân loại trở về với nguồn ơn cứu rỗi qua việc rao giảng Phúc Âm ( số 9 ) và chuẩn bị tâm hồn mọi người sẵn sàng tiến tới các mầu nhiệm thánh qua những việc đạo đức ( như cầu nguyện riêng, nguyện ngắm, việc sùng kính, sám hối v.v… ) (số 11).
Sau phần dẫn nhập, Công Đồng bước sang những chỉ dẫn tổng quát cho việc cải tiến Phụng Vụ.
Để tín hữu xác tín đầy đủ và tham gia trọn vẹn các nghi lễ một cách ý thức và chủ động, trước hết phải huấn luyện các chủ chăn (số 14-18), rồi đến lượt các ngài sẽ huấn luyện lại cho các tín hữu (số 19).
Ngoài ra, còn phải tiếp tục cố gắng cải tiến cách tốt đẹp toàn bộ Phụng Vụ theo những qui tắc sau đây (số 21) :
Qui tắc tổng quát liên quan trực tiếptới những vị điếu hành Phụng Vụ trong Giáo Hội ( số 22-25 ).
Qui tắc dựa trên đặc tính cộng đoàn của Phụng Vụ ( số 26-32 ).
Qui tắc dựa trên bản chất giáo dục và mục vụ của Phụng Vụ ( số 33-36 ). Chẳng hạn đề cập đến ngôn ngữ được sử dụng trong các nghi lễ (số 35).
Qui tắc thích nghi Phụng Vụ với tâm tình và hoàn cảnh dân tộc, địa phương (số 37-40).
Cuối cùng Hiến Chế phân tích đời sống Phụng Vụ trong phạm vi các giáo phận (số 41, 45-46), giáo xứ ( số 42-43 ) và quốc gia(44).
2– Chương II là những chỉ dẫn để cải tiến trong thánh lễ. Một vài chi tiết đặc biệt và mới mẻ đáng kể như : lời nguyện giáo dân ( số 53), tiếng bản xứ (số 54), rước lễ hai hình (số 55), lễ đồng tế(số 57).
3– Chương III đề cập tới các bí tích khác và các á bí tích với những lời diễn nghĩa thần học giá trị ( số 59-61 ).
4– Chương IV bàn đặc biệt về kinh nhật tụng, một phận vụ quan trọng khác để thi hành sứ mệnh tư tế của Chúa Kitô và Giáo Hội . đó là việc dâng lên Thiên Chúa ” bài các chúc tụng ” và lời cầu khẩn cho thế gian được ơn cứu rỗi ( số 83 ).
5– Chương V của Hiến Chế trình bày của năm Phụng Vụ : sau phần nhập đề thần học sau xa (số 102-105), Công Đồng nêura một số qui tắc nhằm nâng cao giá trị của ngày Chúa Nhật (106), duyệt lại chu kỳ phụng vụ với ý hướng nhấn mạnh đặc biệt mầu nhiệm Phục Sinh (107-108), Mùa Chay (109-110) và các ngày lễ mừng các thánh (111).
6 – Chương VI và VII dành cho thánh nhạc và thánh nghệ, là một trong những phần nòng cốt của Phụng Vụ. Số 119 đặc biệt nói về việc áp dụng thánh nhạc trong các xứ truyền giáo.
Tuyên ngôn về việc tu chỉnh niên lịch
Trong phần phụ thêm của Hiến Chế, các Nghị Phụ muốc xác định thái độ về việc sửa lại niên lịch dân sự cho chính xác6.
Từ hơn một thế kỷ nay, trong phạm vi khoa học, thương mại và chính trị, nhiều người đã nghiên cứu việc tu chỉnh niên lịch dân sự. Đã hai lần, Tòa Thánh đã được hỏi ý kiến về vấn đề này, nhưng Đức Lêô XIII, nắm 1897, Đức Piô XI, năm 1921, đều trả lời rằng : để giải quyết một vấn đề quá tế nhị như vậycó lẽ phải cần tới thẩm quyền của Công Đồng chung7.
Trong khi soạn thảo lược đồ Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, một vài Nghị Phụ lên tiếng muốn rằng Công Đồng nên đi bước đầu trong việc tu chỉnh một niên lịch chính xác và cố định. Nhưng vấn đề chưa ngã ngũ hoàn toàn, nên các Nghị Phụ dành quyết định cho Tòa Thánh, để tự do hành động, nhất là đối với sáng kiến sửa đổi của xã hội dân sự (chẳng hạn như Liên Hiệp Quốc ).
Tuy nhiên Công Đồng cũng nêu ra vài qui tắc quan trọng nhắc Tòa Thánh lưu tâm khi có việc thay đổi :
Phải thận trọng trong việc thay đổi lễ Phục Sinh nếu có, vì trong quá khứ vấn đề đó đã là lý do chia rẽ giữa các Kitô hữu.
Cố gắng duy trì luật lễ bảy ngày với ngày Chúa nhật, và ” theo nguyên tắc ” không thêm một ngày nào khác ngoài tuần lễ.
(1) Yves Congar O.P. Unam Sanctam 66, trg 14.
(2)Xem Dz 946 ( 1749 ) v.v…Những người ” cải cách ” đã bàn luận sôi nổi một vài vấn đề Phụng Vụ : như vấn đề ngôn ngữ trong Phụng Vụ, rước lễ hai hình v.v… nhưng tiếc thay, họ bàn luận theo những chiều hướng sai lạc.
(3) Xem Pierre Marie Gy O.P. Unam sanctam 66, trg 117.
(4) Cha Annibale Bugnini, linh mục thừa sai, chủ nhiệm tờ ” Ephemerides Liturgicae ” là thư ký và chuyên viên của Hiến Chế.
(5) Đức Giáo Hoàng Phaolô VI công bố Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh ngày 4-12-1963.
(6) Chẳng hạn năm 1922 Hội Nghị Liên Hiệp Không Gian nhóm họp tại Rôma để thảo luận về vấn đề này. Bên Mỹ Châu có ” World Calendar Association ” để phổ biến một hệ thống niên lịch cố định, khá phức tạp. Có lẽ trong một thời gian gần đây Liên Hiệp Quốc sẽ có sáng kiến về vấn đề này.
(7) Về các tài liệu này, xin xem Chauve Berrand. La question de la Paque et du calendrier. Paris.
PHAOLÔ GIÁM MỤC
TÔI TỚ CÁC TÔI THIÊN CHÚA
HIỆP NHẤT VỚI CÁC NGHỊ PHỤ CỦA THÁNH CÔNG ĐỒNG
ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ
Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh
LỜI MỞ ĐẦU
1.Thánh Công Đồng chủ tâm phát huy đời sống Kitô giáo ngày càng tốt đẹp hơn nơi các tín hữu, thích ứng những định chế nào có thể thay đổi cho hợp với những nhu cầu của thời đại chúng ta, cổ võ những gì khả dĩ góp phần hiệp nhất mọi người đã tin theo Chúa Kitô, và kiện cường những gì hỗ trợ cho việc mời gọi mọi người vào lòng Giáo Hội. vì những lý do đặc biệt đó, Thánh Công Đồng thấy có bổn phận phải lo canh tân và cải tiến Phụng Vụ.
Vai trò của Phụng vụ trong mầu nhiệm Giáo Hội
2. Thật vậy, nhờ Phụng Vụ, nhaất là trong hiến tế tạ ơn, mà “công cuộc cứu chuộc chúng ta được thực hiện”1. Phụng vụ góp phần rất nhiều để giúp các tín hữu qua cuộc sống mình diễn tả và biểu lộ cho những người khác mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Giáo Hội chân chính, một Giáo Hội có đặc tính vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình vừa nhiệt thành hoạt động chiêm niệm, vừa hiện diện nơi trần gian nhưng đồng thời cũng là lữ khách. Tuy nhiên, trong Giáo Hội, yếu tố nhân loại qui hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh, những thực tại hữu hình qui hướng về những thực tại vô hình, hoạt động hướng về chiêm niệm và những gì hiện tại phải hướng về thành đô tương lai là nơi chúng ta đang tìm kiếm. Hằng ngày, Phụng Vụ kiến tạo những người bên trong Giáo Hội thành đến thành trong Chúa, thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong Thánh Thần để đạt tới mức tuổi sung mãn của Chúa Kitô, đồng thời Phụng Vụ còn kiện cừng sức lực cho họ cách lạ lùng để rao giảng Chúa Kitô : và như vậy Phụng Vụ cũng bày tỏ cho những kẻ bên ngoài thấy Giáo Hội như một dấu chỉ nêu cao trước mặt các dân nước ngõ hầu con cái Thiên Chúa đang tản mác được qui tụ nên một6 cho tới khi thành một đàn chiên theo một chủ chăn.
Hiến chế Phụng Vụ Thánh và các Nghi lễ khác
3. Vì vậy để cổ võ và canh tân Phụng Vụ, Thánh Công Đồng thấy cần nhắc lại những nguyên tắc sau đây và thiết định tiêu chuẩn thực hành.
Trong những nguyên tắc và tiêu chuẩn này, có một số có thể và phải áp dụng không những cho Nghi Lễ Roma mà cho hết mọi Nghi Lễ khác, mặc dầu những tiêu chuaẩn thực hành sau đây phải hiểu là chỉ có lyên quan tới Nghi Lễ Roma thôi, ngoại trừ những gì tự bản chất có liên hệ đến những Nghi Lễ khác.
Tôn trọng tất cả các Nghi Lễ được chính thức công nhận
4. Sau hết, vẫn trung thành vâng phục truyền thống, Thánh Công Đồng tuyên bố rằng : Giáo Hội Mẹ Thánh coi tất cả những Nghi Lễ đã được chính thức công nahn đều bình đẳng trên pháp lý và được tôn trọng như nhau, lại muốn các Nghi Lễ ấy được duy trì trong tương lai và được cổ võ bằng mọi cách. Thánh Công Đồng cũng ước mong, nơi nào cần, các Nghi Lễ ấy phải được cẩn thận tu chỉnh toàn diện theo tinh thần của truyền thống lành mạnh và được bổ sung bằng một sinh khí mới mẻ phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu hiện tại.
(1) Kính dâng lễ Chúa Nhật thứ 9 sau lễ Hiện xuống
(2) Xem Dth 13, 14
(3) Xem Eph 2, 21-22
(4) Xem Eph 4, 13
(5) Xem Is 11, 12
(6) Xem Gio 11, 52
(7) Xem Gio 10, 16
CHƯƠNG I: NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT ĐỂ CANH TÂN VÀ CỔ VÕ PHỤNG VỤ THÁNH
I. BẢN TÍNH VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHỤNG VỤ THÁNH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
5. Thiên Chúa “muốn mọi người được cứa rỗi và nhận biết chân lý” (1Tin Mừng 2, 4), “trước kia Ngài đã dùng các sứ ngôn mà phán bảo tổ phụ nhiều laần, nhiều cách” (Dth 1, 1) và và khi đã đến thời kỳ viên mãn, Ngài đã sai Con mình, gôi Lời nhập thể, được Thánh Thần xức dầu, để rao giảng Phúc Âm cho người nghèo, cứu chữa những người khổ tâm8 như là “thấy thuốc của thể xác và tinh thần”9, Trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại10. Vì thế, chính bản tính nhân loại của Người, hiệp làm một với Ngôi Lời, đã nên khí cụ phần rỗi chúng ta. Cho nên, nhờ Chúa Kitô “Thiên Chúa đã hoàn toàn nguôi lòng để chúng ta được giao hòa với Ngài và cho chúng ta được phụng thờ Ngài một cách hoàn bị”11.
Công cuộc cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn bị như thế đã được tiên báo trong dân Cựu Ước qua những kỳ công vĩ đại của Chúa nay lại được Chúa Kitô hoàn tất, nhất là nhờ mầu nhiệm vượt qua gồm cuộc Khổ Nạn hồng phúc, việc Sống Lại từ cõi chết và Lên Trời vinh hiển của Người. Nhờ đó “Người đã chết tiêu diệt sự chết để tiêu diệt sự chết cho chúng ta và sống lại để tái lập sự sống”12. Vì chính từ cạnh sườn Chúa Kitô chịu chết trên thập giá, đã phát sinh bí tích lạ lùng là Giáo Hội13.
Công cuộc cứu chuộc tiếp nối do Giáo Hội được thực hiện trong phụng vụ
6. Vì vậy, như Chúa Kitô được Chúa Cha sai đi thế nào, chính Người cũng sai các Sứ Đồ đầy tràn Thánh Thần đi như vậy để trong khi rao giảng Phúc Âm cho mọi thụ tạo14, không những các ngài loan báo Con Thiên Chúa đã dùng cái chết và sự sống lại của Người hầu giải thoát chúng ta khỏi quyền lực Satan15 và sự chết, và daẫn đưa chúng ta vào nước Chúa Cha, nhưng còn để các ngài thực thi công việc cứu chuộc mà các ngài đã loan báo, nhờ Hiến Tế và các Bí Tích, trung tâm điểm của toàn thể đời sống phụng vụ. Như vaậy, nhờ Phép Rửa Tội, con người được sát nhaập vào mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô : cùng chết, cùng chịu mai táng, cùng sống lại16, họ lãnh nhận tinh thần của kẻ làm con “nhờ đó chúng ta xưng hô Chúa là Abba, Cha” (Rm 8, 15) và như thế trở nên kẻ phụng thờ đích thực mà Chúa Cha tìm kiếm17. Cũng hế, mỗi lần khi ăn tiệc của Chúa họ loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Chúa lại đến18. Do đó, chính trong ngày Hiện Xuống, ngày Giáo Hội xuất hiện nơi trần gian, “những người tiếp nhận lời giảng” của Phêrô “đều chịu phép Rửa Tội”. Họ “kiên tâm theo lời giáo huấn của các Sứ Đồ, thông công trong việc bẻ bánh và cầu nguyện …ngợi khen Thiên Chúa và được lòng toàn dân” (CvSđ 2, 41-42.47). kể từ đây, Giáo Hội không bao giờ bỏ việc cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh : gồm việc đọc “những lời chỉ về Người trong Thánh Kinh” (Lc 24, 27) và việc cử hành Lễ Tạ Ơn trong đó hiện tại hóa “sự vinh thắng và khải hoàn nhờ cái chết của Người”19, đồng thời “cảm tạ Thiên Chúa về ân huệ khôn tả của Ngài” (Eph 1, 12) nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.
Sự hiện diện của Đức Kitô trong Phụng vụ
7. Để chu toàn công việc lớn lao ấy, Chúa Kitô hằng hiện diện trong Giáo Hội nhất là trong các hoạt động phụng vụ. Người hiện diện trong Hy Lễ không những con người thừa tác viên, vì “như xưa Người đã tự dâng mình trên thập giá thì nay chính Người cũng dâng mình nhờ thừa tác vụ của các linh mục”20, mà nhất là hiện diện thực sự dưới hai hình Thánh Thể. Người hiện diện trong các Bí Tích nhờ quyền năng của Người ; vì thế, ai rửa tội chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo Hội. Sau hết Người hiện diện khi Giáo Hội cầu khẩn và hát Thánh Vịnh như chính Người đã hứa : “Đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, Thầy sẽ ở giữa họ” (Mt 18, 20).
Thực vậy, trong công cuộc vĩ đại tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn hảo và thánh hóa mọi người, Chúa Kitô hằng kết hiệp với Giáo Hội là hiền thê rất quý yêu và Giáo Hội kêu cầu Người như Chúa mình và nhờ Người phụng thờ Chúa Cha Hằng Hữu.
Vì thế, Phụng Vụ đáng được xem là việc thực thi chức vụ tư tế của chính Chúa Giêsu Kitô, trong đó công cuộc thánh hóa con người được biểu tượng nhờ những dấu chỉ khả khác và được thể hiện hữu hiệu cách khác nhau theo từng dấu chỉ, và trong đó việc phụng tự công cộng1* vẹn toàn được thực thi nhờ Nhiệm Thể Chúa Kitô, nghĩa là Đaầu cùng các chi thể Người.
Do đó, vì là công việc của Chúa Kitô tư tế và Thân Thể của Người là Giáo Hội, nên mọi việc cử hành phụng vụ đều là hành vi chí thánh và không một hành vi nào khác của Giáo Hội có hiệu lực bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đảng cấp.
Phụng vụ trần gian và phụng vụ trên trời
8. Trong Phụng Vụ trần gian chúng ta tham dự qua vyệc nếm trước Phụng Vụ trên trời được cử hành trong thành đô Giêeusalem, nơi chúng ta là lữ khách đang tiến về, ở đó Chúa Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa như một thừa tác viên của cung thánh, của nhà tạm đích thực22 ; Phụng vụ trần gian là nơi chúng ta hợp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh các ngợi tôn vinh Chúa : trong khi Kính nhớ các Thánh, chúng ta hy vọng được thông phần và đoàn tụ với các ngài : chúng ta mong đợi Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, cho đến khi Người là sự sống chúng ta sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ cùng xuất hiện với Người trong Vinh quang23.
Phụng Vụ phải là hoạt động duy nhất của Giáo Hội
9. Phụng Vụ Thánh không phải là tất cả hoạt động của Giáo Hội. Vì chưng con người cần được mời gọi để tin và hoán cải trước khi có thể đến tham gia Phụng Vụ : ” làm sao họ kêu khấn Đấng họ không thể tin ? làm sao tin Đấng họ không được nghe ? làm sao nghe được nếu không có người rao giảng, nếu không được sai đi ? ” ( Rm 10, 14-15 ).
Vì thế, Giáo Hội loan truyền xứ điệp cứu rỗi cho những kẻ không tin để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật cùng Đấng Ngài sai là Chúa Giêsu Kitô, và thống hối, từ bỏ con đường của họ24. Còn đối với các tín hữu, Giáo Hội phải luôn luôn rao giảng đức tin và sự thống hối, giúp họ sẵn sàng đón nhận các bí tích, dạy họ giữ trọn những điều Chúa Kitô đã truyền25, thúc giục họ tham gia mọi công cuộc bác ái, đạo đức và Tông Đồ; những công cuộc này biểu lộ rằng : các Kitô hữu không thuộc về thế gian nhưng là ánh sáng thế gian và chính họ tôn vinh Chúa Cha trước mặt mọi người.
Phụng Vụ là tột đỉnh và nguồn mạch đời sống Giáo Hội
10. Tuy nhiên, Phụng Vụ là tột đỉnh mà hoạt động của Giáo Hội qui hướng về, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội. thực vậy, các công lao khó nhọc trong việc Tông Đồ đều nhằm làm cho mọi người , trở nên con cái Chúa nhờ đức tin và Phép Rửa, cùng nhau qui tụ ngợi khen Chúa giữa lòng Giáo Hội, thông phần Hiến Tế và ăn tiệc của Chúa.
Đáp lại, chính Phụng Vụ thục giục các Kitô hữu đã được không thỏa ” nhiệm tích phục sinh “, phải ” hiệp nhất trong tình yêu “26. Phụng Vụ nguyện cầu ” cho họ sống trung thành với điều họ đã lãnh nhận nhờ đức tin “27. Việc lập lại giao ước của Chúa với con người trong Lễ Tạ Ơn nung nấu và lôi cuốn các tín hữu vào trong tình yêu nồng nàn của Chúa Kitô. Vì thế, Phụng Vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch từ đó ân sủng tuôn tràn trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách vô cùng hữu hiệu đồng thời Thiên Chúa được tôn vinh : đây cũng là cứu cánh của mọi công việc khác của Giáo Hội.
Cần thiết chuẩn bị tâm tình mỗi người
11. Nhưng muốn thâu đạt được hiệu năng toàn vẹn ấy, tín hữu cần đến tham dự Phụng Vụ Thánh với tâm hồn chuẩn bị sẵng sàng, ngay thẳng, hòa hợp tâm trí mình với ngôn ngữ và cộng tác với ân sủng trên trời, để đừng lãnh nhận ân sủng đó một cách vô ích28. Vì vậy, các chủ chăn không những chỉ chủ tâm tuân giữ các lề luật trong các hoạt động Phụng Vụ để cử hành thành sự và hợp pháp mà thôi, nhưng còn lo cho các tín hữu tham dự Phụng Vụ một cách ý thức, linh động và hữu hiệu.
Phụng Vụ và sự cầu nguyện cá nhân
12. Tuy nhiên, đời sống thiêng liêng không chỉ giới hạn trong việc tham dự Phụng Vụ Thánh. Bởi vì người Kitô hữu được mời gọi cầu nguyện chung, nhưng cũng phải vào phòng riêng âm thầm cầu nguyện cùng Chúa Cha29, hơn nữa phải cầu nguyện không ngừng30 như lời vị Sứ Độ đã dạy. Chính vị Sứ Đồ này còn dạy chúng ta phải mang trong mình sự khổ chế của Chúa Giêsu để sự sống của Người được phô diễn trong xác thể hay chết của chúng ta31. Vì vậy, trong hy lễ chúng ta nguyện xin Chúa ” khi chấp nhận của lễ thiêng liêng được dâng lên ” biến chúng ta trở nên ” lễ vật vĩnh cửu “32 của Ngài.
Các việc đạo đức khơi nguồn từ Phụng Vụ
13. Những việc đạo đức của Kitô hữu bao lâu còn hợp với các lễ luật và qui tắc của Giáo Hội thì còn được khích lệ rất nhiều, nhất là khi thi hành theo chỉ thị của Tông Tòa.
Những nghi lễ và việc phụng tự của các Giáo Hội địa phương cũng được đặc biệt tôn trọng. Khi được thi hành theo các chỉ thị của Giám mục, hợp với tập tục hoặc các sách đã được chính thức phê chuẩn.
Nhưng phải chiếu theo các mùa Phụng Vụ mà xếp đặt các việc ấy hòa hợp với Phụng Vụ Thánh để có thể được coi là phát xuất từ Phụng Vụ và tiến dẫn chúng đến Phụng Vụ, vì tự bản chất, Phụng Vụ vượt xa các việc ấy.
II. CÔNG CUỘC HUẤN LUYỆN PHỤNG VỤ VÀ THAM DỰ LINH ĐỘNG
14. Mẹ Giáo Hội tha thiết ước mong toàn thể tín hữu được hướng dẫn tham dự các việc cử hành Phụng Vụ cách trọn vẹn ý thức và linh động. Do chính bản tính, Phụng Vụ đòi hỏi việc tham dự như thế; lại nữa, nhờ Phép Rửa Tội, việc tham dự Phụng Vụ trở thành quyền lợi và bổn phận của dân Kitô giáo ” là dòng giống được lựa chọn, là tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, là dân được tuyển chọn ” ( 1P 2,9; 2, 4-5 ).
Trong việc canh tân và cổ võ Phụng Vụ Thánh, cần phải hết sức lưu tâm đến việc tham dự trọn vẹn và linh động của toàn dân : vì Phụng Vụ là nguồn mạch trước tiên và thiết yếu từ đó các tín hữu múc lấy tinh thần Kitô giáo đích thực. Vì thế, nhờ việc huấn luyện thích hợp, các chủ chăn phải nhiệt tâm tìm đạt được điều trên trong mọi hoạt động mục vụ.
Tuy nhiên, sẽ không có hy vọng nào đạt tới kết quả đó, nếu trước tiên chính các chủ chăn không thấm nhuần sâu rộng tinh thần và năng lực của Phụng Vụ cũng như không đủ khả năng giảng dạy Phụng Vụ. Vì vậy, cần chú trọng việc huấn luyện Phụng Vụ cho hàng giáo sĩ. Do đó, Thánh Công Đồng ra lệnh thiết lập những điều sau đây.
Huấn luyện giáo sư Phụng Vụ
15. Các giáo sư được ủy nhiệm giảng dạy Phụng Vụ Thánh trong các chủng viện, các học viện dòng tu và các phân khoa thần học, phải được đào tạo đầy đủ về phận vụ của họ tại các trường chuyên môn đặc biệt.
Việc giảng dạy Phụng Vụ
16. Trong các chủng viện và các học viện dòng tu, môn Phụng Vụ Thánh phải được đặt vào hàng các môn học cần thiết và quan trọng, còn trong các phân khoa thần học, phải được kể vào hàng các môn chính. Hơn nữa, môn Phụng Vụ phải được giảng dạy dưới khía cạnh vừa thần học vừa lịch sử, vừa tu đức, mục vụ và luật pháp. Ngoài ra giáo sư của các môn học khác, nhất là Tín Lý Thần Học, Thánh Kinh, thần học tu đức và mục vụ, phải chú tâm làm nổi bật mầu nhiệm Chúa Kitô và lịch sử cứu rỗi theo những đòi hỏi nội tại của riêng từng môn ngõ hầu làm sáng tỏ rõ ràng mối liên hệ giữa các môn ấy với Phụng Vụ và tính cách phối hợp của chương trình đào tạo linh mục.
Huấn luyện Phụng Vụ cho chủng sinh
17. Các giáo sĩ trong các chủng viện và tu viện phải được huấn luyện về Phụng Vụ cho đời sống thiêng liêng nhờ được dẫn dắt thích đáng để có thể lĩnh hội và tham dự những nghi lễ thánh với trọn tâm hồn, nhờ việc cử hành các mầu nhiệm thánh, cũng như việc thực hành các việc đạo đức khác đã được thấm nhiễm tinh thần Phụng Vụ Thánh. Họ tập quen tuân giữ các lề luật Phụng Vụ sao cho tinh thần Phụng Vụ ảnh hưởng sâu rộng trên đời sống tại các chủng viện và tu viện.
Trợ giúp các linh mục có trách nhiệm mục vụ
18. Các linh mục triều hay dòng hiện làm việc trong vườn nho Chúa phải được trợ giúp bằng mọi phương tiện thích hợp để luôn luôn lĩnh hội đầy đủ hơn những gì họ thi hành trong các thừa tác vụ thánh, ngõ hầu sống và thông ban đời sống Phụng Vụ cho các tín hữu đã được ủy thác cho họ.
Huấn luyện Phụng Vụ cho các tín hữu
19. Những chủ chăn phải chú trọng và kiên tâm theo đuổi việc huấn luyện Phụng Vụ cho các tín hữu và cho họ tích cực tham dự bên trong lẫn bên ngoài, tùy theo tuổi tác, hoàn cảnh, cách sống và trình độ văn hóa tôn giáo của họ. Nhờ vậy các chủ chăn sẽ chu toàn được một trong những trọng trách chính yếu của người trung thành phân phát các mầu nhiệm Thiên Chúa. Trong việc này, các ngài phải dẫn dắt đoàn chiên mình bằng cả lời nói lẫn gương lành.
Các phương tiện truyền thông và Phụng Vụ
20. Các công tác truyền thanh và truyền hình về những hoạt động thánh, đặt biệt về việc cử hành thánh lễ, phải được thận trọng thực hiện cách xứng đáng dưới sự hướng dẫn và bảo lãnh của người đủ khả năng do các Giám mục ủy thác.
III. VIỆC CANH TÂN PHỤNG VỤ THÁNH
21. Mẹ Thánh Giáo Hội , vì muốn dân Kitô giáo thâu đạt được dồi dào những ân sủng trong Phụng Vụ Thánh cách chắc chắn hơn, nên nhiệt thành ước mong đảm trách việc canh tân đại cương Phụng Vụ. Vì chưng Phụng Vụ gồm phần bất biến do Thiên Chúa thiết lập, và những phần có thể thay đổi; những phần này có thể hoặc phải sửa đổi theo dòng thời gian, nếu chẳng may có những yếu tố ít đáp ứng và ít phù hợp với bản tính thâm sâu của Phụng Vụ.
Trong việc canh tân này, phải tu chỉnh các văn bản, các nghi lễ làm sao cho chúng diễn tả rõ ràng hơn những thực tại thánh mà chúng biểu thị và để Kitô hữu có thể dễ dàng thấu triệt các thực tại ấy ngày càng nhiều càng tốt, cũng như có thể tham dự bằng việc cử hành những nghi lễ ấy cách trọn vẹn, linh động và cộng đồng.
Vì vậy, Thánh Công Đồng ấn định những qui tắc tổng quát sau đây
A. Các qui tắc tổng quát Việc điều hành Phụng Vụ thuộc thẩm quyền hàng Giáo Phẩm
22. 1. Việc điều hành Phụng Vụ Thánh chỉ tùy thuộc thẩm quyền của Giáo Hội : nghĩa là thuộc quyền Tông Tòa và chiếu theo kiu tắc luật pháp, cũng thuộc quyền Giám mục.
2. Chiếu theo quyền hạn do luật ban, việc điều hành Phụng Vụ trong các giới hạn đã định, cũng tùy thuộc các loại Hội Đồng Giám mục khác nhau, được thiết định hợp pháp, có thẩm quyền trong từng địa phương.
3. Vì vậy, tuyệt đối không một ai khác, dầu là linh mục, được tự quyền thêm bớt hay thay đổi một điều gì trong Phụng Vụ.2*
Truyền thống và tiến bộ
23. Để duy trì truyền thống lành mạnh, nhưng đồng thời vẫn mở rộng đường cho những tiến bộ chính đáng, khi phải tu chỉnh từng phần riêng biệt của Phụng Vụ, phải luôn luôn bắt đầu bằng việc nghiên cứu kỹ lưỡng thần học, lịch sử và mục vụ. Hơn nữa còn phải lưu tâm đến những luật lệ tổng quát về cơ cấu và tinh thần Phụng Vụ cũng như kinh nghiệm do việc canh tân Phụng Vụ mới đây và do các đặc miễn đã ban cho nhiều nơi. Sau hết, chỉ nên đổi mới khi lợi ích thiết thực và chắc của Giáo Hội đòi hỏi va sau khi biết chắc những hình thái mới, một cách nào đó, được triển nở có hệ thống từ những hình thái sẵn có.
Ngoài ra, còn cần phải để phòng hết sức có thể để tránh những dị biệt đáng ể về nghi lễ giữa các miền lân cận.
Thánh Kinh và phụng vụ
24. Trong việc cử hành Phụng Vụ. Thánh Kinh giữ vai trò tối quan trọng. Thực vậy, người trích từ Thánh Kinh những bài để đọc, để dẫn giải trong bài giảng, cũng như những ca vịnh để hát. Chính nhờ nguồn cảm hứng và sức phấnkhởi của Thánh kinh mà xuất phát những lời kinh, lời nguyện và những bài phụng các, đồng thời những động tác và các biểu hiện trở thành có ý nghĩa. Vì vậy, để xúc tiến việc canh tân, phát triển và thích ứng Phụng Vụ, cần phải phát huy lòng mộ mến Thánh Kinh đậm đà, đã được truyền thống khả kính của các nghi lễ Đông Phương và Tây Phương minh chứng.
Tu chỉnh sách phụng vụ
25. Cần phải nhớ đến các chuyên viên và tham khảo ý yến các Giám mục thuộc mọi miền khác nhau trên thế giới để tu chỉnh các sách Phụng vụ càng sớm càng hay.
B. Các qui tắc do bản chất Phụng vụ xét như là hoạt động phẩm trật và cộng đoàn
26. Các hoạt động Phụng Vụ không phải là những hoạt động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo Hội, “bí tích hiệp nhất”, dân thánh được qui tụ và tổ chức dưới quyền các Giám Mục33.
Vì vậy, các hoạt động đó thuộc về toàn Thân Thể Giáo Hội, diễn tà và ảnh hưởng trên Giáo Hội ; tuy nhiên có lyên quan khác nhau vời từng chi tiết, tùy theo khác biệt về phẩm trật phận vụ và sự tham dự sống động.
Ưu tiên cho việc cử hành cộng đồng
27. Mỗi khi các nghi lễ, theo bản chất đặc biệt của chúng, gồm việc cử hành cộng đồng với sự tham gia đông đảo và linh hoạt của giáo dân thì nên nhớ rằng phải quý chuộng việc cử hành cộng đồng hơn việc cử hành đơn độc và riêng rẽ.
Điều này có giá trị đặc biệt cho việc cử hành Thánh Lễ, dầu bản tính hay là tín hữu, khi chu toàn phận sự mình, nên thi hành trọn vẹn những gì thuộc lãnh vực mình tùy theo bản chất sự việc và những qui tắc Phụng Vụ.
Cử hành phụng vụ nghiêm chỉnh
28. Trong các cuộc cử hành phụng vụ, mỗi người. Dù là thừa tác viên hay là tín hữu, hi chu toàn phận sự mình, nên thi hành trọn vẹn những gì thuộc lãnh vực tùy theo bản chất sự việc và những qui tắc phụng vụ.
Ngay cả những người giúp lễ, đọc sách, dẫn giải và những người thuộc các đoàn cũng chu toàn tác vụ phụng vụ đích thực. Vì vậy, họ phải thi hành phận sự mình với lòng đạo đức chân thành và trong trật tự, phù hợp với tác vụ trọng đại ấy, và là điều dân Chúa có quyết đòi hỏi nơi họ.
Vì vậy, tùy theo khả 8ang mỗi người, họ phải nhiệt tâm thuấn nhuần tinh thần Phụng Vụ và học hỏi để hoàn tất các phần vierc mình theo đúng nghi thức và có trật tự.
Giáo dân tham dự linh động
30. Để phát huy việc tham gia linh động, cần phải cổ võ những lời tung hô của dân chúng, những câu đối đáp, những bài các vịnh, tiến khúc thánh các và cả những động tác hoặc cử chỉ, thái độ của thân xác. Cũng cần phải giữ sự thinh lặng linh thiêng đúng lúc.
31. Trong khi tu chỉnh các sách phụng ụ,cần phải thận trọng lưu tâm để những qui tắc chữ đỏ cũng tiên liệu cả vai trò của các tín hữu.
Phụng vụ và giai cấp xã hội
32. Trong Phụng vụ, ngoại trừ sự biệt đãi do phận sự phụng ụ và Chức Thánh, cũng như vinh dự dành cho các viên chức dân sự hợp theo qui luật Phụng Vụ, sẽ không có một thiên vị nào đối với các tư nhân hay địa vị, hoặc trong các nghi lễ hoặc trong các sự long trọng bên ngoài.
C. Các qui tác do bản chất giáo dục và mục vụ của Phụng Vụ
33. Mặc dù chính yếu của Phụng Vụ và mục vụ của Phụng vụ Thánh là phụng hờ Thiên Chúa uy quyền, nhưng lại có giá trị lớn lao trong yệc giáo dục tín hữu34. Thực vậy, trong phụng vụ, Thiên Chúa nói với dân Ngài ; Chúa Kitô vẫn còn rảo giảng Phúc Âm. Phần dân chúng thì đáp lại Thiên Chúa qua tiếng hát lời kinh.
Hơn nữa, linh mục, hiện thân Chúa Kitô, chủ tọa cộng đoàn, dâng những lời kinh lên Thiên Chúa nhân danh toàn thể dân thánh và mọi người tham dự, sau hết, những dấu hiệu hữu hình được dùng trong Phụng Vụ Thánh để diễn tả những thực tại vô hình của Thiên Chúa là những dấu hiệu đã được Chúa Kitô và Giáo Hội tuyển chọn. Do đó, không những khi đọc “những gì đã chép cốt để dạy ta” (Rm 15, 4) mà cả khi Giáo Hội cầu nguyện, các hát, hay hành động, đức tin của những người tham dự được nuôi dưỡng, tâm trí họ được nâng lên cùng Chúa để họ sáng suốt tuân phục Ngài và lãnh nhận ân sủng Ngài cách dồi dào hơn.
Vì thế, khi canh tân Phụng Vụ, cần phải tuân giữ những quy tắc tổng quát sau đây.
Hòa hợp các nghi lễ
34. Các nghi lễ cấn phải chiếu tỏa nét đơn sơ cao quý, trong sáng, vắng gọn; phải tránh những lập đi lập lại vô ích; phải thích ứng với các tâm lĩnh hội của các tín hữu, cách chung không cần nhiều những lời giải thích
Thánh kinh, bài giảng và bài giáo lý về phụng vụ
35. Để việc liên kết mật thiết giữa nghi lễ và ngôn ngữ được biểu lộ rõ ràng trong Phụng Vụ :
1) Trong các việc cử hành thánh, cần phải tu chỉnh việc đọc Kinh Thánh cho dồi dào hơn, thay đổi hơn và thích hợp hơn.
2) Vì bài giảng thuộc phần hoạt động phục vụ, nên thời gian thích hợp để giảng, theo như nghi lễ cho phép, phải được ghi trong các qui tắc số đỏ. Phải hết sứ trung thành chu toàn thừa tác vụ giảng dạy đúng với nghi lễ. Tiên vàn bài giảng hpải được múc lấy từ nguộn Kinh Thánh và Phụng Vụ vì là rao truyền kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu rỗi hay mầu nhiệm Chúa Kitô. Mầu nhiệm này hằng hiện diện và tác động trong chúng ta, nhgất là qua các cử hành phụng vụ.
3) Đàng khác phải dùng mọi cách để các bài giáo lý tực tiếp nói về Phụng Vụ hơn. Và trong chính các nghi lễ, nấu cần, linh mục hay thừa tác viên có khả năng, phải dự liệu để nói ít lời giáo huấnvắn tắt, nhưng chỉ nói vào những lúc thuận tiện nhất, bằng những lời đã ấn định hay những lời tương tự.
4) phải cổ võ việc suy tôn lời Chúa vào những ngày áp lễ cả, cũng như trong vài ngày lễ Mùa Vọng, Mùa Chay, những ngày Chúa nhật và những ngày lễ trọng, nhất là ở những nơi thiếu linh mục: trong trường hợp này, hoặc vị phó tế hoặc ai khác được Giám Mục ủy nhiệm sẽ điều khiển việc suy tôn lời Chúa.
Ngôn ngữ phụng vụ
36. S 1. Việc dùng tiếng Latinh, trừ luật riêng, phải được duy trì trong các Nghi Lễ La tinh.
S 2. Tuy nhiên, có thể sinh lợi rất nhiều cho dân chúng nếu dùng bản tiếng quốc hoặc trong Thánh Lễ hoặc trong việc cử hành các Bí Tích, hoặc trong những phần khác của Phụng Vụ; cho nên tiếng bản ngữ dễ được chấp thuận, cho sử dụng nhiều hơn nhất là trong các bài đọc và các bài giáo huấn, một số lời nguyên và bài hát, tùy theo những quy tắc được ấn định cho mỗi trường hợp trong những chương sau đây.
S 3. Một khi đã tuân giữ những quy tắc đó, việc ấn định sử dụng và cách dùng tiếng bản quốc thuộc Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương như đã nói trong khoản 22 S 2; nên hội ý với các Giám Mục trong những vùng lân cận nói cùng một thứ tiếng nếu có trường hợp này. Mọi quyết nghị cần phải được Tông Tòa chấp thuận hay chuẩn y.
S 4. Việc phiên dịch bản văn La tinh ra tiếng bản quốc để dùng trong Phụng Vụ phải được Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương nói trên chuẩn y.()3*
D. Các quy tắc để thích nghi với tâm tính và truyên thống của dân tộc
37. Ngoài những lãnh vực liện quan đến đức tin và lợi ích cho toàn thể cộng đoàn, Giáo Hội không nuốn ấn định một hình thức cứng rắn nào, ngay cả trong Phụng Vụ. Hơn nữa, Giáo Hội còn tôn trọng cũng như phát huy những tinh hoa, những đặc tính của các dân nước. Bất cứ những gì trong tập tục, không nên liên quan mật thiết với dị đoan và lầm lạc, đều được Giáo Hội mến với thiẹn cảm, và nếu có thể, còn được bảo tồn trọn vẹn. Hơn nữa, đôi khi những tập tục đó còn được Giáo Hội nhận vào trong phụng vụ đích thực và chân chính.
38. Những khác biệt chính đáng và những thích nghi theo các cộng đoàn, các miền, các dân tộc, nhất là trong các Xứ truyền Giáo, đều được chấp nhận, cả khi tu chỉnh các sách Phụng Vụ miễn sao vẫn duy trì được đồng nhất cốt yếu của nghi lễ Roma. Nên để ý đến quy tắc này trong việc ấn định cơ cấu các nghi lễ và việc thiết lập các quy tắc chữ đỏ.
39. Trong giới hạn được ấn định trong các bản mẫucủa các sách Phụng Vụ. Thẩm quyền Giáo Hội địa phương, như đã nói trong khoản 22 / 2, có quyền xác định những thích nghi, đặc biệt trong việc cử hành các Bí Tích, Á Bí Tích, rước kiệu, ngôn ngữ phụng vụ, thánh nhạc và nghệ thuật. Tuy nhiên, phải theo đúng những quy tắc căn bản trong Hiến Chế này.
Phương cách thích nghi phụng vụ
40. Nhưng vì nhiều nơi và trong nhiều hoàn cảnh, phải cấp bách thích nghi Phụng Vụ sâu xa hơn, và do đó gây nhiều khó khăn hơn, nên:
1) Thẩn Quyền Giáo Hội địa phương, như đã nói trong hkoản 22 / 2 , phải thận trọng và khôn ngoan cứu xátnhững yếu tố nào trong lãnh vực nàythuộc truyền thống và tân tính của mỗi dân tộc có thể được chấp nhận thích đáng vào việc phụng thờ Thiên Chúa. Những thích nghi nếu xét là lợi ích hay cần thiết, phải đệ trình lên Tòa Tổng để được kết nạp và chuẩn y.
2) Để việc thích nghi được thực hiện với sự thận trọng cần thiết, Tòa Tổng sẽ chấp thuận cho Giáo quyền địa phương, khi gặp dịp, được ban phép và điều khiển các cuộc thí nghiệmsơ khởi cần thiết trong vài cộng đoàn thích hợp và trong một thời gian hạn định.
3) Vì luật phụng vụ thường tạo nhiều khó khăn đặc biệt khi thích nghi, nhất là trong các Xứ Truyền Giáo, nên để lập luật này, cần phải có các nhà chuyên môn nề phụng vụ.
IV. VIỆC CỔ VÕ ĐỜI SỐNG PHỤNG VỤ TRONG GIÁO PHẬN VÀ TRONG GIÁO XỨ
41. Giám Mục phải được xem như thượng tế của đoàn chiên; có thể nói rằng sự sống trong Chúa Kitô của các tín hữu phải phát xuất từ ngài và phát xuất từ ngài một cách nào đó.
Vì vậy, mọi người phải hết sức mến chuộng đời sống phụng vụ của giáo phận chung quanh Giám Mục, nhất là tại nhà thờ chính tòa : họ phải xác tín rằng Giáo Hội phải đặc biệt biểu lộ khi toàn thể Dân Thánh Chúa tham dự trọn vẹn và linh động vào những cử hành Phụng Vụ, đặc biệt trong cùng một Lễ Tạ Ơn, trong cùng một kinh nguyện, trước cùng một bàn thờ dưới sự chủ tọa của Giám Mục với linh mục đoànvà các htừa tác viên bao quanh 35.
42. Vì chính Giám Mục không thể đích thân hiện diện mọi nơi mọi lúc trong toàn thể đoàn chiên thuộc Giáo Hội ngài, nên cần phải thiết lập các cộng đoàn tín hữu. Trong đó, nổi bật hơn cả là các giáo xứ được thiết lập tại địa phương dưới quyền một chủ chăn thay mặt Giám Mục: bởi vì một cácxh nào đó, các giáo xứ phản ảnh Giáo Hội hữu hình đã được thiết lập trên toàn cõi đất.
Vì thế phải cổ võ đời sống phụng vụ của giáo xứ và mối liên kết giữa giáo xứ với Giám Mục trong t6am trí cũng như trong hành việc của các tín hữu của hàng giáo sĩ; còn hpải ra sức làm triển nở ý thức cộng đoàn giáo xứ, nhất rong việc cử hành Thánh Lễ cộng đồng ngày Chúa Nhật.
V. VIỆC PHÁT HUY HOẠT ĐỘNG VỀ MỤC VỤ PHỤNG VỤ
43. Lòng nhiệt thành cổ võ và canh tân Phụng Vụ Thánh đáng được xem như một dấu chỉ các ý định quan phòng của Thiên CHúa trên thời đại chúng ta, và như một sự viếng thăm của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội Ngài ; sự kiện này đem lại một đặc điểm nổi bật cho đời sống Giáo Hội, cũng như cho mọi cách thế suy tư và hoạt động đầy tinh thần đạo giáo của thời đại chúng ta.
44. Vì thế, để cổ võ hoạt động về mục vụ tiến xa hơn trong Giáo Hội, Thánh Công Đồng quyết định :
Ủy ban phụng vụ toàn quốc
Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương, như đã nói trong khoản 22S2, nên thiết lập một ủy ban phụng vụ với sự trợ lực của các chuyên viên về phụng ụ, Âm Nhạc, Nghệ Thuật Thánh và mục vụ. Nếu có thể, ủy ban này phải được giúp đỡ bởi một viện Mục Vụ Phụng Vụ gồm nhiều thành phần, và nếu tiện gồm cả giáo dân xuất sắc trong lãnh vực đó. Dưới sự hướng dẫn của Giáo quyền địa phương, như đã nói trên, chính ủy ban này sẽ điều hành mục vụ phụng ụ trong phạm vi quyền hạn mình, cũng như phát huy các cuộc nghiên cứu và thí nghiệm cần thiết mỗi khi phảiđệ trình những điều những điều sửa đổi lên Tông Tòa.
Ủy ban phụng vụ giáo phận
45. Cũng vậy, trong mỗi giáo phận phải có một Ủy Ban Phụng Vụ Thánh để phát huy hoạt động phụng vụ, dưới quyền điều khiển của Giám Mục.
Hơn nữa, đôi khi cũng thích đáng nếu nhiều giáo phận phối hợp với nhau thiết lập một Ủy Ban duy nhất để cùng hội ý phát triển Phụng Vụ.
Các ủy ban khác
46. Ngoài Ủy Ban Phụng Vụ Thánh, trong mỗi giáo phận, khi có thể, cũng phải thiết lập các Ủy Ban Thánh Nhạc và Nghệ Thuaật Thánh.
Ba Ủy Ban này cần phải hiệp lực với nhau làm việc và thường nên liên kết thành một Ủy Ban duy nhất.
CHƯƠNG II: MẦU NHIỆM THÁNH CỦA LỄ TẠ ƠN
Thánh Lễ và mầu nhiệm Vượt qua
47. Trong Bữa Tiệc sau hết, vào đêm bị nộp, Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã thiết lập Hy Tế Tạ Ơn bằng Mình Máu Người, để nhờ đó Hy Tế Khổ Giá kéo dài qua các thời đại cho tới khi Người lại đến, và cũng để ủy thác cho Hiền Thê yêu quí của Người : đây là bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái1, bữa tiệc vượt qua, “trong đó chúng ta ăn Chúa Kitô, được tràn đầy ân sủng và được đảm bảo vinh quang tương lai”2.
Giáo dân tham dự thánh lễ cách tích cực
48. Vì thế, Giáo Hội hằng bận tâm lo lắng cho các Kitô hữu đừng tham dự vào mầu nhiệm đức tin ấy như những khách bàng quang, câm lặng, nhưng nhờ hiểu thấu đáo mầu nhiệm đó qua nghi lễ và kinh nguyện sao cho họ tham dự hoạt động thánh cách ý thức, thành kính và linh động, cho họ được đào luyện bởi lời Chúa, được bổ sức nơi bàn tiệc Mình Chúa, biết tạ ơn Chúa ; trong khi dâng lễ vật tinh tuyền, không chỉ nhờ tay linh mục mà còn liên kết với ngài, họ tập dâng chính mình ; và ngày qua ngày, nhờ Chúa Kitô Đấng Trung Gian3, họ được tiêu hao trong tình kết liên với Thiên Chúa và với nhau, để cuối cùng Thiên Chúa trở nên mọi sự mọi người.
49. Vì vậy, để Hy Tế Thánh Lễ, ngay cả nghi thức bên ngoài, thu đạt được hiệu năng mục vụ trọn vẹn, Thánh Công Đồng quyết định những điều sau đây về Thánh Lễ cử hành có dân chúng tham dự cử hành có dân chúng tham dự, nhất là vào những ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.
Canh tân phần chung của thánh lễ
50. Phải tu chỉnh Nghi Thức Thánh Lễ thế nào để hiểu biểu lộ rõ ràng hơn ý nghĩa riêng biệt của các phần cũng như mối tương quan của chúng, đồng thời để việc tham dự thành kính và linh động của tín hữu được dễ dàng hơn.
Do đó, phải đơn giản các nghi lễ, dù vẫn trung thành duy trì bản chất của chúng. Phải loại bỏ những gì, theo dòng thời gian, được tăng thêm nhiều lần hoặc thêm thắt mà ít lợi ích. Phải theo qui tắc cổ điển của các Thánh Giáo Phụ mà tái lập một số những gì xét là ích lợi hoặc cần thiết đã bị mai một theo thời gian.
Phần Thánh Kinh
51. Để bàn tiệc lời Chúa được phong phú hơn cho các tín hữu, phải mở rộng kho tàng Thánh Kinh hơn để trong một số năm ấn định đọc cho dân chúng nghe phần quan trọng của Thánh Kinh.
Bài giảng
52. Bài giảng dựa vào Thánh Kinh để trình bày trong suốt năm phụng vụ các mầu nhiệm đức tin và những qui tắc của đời sống Kitô giáo rất đáng kính được coi như như một phần của chính Phụng Vụ. Hơn nữa, nếu không có lý do hệ trọng không được bỏ giảng, trong những thánh lễ buộc có dân chúng tham dự.
Lời nguyện giáo dân
53. Phải tái lập “lời nguyện chung” hay “lời nguyện giáo dân”, sau Phúc Âm và bài giảng, nhất là vào những ngày Chúa Nhật và lễ buộc, để khi dân chúng tham dự lời nguyện đó, họ cầu khẩn cho Hội Thánh, cho các nhà cầm quyền, cho những kẻ khốn khổ vì các nhu cầu khác nhau, cho tất cả mọi người và cho phần rỗi của toàn thế giới4*
La ngữ và tiếng bản quốc
54. Có thể dùng tiếng bản quốc trong những Thánh Lễ cử hành có dân chúng tham dự, nhất là trong các bài đọc và “lời nguyện chung” và tùy theo hoàn cảnh địa phương, cả trong những phần dành cho dân chúng, chiếu theo khoản 36 của Hiến Chế này.
Tuy nhiên phải dự liệu sao để các Kitô hữu có thể cùng đọc hoặc cùng hát chung, các phần dành cho họ trong Thánh Lễ ngay cả bằng La ngữ.
Nhưng ở nơi nào việc dùng tiếng bản quốc rộng rãi hơn trong Thánh Lễ được xem là chính đáng, thì phải tuân giữ những điều đã qui định trong 40 của Hiến Chế này.
Rước lễ dưới hai hình
55. Rất đáng khuyến khích các tín hữu tham dự Thánh Lễ hoàn hảo hơn, bằng cách, sau khi linh mục rước lễ, họ cũng lãnh nhận Mình Chúa trong cùng một Hy Lễ đó.
Dù vẫn duy trì các nguyên tắc tín lý do Công Đồng Triden, qui định5, nhưng có thể cho rước lễ dưới hai hình5* của các Giám mục,chiều theo những trường hợp được Tông Tòa minh định, không những cho giáo sĩ, tu sĩ mà cả giáo dân nữa, chẳng hạn cho các tiến chức trong Thánh lễ phong chức, nhũng người tuyên khấn trong Thánh lễ khấn dòng và các tân tòng trong Thánh lễ tiếp diễn sau lễ Rửa tội của họ.
Sự hợp nhất của thánh lễ
56. Có thể nói Thánh lễ gồm hai phần, phần Phụng vụ Lời Chúa và phần Phụng Vụ Thánh Thể, được liên kết chặt chẽ đến nỗi chỉ tạo thành một hành vi phụng thờ duy nhất. Do đó, Thánh Công Đồng tha thiết khuyến dụ những chủ chăn, trong khi dạy giáo lý, phải nhiệt thành dạy dỗ các tín hữu biết tham dự trọn vẹn Thánh lễ, nhất là vào những gày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.
Đồng tế
57. S 1. Việc đồng tế biểu lộ chính đáng tính cách hiệp nhất của chức linh mục, cho đến hiện nay vaẫn được dùng trong Giáo Hội, Đông Phương cũng như Tây Phương. Vì vậy, Thánh Công Đồng muốn mở rộng quyền đồng tế trong những trường hợp sau đây :6*
CHƯƠNG III: CÁC BÍ TÍCH KHÁC VÀ CÁC Á BÍ TÍCH
Bản tính các bí tích
59. Các Bí Tích có mục đích thánh hóa con người, xây dựng thân thể Chúa Kitô và sau cùng là thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, là những dấu chỉ, các Bí Tích còn giữ vai trò giáo huaấn nữa. Không những các Bí Tích giả thiết phải có đức tin, mà còn dùng lời nói và sự vật để nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin đó, do đó, được gọi và các Bí Tích còn nhằm chuẩn bị các tín hữu đón nhaận ân sủng đó một cách hữu hiệu, thờ phượng Chúa đúng cách và thực thi bác ái.
Do đó, việc quan trọng là làm sao cho các tín hữu dễ dàng hiểu được những dấu chỉ của các Bí Tích và hết sức siêng năng đón nhận các Bí Tích được laập ra để nuôi dưỡng đời sống kitô hữu .
Phải soạn thảo một nghi lễ đồng tế mới và phải sát nhập vào Sách Nghi Lễ Giám mục và Sách Lễ Roma.
Các á bí tích
60. Ngoài ra, Giáo Hội Mẹ Thánh còn thiết lập những Á Bí Tích. Đó là những dấu chỉ thánh vì một phần nào phỏng theo những Bí Tích, nhờ đó biểu trưng những hiệu quả – nhất là những hiệu quả thiêng liêng – và thông ban hiệu quả đó nhờ sự bầu cử của Giáo Hội. nhờ các Á Bí Tích, con người được chuẩn bị lãnh nhận hiệu quả chính yếu của các Bí Tích và thánh hóa những hoàn cảnh khác biệt trong cuộc sống.
61. Vì thế, phụng vụ cácc Bí Tích và Á Bí Tích mang lại những hiệu quả này là : đối với các tínhữu đã được chuẩn bị chu đáo, hầu hết mọi biến cố trong cuộc đời được thánh hóa nhờ thánh ân xuất phát từ mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô chịu thương khó, chịu chết và sống lại, vì mầu nhiệm ấy là nguồn mạch ban năng lực cho tất cả các Bí Tích và Á Bí Tích. Hầu như không có việc sử dụng của cải vật chất chính đáng nào lại không có thể đưa tới mục đích thánh hóa con người và ca khen Thiên Chúa.
Canh tân nghi thức
62. Tuy nhiên, trải qua các thời đại có ột số yếu tố đã len lói vào các nghi thức. Bí Tích khiến cho bản chất và mục đích kém phần rõ ràng đối với thời đại chúng ta. Vậy cần phải thích nghi vài điểm trong các nghi thức đó cho hợp với nhu cầu của thời đại chúng ta ; nên trong việc duyệt xét lại những ghi thức ấy, Thánh Công Đồng quyết định các điều sau dây.
Ngôn ngữ
63. Bởi vì việc dùng tiếng bản quốc trong khi cử hành Bí Tích và Á Bí Tích thường rất hữu ích cho dân chúng, nên sẽ được dành cho một địa vị rộng rãi hơn theo những qui tắc sau đây :
a) Tiếng bản quốc có thể được sử dụng trong khi cử hành các Bí Tích và Á Bí Tích theo khoản 36.
b) Theo ấn bản mới của sách Nghi Lễ Roma, Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương, như đã nói trong khoản 22 s 2 của Hiến Chế này, phải soạn thảo càng sớm càng hay các sách nghi lễ riêng thích hợp với nhu cầu từng miền, cả về phương diện ngôn ngữ. Sau khi được Tông Tòa duyệt y, các sách này sẽ được sử dụng trong những miền soạn thảo các sách nghi lễ này hay những sách đặc biệt thu tập các nghi lễ, không được bỏ quyên những huấn thị ghi ở đầu mỗi nghi lễ trong Sách Nghi Lễ Roma, dù là huấn thị về mục vụ, về qui tắc cử hành hay những huấn thị có giá trị xã hội đặc biệt.
Lớp dự tòng
64. Phải tái lập lớp dự tòng cho người lớn, chia thành nhiều giai đoạn và phải thực hiện tùy theo phán quyết của Đấng Bản Quyền địa phương. Nhờ đó, thời gian dự tòng ấn định cho việc huấn luyện tương xứng có thể được thánh hóa bởi những nghi lễ thánh cử hành trong những thời kỳ tiếp nhau.
Canh tân nghi lễ rửa tội
65. Trong các xứ truyền giáo, ngoài những yếu tố nhaập giáo đã có trong truyền thống Kitô giáo, cũng còn được phép công nhận những yếu nhập giáo khác vẫn thấy sử dụng mỗi dân tộc, myễn là các yếu tố có thể thích ứng với nghi lễ Kitô giáo, theo khoản 37- 40 của Hiến Chế này.
66. Phải duyệt lại hai nghi lễ Rửa Tội người lớn, một đơn giản và một trọng thể theo tổ chức dự tòng được cải tổ lại; và sẽ đem vào Sách Lễ Roma một thánh lễ đặc biệt trong dịp “ban phép Rửa Tội”.
67. Phải duyệt lại nghi lễ Rửa tội trẻ nhỏ và thích nghi với thực trạng của trẻ sơ sinh. Hơn nữa, vai trò và bổn phận của cha mẹ cũng như những người đỡ đầu phải được nêu rõ hơn trong chính nghi lễ.
68. Khi có đông người chịu phép Rửa tội, thì trong nghi lễ nên có những thích ứng tùy theo phán quyết của Đấng Bản Quyền địa phương. Ngoài ra còn phải sạon thảo một nghi thức ngắn hơn để các Thầy giảng, nhaất là trong các xứ truyền giáo, và cách chung các tín hữu, có thể sử dụng trong trường hợp nguy tử khi vắng mặt linh mục hay các Thầy phó tế.
69. Thay vì nghi lễ gọi là “nghi thức bổ túc các phép cho các trẻ nhỏ đã rửa tội”, phải soạn thảo một nghi lễ mới, trong đó nói lên rõ ràng và thích hợp hơn về điểm đứa nhỏ khi đã được nhận vào Giáo Hội rồi.
Cũng thế, phải soạn một nghi lễ mới cho những người đã chịu phép Rửa Tội thành sự, nay trở lại đạo thánh Công Giáo, trong đó nêu lên ý nghĩa việc họ được chấp nhận vào mối hiệp thông với Giáo Hội.
70. Ngoài mùa phục sinh, có thể làm phép nước rửa tội ngay trong nghi lễ Rửa tội, theo một công thức vắn tắt hơn đã được chuẩn nhận.
Canh tân nghi lễ thêm sức
71. Cũng phải duyệt lại nghi lễ Thêm sức để làm sáng tỏ hơn mối dây liên lạc mật thiết của Bí Tích này với toàn thể nghi lễ gia nhập Kitô giáo. Vì thế, nên lập lại lời hứa Rửa tội ngay trước khi nhận lãnh Bí Tích Thêm sức.
Nếu thấy thuận tiện, Bí Tích Thêm sức có thể được cử hành trong Thánh Lễ. Còn khi cử hành ngoài Thánh Lễ, phải soạn thảo một công thức để mở đầu nghi lễ.
Canh tân nghi lễ giải tội
72. Nghi lễ và công thức Bí tích Giải Tội phải được duyệt lại để diễn tả rõ ràng hơn bản tính và hiệu quả của Bí tích này.
Canh tân nghi lễ xức dầu bệnh nhân
73. “Bí tích Xức Dầu sau hết” hya đúng hơn còn có thể gọi “Bí tích Xức Dầu bệnh nhân” không phải chỉ là Bì tích dành reing cho những người hấp hối. Do đó, thời gian thuận tiện đẻ nhận Bí tích này chắc chắn là lúc tín hữu bắt đầu nguy tửi vì bậnh tật hay già yếu.
74. Ngoài hai nghi lễ tách biệt nhau là Xức Dầu bệnh nhân và Trao Của Ăn Đàng, phải soạn thảo một bản nghi lễ liên tục, theo đó sẽ xức dầu bệnh nhân sau khi xưng tội và trước khi nhận Của Ăn Đàng.
75. Xức dầu mấy chỗ là việc tùy nghi, và các lời nguyện đọc trong nghi lễ xức dầu bệnh nhân phải được duyệt lại sao cho thích ứng với từng trường hợp của bệnh nhân khi nhận lãnh Bí tích này.
Canh tân nghi lễ truyền chức thánh
76. Các nghi Lễ Phong Chức phải được duyệt lại cả về nghi thức lẫn bản văn. Những lời huấn dụ của Đức Giám Mục ở đầu mỗi nghi lễ Phong Chức hya tấn phong có thể dùng tiếng bản quốc.
Trong nghi Lễ Tấn Phong Giám Mục, tất cả các Giám Mục hiện diện đều có thể đặt tay.
Canh tân nghi lễ hôn phối
77. Nghi lễ cử hành Hôn Phối, hiện có trong sách nghi lễ Roma, phải được duyệt lại và làm phong phú hơn, đễ ý nghĩa ân sủng của Bí tích này được thêm rõ ràng và nhấn mạnh hơn nữa bổn phận của hai vợ chồng.
“Nếu ở miền nào có những tập tục và nghi lễ xứng đáng khác trong khi cử hành Bí tích Hôn Phối, Thánh Công Đồng tha thiết mong ước họ cứ giữ nguyên những tập tục và nghi lễ đó.” 1
Ngoài ra, Thẩm quyền Giáo Hội địa phương, như đã nói trong khoản 22 S 2 của Hiến Chế này, có quyền soạn thảo, theo khoản 63, một nghi lễ riêng, thích hợp với tập quán của các địa phương và các dân tộc. Tuy nhiên, phải duy trì luật này là vị linh mục chủ tọa phải hỏi và nhận lời ưng thuận của vợ chồng kết ước.
78. Thông thường, Hôn Phối được ử hành trong Thánh lễ, sau Phúc Am và bài giảng và trước “lời nguyện giáo dân”. Lời nguyện cho người vợ phải được tu chỉnh hợp thời để nhấn mạnh cả hia vợ chồng cũng có bổn phận phải trung tín với nhau. Lời nguyện này có thể đọc bằng tiếng bản quốc.
Nhưng nếu cử hành Bí tích Hôn phối không có Thánh Lễ, phải đọc bài Thánh Thư và Phúc Am của lễ hôn Phối trước khi bắt đầu nghi lễ và luôn luôn phải chúc lành cho đôi tân hôn.
Canh tân các á bí tích
79. Phải duyệt lại các A Bí Tích, chú ý tới qui tắc căn bản này, là làm cho các tín hữu dễ dàng tham dự một cách ý thức và linh động, lại cũng phải lưu tâm tới những nhu cầu của thời đại chúng ta. Trong khi duyệt lại các nghi thức theo khoản 63 , cũng có thêm các Á Bí Tích mới tùy theo nhu cầu đòi hỏi.
Sẽ có rất ít các nghi lễ làm phép dành riêng, và chỉ ưu tiên cho các Giám Mục và các Đấng Bản Quyền.
Phải dự liệu để những giáo dân nào có đử các đức tính thích hợp đều có thể cử hành một Á Bí Tích, ít là trong những hoàn cảnh đạc biệt và tùy theo phán đoán của Đấng bản Quyền7*.
Canh tân nghi lễ khấn dòng
80. Nghi Lễ Thánh Hiến các Trinh Nữ , đã có trong Sách Nghi Lễ Giám Mục Roma, phải được duyệt lại.
Ngoài ra, phải soạn thảo một nghi lễ khấn dòng và tuyên lại lời khấn sao cho có tính cqch đồng nhất hơn, đơn giản hơn và trang nghiêm hơn những ai khấn dòng hay tuyên lại lời khán trong Thánh Lễ phải dùng nghi thức này, trừ khi có đạc quyền riêng.
Việc khấn doàng cử hành trong Thánh Lễ là một điều đáng khen ngợi.
Canh tân nghi lễ an táng
81. Nghi lễ an táng phải diễn tả rõ ràng hơn tính cách “vượt qua” của cái chết Kitô hữu ,và phải đáp ứng hơn nữa những hoàn cảnh và truyền thống của từng miền, ngay cả về màu sắc phụng vụ
82. Phải duyệt lại nghi lễ an táng nhi đồng và lập một Thánh Lễ riêng.
CHƯƠNG IV: KINH NHẬT TỤNG
Kinh nhật tụng, lời nguyện của Đức Kitô và Giáo Hội
83. Là Thượng Tế của Tân Ước vĩnh cửu, Chúa Giêsu Kitô, khi mang bản tính nhân loại, đã đưa vào cuộc lưu đày ở trần gian này một bản thánh ca được hát lên muôn thuở nơi ngai tòa thiên quốc. Chính Người kết hiệp toàn thể cộng đàon nhân loại với Người và liên kết họ với Người để cùng hát bản thánh ca ngợi khen này.
Thực vậy, Người tiếp tục chức tư tế đó qua chính Giáo Hội của Người : Giáo Hội không những chỉ cử hành Lễ Tạ Ơn, mà còn không ngừng ca tụng Thiên Chúa và cầu bầu cho phần rỗi của cả thế giới bằng nhiều cách khác, nhất là việc chu tòan Kinh Nhật Tụng.
84. Theo truyền thống xa xưa của Kitô giáo, Kinh Nhật Tụng được lập ra để thánh hiến trọn ngày đêm bằng lời ngợi khen Thiên Chúa. Vì, khi bài ca ngợi khen tuyệt diệu đó chu toàn đúng nghi thức do linh mục hoặc do những người khác được ủy nhiệm làm công việc đó theo sự thiết định của Giáo Hội, hoặc các Kitô hữu hợp cùng linh mục cầu nguyện theo thể thức đã được chuẩn nhận, thì đó thực là tiếng của chính Hiền Thê nói với Phu Quân mình, và hơn thế nữa, còn là lời cầu nguyện của Chúa Kitô và thân thể Người dâng lên Thiên Chúa Cha.
85. Bởi vậy, tất cả những người thực hiện những việc đó, vừa chu toàn trách vụ của Giáo Hội, vừa thông phần vinh dự tối cao của Hiền Thê Chúa Kitô, bởi vì họ đứng trước ngai Thiên Chúa, nhân danh Mẹ Giáo Hội chu toàn việc ca khen Ngài.
Giá trị mục vụ của kinh nhật tụng
86. Các linh mục tận tâm với tác vụ mục vụ thánh càng ý thức sống động hơn rằng mình phải tuân giữ lời căn dặn của Thánh Phaolô: “Hãy cầu nguyện không ngừng” vì chưng, chỉ một mình Chúa mới có thể ban hiệu quả và sự tiến triển cho công việc họ làm, Người đã phán: “Không có Ta, các con không thể làm được việc gì “ (Gio 15,5). Vì thế, khi thiết lập hàng phó tế, các sứ đồ đã nói: “Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên tâm cầu nguyện và giảng dạy” (Cv Sđ 6,4).
87. Nhưng để Kinh Nhật Tụng được các Linh Mục hay các phần tử khác trong Giáo Hội chu toàn một cách tốt đẹp và hoàn hảo hơn trong hoàn cảnh hiện tại, Thánh Công Đồng theo đuổi công trình cải tổ mà Tông Tòa đã khởi sự tốt đẹp, và quyết định những điều sau đây về kinh nhật tụng theo nghi lễ Roma.
Cải tổ lại cách xếp đạt các giờ kinh
88. Vì mục đích của Kinh Nhật Tụng là Thánh hóa ngày sống, nên chương trình cổ truyền của Giờ phải được cải tổ cho đúng giờ khắc được chừng nào hay chừng đó. Đồng thời cũng phải lưu ý đến những hoàn cảnh cuộc sống hiện tại nhất là của những người đảm trách công việc tông đồ.
Những quy tắc trong việc canh tân kinh nhật tụng
89. Bởi vậy, việc canh tân Kinh Nhật Tụng phải giữ những nguyên tắc sau đây :
a) Theo truyền thống khả kính của toàn thể Giáo Hội, lời Kinh Ca Ngợi – là giờ kinh ban mai – và Giờ Kinh Chiều – là lời nguyện ban chiều – tạo thành hai cột trụ của Kinh Nhật Tụng, phải được coi là hai giờ chính và phải cử hành như vậy.
b) Giờ Kinh Tối phải được xếp đặt thích hợp vào cuối ngày.
c) Giờ Kinh gọi là Kinh Mai, mặc dù vẫn giữ được tính cách của lời ca tụng ban đêm trong kinh hội, nhưng cần phải thích nghi thế nào để có thể đọc bất cứ giờ nào trong ngày và giờ kinh này sẽ gồn ít ca vịnh hơn và các bài đọc sẽ dài hơn.
d) Giờ Kinh nhất được bãi bỏ.
e) Trong kinh hội, sẽ giữ các giờ nhỏ : giờ ba, giờ sáu, giờ chín .ngoài kinh hội, được phép chọn một trong ba giờ : giờ nào thích hợp hơn với thời khắc mình đọc trong ngày.
Kinh nhật tụng khơi nguồn đạo đức
90. Đàng khác. Vì kinh Nhật Tụng là kinh nguyện công cộng của Giáo Hội, là nguồn đạp đức và của ăn cho kinh nguyện cá nhân, cho nên , vì danh Chúa, nên mong rằng các linh mục và tất cả những ai tham dự Kinh Nhật tụng, khi đọc Kinh Nhật Tụng, hãy hòa hợp tâm trí cùa mình với lời mình đọc. Và để đạt được điều đó cách tốt đẹp hơn,họ phải trau dồi kiến thức về Phụng Vụ và Thánh Kinh nhất là về các Thánh Vịnh.
Tuy nhiên , khi thi hành circ canh tân này, cần phải thích nghi kho tàng cổ kính của Kinh Nhật Tụng Roma thế nào để tát cả những ai được ủy nhiệm điều đó có thể được hưởng nhờ cách phong phú và dễ dàng hơn.
Phân chia các thánh vịnh
91. Để chương trình các Giò Kinh dề cập ở khoản 89 được thực sự tuân giữ, các Thánh Vịnh không còn được phân chia trong vòng một tuần lễ, nhưng trong lhoảng thời gian dài hơn.
Công việc tu chỉnh phần Thánh vịnh, đã khởi sự tốt đẹp,phải được hoàn thành sớm hết sức, nhưng vẫn tôn trọng lối văn La Tinh Kitô giáo , tập quán phụng vụ cả trong khi hát và tất cả truyền thống của Giáo Hội La Tinh.
Xếp đặt các bài đọc
92. Các bài đọc, phải giữ những điều sau đây :
Việc đọc Thánh Kinh, phải xếp đặt thế nào để người ta có thể dễ dàng đến với kho tàng lời Chúa một cách đầy đủ bao quát hơn.
Các bài đọc trích trong tác phẩm các Giáo Phụ, các Tiến Sĩ và Văn Sĩ Giáo Hội phải được chọn lựa kỹ lưỡng hơn.
Truyện các Thánh Tử Đạo hoặc hạnh các Thánh phải phù hợp với chứng cớ lịch sử.
Duyệt xét các thánh thi
93. Nếu thấy thích hợp, các thánh thi phải được hoàn lại hình thức ban đầu và phải gạt bỏ hay thay đổi những gì có vẻ thần thoại hay ít thích hợp với nền đạc đức Kitô giáo. Hơn nữa, nếu cần, cũng chấp nhận thêm những bản khác tìm thấy trong kho tàng các thánh thi.
Thời gian đọc các giờ kinh
94. Để thánh hóa ngày sống cách đích thực hoặc để đọc chính các Giờ Kinh cho có hiệu quả thiêng liêng, trong khi chu tất các Giờ Kinh cần phải giữ thời gian thật mỗi Giờ Kinh đã thiết định.
Buộc đọc kinh nhật tụng
95. Các cộng đoàn buộc giữ kinh hội, ngoài Thánh Lễ tu hội, còn phải cử hành Kinh Nhật Tụng mỗi ngày trong kinh hội đó là:
96. a) Các Hội Dòng Kinh Sĩ, Đan sĩ, Đan Sĩ nam, nữ và các Tu Sĩ khác có bổn phận kinh hội, do Giáo Luật hay hiến Pháp của Dòng, đều phải cử hành toàn Kinh Nhật Tụng.
b) Các Kinh sĩ nhà thờ chánh tòa hoặc nhà thờ kinh sĩ sẽ đọc những phần Kinh Nhật Tụng nào mà luật chung hay luật riêng ấn định.
c) Tuy nhiên, mọi phần tử của các cộng đoàn đó hoặc đã nhận chức thánh hoặc đã khấn trọng thể, trừ các thầy trợ sĩ, buộc phải đọc riêng những Giờ Kinh đã thiết định , nếu họ đã không đọc trong kinh hội.
Các giáo sĩ không buộc giữ kinh hội, nếu đã nhận chức thánh, hằng ngày buộc phải đọc trọn Kinh Nhật Tụng, hoặc chung với nhau hoặc riêng một mình, theo khoản 89.
97. Qui tắc chữ đỏ sẽ minh định khi nào có thể thay thế Kinh Nhật Tụng bằng hoạt động phụng vụ.
98. Tùy theo từng trường hợp, và nếu có lý do chánh đáng, các Đấng Bản Quyền có thể chuẩn cho những người dưới quyền mình được bỏ tất cả hay một phần Kinh Nhật Tụng theo Hiến Pháp của hội thì đã thi hành được kinh nguyện công cộng của Giáo Hội.
Cũng thế, nếu theo Hiến Pháp họ đọc Kinh Nhật Tụng vắn tắt, thì họ cũng thi hành kinh nguyện công cộng của Giáo Hội, miễn là kinh vắn tắt đó được soạn thảo theo Kinh Nhật Tụng và được phê chuẩn hợp lệ.
Đọc kinh nhật tụng chung
99. Vì Kinh Nhật Tụng là tiếng nói của Giáo Hội, nghĩa là của toàn Nhiệm Thể, công khai ngợi khen Thiên Chúa, nên khuyên các giáo sĩ không thuộc kinh hội, và nhất là các linh mục đang sống chung hoặc tụ họp, hãy chu tòan chung với nhau, ít nữa là một phần Kinh Nhật Tụng.
Tuy nhiên, tất cả những ai chu toàn Kinh Nhật Tụng trong kinh hội hoặc chung với nhau, phải thi hành nhiệm vụ được ủy thác cách hết sức hoàn hảo cả về lòng sùng kính bên trong cũng như các cử hành bên ngoài.
Đàng khác, nên tùy dịp thuận tiện mà hát Kinh Nhật Tụng trong kinh hội hoặc hát chung với nhau.
Giáo dân tham dự kinh nhật tụng
100. Những chủ chăn phải lo cho các Giờ Kinh chính yếu, nhất là giờ Kinh Chiều, được cử hành chung trong nhà thờ vào những ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng. Cũng khuyên các giáo dân đọc chung với nhau hoặc riêng một mình.
Ngôn ngữ trong kinh nhật tụng
101. S 1. Theo truyền thống ngàn đời của nghi lễ La Tinh, các giáo sĩ phải duy trì tiếng La Tinh trong Kinh Nhật Tụng. Tuy nhiên, tùy trường hợp riêng biệt. Đấng Bản Quyền có quyền cho dùng bản dịch tiếng bản quốc, chiếu theo qui tắc khoản 36, cho những giáo sĩ mà việc dùng tiếng La Tinh là một năn trở lớn lao khiến không thể chu toàn Kinh Nhật Tụng đúng mức đòi hỏi được.
S 2. Bề Trên Thẩm Quyền có thể cho phép nữ đan sĩ, các nam tu sĩ không phải là giáo sĩ và các nữ tu thuộc các tu hội, đựơc dùng tiếng bản quốc trong kinh Kinh Nhật Tụng cả khi cử hành trong kinh hội, miền là bản dịch phải được chuẩn nhận.
S 3. Giáo sĩ nào buộc đọc Kinh Nhật Tụng, mà cử hành Kinh Nhật Tụng bằng tiếng bản quốc chung với cộng đoàn tí hữu, hoặc với những người đã nói ở 2, thì cũng chu đã chu toàn bổn phận rồi, miễn là bản dịch phải được chuẩn nhận.
CHƯƠNG V: NĂM PHỤNG VỤ
Ý nghĩa năm phụng vụ
102. Giáo Hội, Mẹ hiền, ý thức mình có bổn phận ca tụng công trinh cứu chuộc của Phu Quân chí thánh bằng việc tưởng niệm vào những ngày ấn định trong năm. Mỗi tuần, vào ngày gọi là Chúa Nhật, Giáo Hội tưởng nhớ việc Chúa Phục Sinh. Mỗi năm một lần, Giáo Hội còn cử hành hết sức trọng thể vào dịp lễ Phục Sinh sự sống lại cùng với cuộc Thương Khó hồng phúc của Người.
Giáo Hội còn phô diễn trọn mầu nhiệm Chùa Kitô qua chu kỳ một năm, từ Nhập Thể, Giáng Sinh, đến Thăng Thiên, Hiện Xuống, sự mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và ngày Chúa lại đến.
103. Trong khi cử hành những Mầu Nhiệm Cứu Chuộc như thế, Giáo Hội rộng mở cho các tín hữu nguồn phong phú về nhân đức và công nghiệp của Chúa, khiến cho những mầu nhiệm này có thể nói là hiện diện qua mọi thời đại 8*, ngõ hầu các tín hữu tiếp xúc với các mầu nhiệm đó sẽ được đầy tràn ơn cứu chuộc.
Trong khi cử hành các mầu nhiệm của Chúa Kitô heo chu kỳ hằng năm như thế , Giáo Hội với một tình yêu đạc biệt, tôn kính Đức Maria vinh hiển, Mẹ Thiên Chúa, Đấng đã được nối kết với công trình cứu chuộc của Con Người bằng mối dây bất khả phân ly. Nơi Mẹ, Giáo Hội ngưỡng mộ và táng tụng thành quả tuyệt diệu của côông trình cứu chuộc, và vui mừng chiêm ngắm nơi Mẹ , như trong hình ảnh tinh tuyền trọn hảo, điều mà toàn thể Giáo Hội ước mong và trông đợi.
104. Ngoài ra , Giáo Hội còn thêm vào niên kỷ những lễ kính nhớ các Thánh Tử Đạo và các Thánh khác, là những đấng nhờ muôn vàn hình thức ơn Chúa, đã đạt tới sự trọn lành và chiếm được phần rỗi đời đời, giờ đây đang ca khen Thiên Chúa bài ca tuyệt diệu ở trên trời và đang cầu bầu cho chúng ta. Bởi chưng , trong những ngày kính nhớ các Thánh, Giáo Hội công bố mầu nhiệm phục sinh nơi các ngài, vì đã chịu thương khó và cùng được vinh hiển với Chúa Kitô. Giáo Hội cũng g trình bày cho các tín hữu những gương mẫu của các Ngài, gương mẫu lôi kéo mọi người đến với Chúa Cha qua Chúa Kitô, và nhờ công nghiệp các ngài. Giáo Hội lãnh nhận được những hồng ân của Thiên Chúa.
105. Sau cùng, theo luật lệ lưu truyền vào mùa khác nhau trong năm, Giáo Hội chu toàn việc huấn luyện các tín hữu bằng những việc lành hồn xác, bằng giảng dạy, cầu nguyện, sám hối và các việc bác ái.
Vì thế, Thánh Công Đồng ấn định những điều sau đây
Chú trọng ngày chúa nhật
106. Theo tông truyền bắt nguồn từ chính ngày Chúa Kitô sống lại, Giáo Hội cử hành mầu nhiệm phục sinh vào mỗi ngày thứ tám, ngày thật đáng gọi là ngày của Chúa hay Chúa Nhật. Thực vậy, trong ngày đó các kitô hữu phải họp nhau để lại nghe lời Chúa và tham dự Lễ Tạ Ơn, để kính nhớ cuộc Thương khó, sự Sống Lại vinh quang của Chúa Giesu, đồng thời cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã “dùng sự Phục Sinh của Chúa Giêsu từ trong kẻ chết sống lại mà tái sinh họ trong niềm hy vọng sống động” (1P 1,3). Vì vậy, ngày Chúa Nhật là ngày lễ độc đáo phải đề cao và in sâu vào lòng đạo đức của các tín hữu để ngày ấy trở thành ngày vui mừng và ngày nghỉ việc. Các cuộc lễ khác, nếu không thật sự là lễ rất quan trọng thì không được lấn át ngày Chúa Nhật, bởi vì ngày Chúa Nhật là nền tảng và trung tâm của cả năm phụng vụ.
Canh tân năm phụng vụ
107. Phải tu chỉnh năm phụng vụ thế nào để khi duy trì hay phục hồi những tập tục và quy chế cổ truyền về các mùa thánh, theo những hoàn cảnh của thời đại chúng ta, vẫn giữ được đặc tính lúc ban đầu của những mùa ấy, hầu nuôi dưỡng đúng mức lòng đạo đức của các tín hữu, khi cử hành những mầu nhiệm cứu chuộc Kitô giáo, nhất là mầu nhiệm cứu chuộc Kitô giáo, nhất là mầu nhiệm phục sinh. Vả lại, nếu cần thích ứng với hoàn cảnh địa phương, thì phải theo các khoản 39 và 40.
108.Trước hết, phải hướng tâm trí các tín hữu về những ngày lễ kính Chúa, là những lễ ca tụng các mầu nhiệm cứu chuộc. Vì thế, Phần Riêng mỗi Mùa phải có một chỗ thích hợp vượt trên lễ các Thánh, để toàn thể chu kỳ các mầu nhiệm cứu chuộc được kính nhớ đúng mức .
Mùa chay
109. Hai đặc tính của Mùa Chay là việc sám hối và nhất là việc nhớ lại hoặc dọn mình chịu phép Rửa Tội, chuẩn bị các tín hữu cử hành mầu nhiệm phục sinh, bằng sự nhiệt thành nghe lời Chúa và chuyên chăm cầu nguyện hơn. Hai đặc tính trên phải được trình bày rõ ràng hơn cả trong Phụng Vụ lẫn giáo lý phụng vụ. Do đó :
a) Những yếu tố về phép Rửa Tội riêng cho Phụng Vụ Mùa Chay phải được sử dụng rộng rãi hơn. Một số yếu tố thuộc truyền thống xa xưa, nếu có thể, cần phải được tái lập.
b) Còn các yếu tố về việc sám hối cũng vậy. Trong khi dạy giáo lý, phải khắc ghi vào tâm trí các tín hữu không những các hiệu quả xã hội của tội mà còn chính bản chất của sám hối là ghét tội vì tội xúc phạm đến Thiên Chúa. Không được bỏ quên vai trò của Giáo Hội trong tác động sám hối và phải nhấn mạnh đến việc cầu cho các tội nhân.
110. Trong Mùa Chay, việc sám hối không những chỉ ở trong lòng và có tính cách cá nhân, mà còn phải tỏ lộ ra bên ngoài và có tính cách xã hội. Vậy hãy khuyến khích việc thực hành sám hối tùy theo khả năng của thời đại ta, của các miền khác khác nhau cũng như tùy hoàn cảnh của các tín hữu. Việc thực hành sám hối phải được Đấng Bản Quyền cổ võ như đã nói khoản 22.
Tuy nhiên, chay thánh Mùa Phục Sinh phải được giữ cách nhiệm nhặt khắp nơi vào ngày thứ Sau Chúa chịu thương khó và chịu chết, nếu tiện cũng phải kéo dài qua Thứ Bảy tuần thánh, để tâm hồn người tín hữu được hửng niềm vui Chúa sống lại một khi được nâng cao và giải thoát.
Lễ các Thánh
111. Theo truyền thống, các Thánh được tôn kính trong Giáo Hội và các di hài đích thực cũng như hình ảnh của các ngài vẫn được sùng kính. Thực vậy, những lễ kính các Thánh nói lên những việc lạ lùng của Chúa Kitô nơi các tôi tớ Người và phô bày những gương sáng thích hợp cho các tín hữu bắt chước.
Để những lễ kính các Thánh không lấn át các lễ kính nhớ chính những mầu nhiệm cứu chuộc, nhiều lễ các Thánh sẽ để cho từng Giáo Hội địa phương, hoặc cho mỗi Quốc Gia hay Dòng Tu cử hành. Chỉ phổ biến cho toàn thể Giáo Hội những lễ kính các Thánh thực sự có tầm quan trọng phổ quát.
CHƯƠNG VI: THÁNH NHẠC
Giá trị của thánh nhạc
112. Truyền thống âm nhạc của toàn thể Giáo Hội đã kiếm tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn với mọi nghệ thuật khác, nhất là vì điệu nhạc thánh đi liền với lời ca, góp phần cần thiết hoạc trọn vẹntrong phục vụ trọng thể.
Thực vậy, không những Thánh Kinh mà cả các Giáo Phụ và cả Đức Thánh Cha đã khen ngợi các bản thánh ca, nhất là các Đức Thánh Cha trong thời gian gần đây, tiên phong là Thánh Piô X, đã làm sáng tỏ hơn vai trò của Thán nhạc trong phụng tự.
Do đó Thánh Nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động phụng vu bao nhiêu thì càng thánh bấy nhiêu, vì diễn tả lời cầu nguyện cách dịu dàng hơn , cổ võ sự đồng thanh nhất trí, và làm các nghi lễ thêm phần long trọng. Do đó, Giáo Hội chuẩn nhận và cho dùng trong phụng vụ tất cả mọi hình thức nghệ thuật đích thực, miễn là có những đặc tính cần thiết.
Vì thế, trong khi vẫn duy trì những qui tắc, luật lệ của truyền thống và qui luật trong Giáo Hội, cũng như nhằm mục đích của Thánh Nhạc là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các giáo hữu, Thánh Công đồng đã ấn định những điều sau đây.
Thánh Nhạc trong phụng tự
113. Hoạt động phụng vụ mang một hình thức cao quí hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng, với tiếng hát do các thừa tác viên có chức thánh chủ sự và giáo dân tích cực tham dự.
Còn về ngôn ngữ được sử dụng, hãy theo qui tắc khoản 36; khoản 54, về thánh lễ ; khoản 63, về bí tích ; khoản 101, về Kinh Nhật Tụng.
114. Phải hết sức lo lắng và cổ võ kho tàng Thánh Nhạc, phải nỗ lực đào tạo các ca đoàn, nhất là ở các nhà thờ chánh tòa. Về phần các Giám Mục và chủ chăn khác hãy nhiệt tâm lo lắng để trong bất cứ nghi lễ nào có hát, tất cả cộng đoàn tín hữu đều có thể tham dự một cách linh động vào những phần riêng cho họ theo khoản 28 và 30.
Huấn luyện thánh nhạc
115.Phải chú trọng đến việc huấn luyện và hực tập âm nhạc trong các chủng viện cũng như các học viện của các Dòng Tu nam nữ, vàcả trong những học viện và học đường cong giáo khác. Vì thế, để đảm nhiệm công việc đào tạo ấy , cần phải quan tâm đến việc huấn luyện các giáo sư có nhiệm vụ dạy Thánh Nhạc.
Ngoài ra, nếu tiện, rất nên thành lập những viện Cao Đẳng Thánh Nhạc.
Hơn nữa, các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi, cũng phải được huấn luyện cho có đủ căn bản phụng vụ.
Nhạc ca và nhạc đa âm
116. Giáo hội nhìn nhận bình ca là lôí hát riêng của phụng vụ Roma. Vì thế, trong các hoạt động phụng vụ bình ca phải chiếm một địa vị chính yếu giữa các loại ca khác.
Không hẳn là loại trừ các loại Thánh Nhạc khác , nhất là đa âm trong những khi cử hành các việc phụng tự miễn là đáp ứng được tinh thần của hoạt động phụng vụ theo khoản 30.
117. Phải hoàn thành việc ấn loát bản mẫu các sách hát bình ca. Ngoài ra, đối với các sách đã được ấn hành sau cuộc canh tân của Thánh Piô X, cũng phải có một ấn bản được nghiên cứu cẩn thận hơn.
Cũng nên lo ấn hành một loại sách hát gồm những âm điệu đơn sơ hơn để dùng trong các nhà thờ nhỏ.
Thánh ca bình dân
118. Thánh ca bình dân phải được khéo léo cổ võ để tín hữu có thể ca hát trong những việc đạo đức thánh thiện cũng như trong chính hoạt động phụng vụ, theo những qui tắc và chỉ thị của chữ đó.
Nhạc dân tộc
119. Ở một vài miền , nhát là các xứ Truyền Giáo, có những dân tộc sẵn có một truyền thống âm nhạc riêng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo và xã hội của họ.Phải quí trọng âm nhạc ấy đúng mức vàdành cho nó một địa vị thích hợp trong khi đào tạo cho họ một quan niệm tôn giáo, cũng như thích nứng năng khiếu của họ vào việc phụng tự, theo tinh thần khoản 39 và 40.
Do đó, trong khi huấn luyện âm nhạc cho các vi thừa sai, phải hết sức lo lắng đề họ có thể phát triển truyền thống âm nhạc của các dân tộc này, được chừng nào hay chừng đó, trong các trừơng học cũng như trong các hoạt động phụng vụ.
Đại phong cầm và các nhạc khí khác
120. Trong Giáo Hội La tinh, đại phong cầm phải hết sức quí trọng vì là một nhạc khí cổ truyền mà âm thanh có thể thêm vẻ huy hoàng mỹ lệ cho các nghi lễ, lại có hiệu lực nâng cao tâm trí lên cùng Chúa và những sự trên trời.
Còn các nhạc cụ khác cũng được phép dùng vào việc phụng tự tùy theo phán đoán và phê phán của thẩm Quyền địa phươngtheo khoản 22 & 2, 37 & 40, miễn là đã hoặc có thể dùng vào việc thánh, xứng đáng với vẻ tôn nghiêm của thánh đường và thực sự giúp cảm hóa các tín hữu.
Sứ mạng các nhà sáng tác nhạc
121. Các nhạc sĩ thấm nhuần tinh thần Kitô giáo hãy ý thức rằng mình được kêu gọi trau dồi Thánh Nhạc.
Họ hãy sáng tác những bản có cung điệu thánh nhạc thực sự, để không những các ca đoàn lớn có thể hát được mà còn hợp với cả ca đoàn nhỏ và giúp cho toàn thể công đoàn tín hữu có thể tham dự môt cánh linh động.
Còn lời thánh ca phải thích hợp với giáo thuyết công giáo và tốt hơn cả là rút ra từ Thánh Kinh và các nguồn mạch phụng vụ.
CHƯƠNGVII: NGHỆ THUẬT THÁNH VÀ DỤNG CỤ THÁNH
Giá trị của nghệ thuật thánh
122. Trong những hoạt động cao quí nhất của tài trí con người, đặc biệt phải kể đến mỹ thuật, nhất là nghệ thuật tôn giáo và tột đỉnh chính là nghệ thuật thánh. Tự bản tính, nghệ thuật thánh nhằm diễn tả một cánh nào đó vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa qua những tác phẩm nhân loại. Nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩmđó không nhằm chủ đích nào khác ngoài sự tích cực góp phần huonh tâm trí con người về cùng Thiên Chúa cách đạo đức.
Vì thế, Giáo Hội Mẹ Cao Sang, luôn luôn là bạn của mỹ thuật và không ngừng tìm đến sứ mạng cao quí của mỹ thuật, nhất là để những vật dụng dùng trong phụng tự thánh được thực sự xứng đáng, thích hợp với mỹ lệ,đồng thời biểu thị và tượng trưng những thực tại trên trời ; Giáo Hội cũng luôn lo huấn luyện các nghệ sĩ hơn nữa, Giáo Hợi cũng tự coi mình như vị thẩm phán về mỹ thuật, xét xem trong những tác phẩm của các nghệ sĩ, tác phẩm nào thích hợp với đức tin, với lòng đạo đức và với những luật lệ truyền thống trong đạo, cũng như xem những tác phẩm nào xứng đáng dùng vào việc thánh .
Giáo Hội hằng đặc biệt lo lắng sao cho vật dụng thánh góp phần vào vẻ trang trọng của phụng tự một cách xứng đáng và mỹ thuật, đồng thời chấp nhận những thay đổi về chất liệu, hình thức trang tí theo tiến bộ kỹ thuật qua các thời đại
123. Vì thế, về điểm này, các Nghị phụ ấn định những điều sau đây.
Các kiểu nghệ thuật
124. Giáo Hội đã không hề coi một kiểu nghệ thuật nào như là của riêng nhưng công nhận các kiễu của bất cứ thời đại nào, tùy theo đặc tính và hoàn cảnh của các dân tộc, cũng như tùy theo nhu cầu của các Nghi Lễ ; những kiểu nghệ thuật này trải qua các thế kỉ, đã tạo nên một kho tàng nghệ thuật cần phải hết sức duy trì cẩn thận. Ngay cả những nghệ thuật trong thời đại chúng ta, nghệ thuật của mọi dân tộc và mọi miền, cũng được tự do phổ biến trong Giáo Hội, miễn là giữ được vẻ tốn kính trang trọng phải có trong thánh đường và trong các nghi lễ thánh. Như thế, nghệ thuật có thể góp tiếng trong bẩn nhạc vinh quang kỳ diệu mà những bậc vĩ nhân đã từng ca hát qua các thế kỷ để ca tụng đức tin công giáo
Các Đấng Bản Quyền trong khi phát động và cổ võ nghệ thuật thánh đích thực, hãy nhắm tới vẻ đẹp cao quí hơn là chỉ nghĩ tới vẻ xa hoa lộng lẫy. Điều này cũng áp dụng về phẩm phục và đồ trang trí nữa.
Các Đức Giám Mục hãy cẩn thận lo loại trừ khỏi thánh đường cũng như những nơi thánh khác những tác phẩm nào nghịch với đao đức tin vàphóng hóa,nghịch với lòng đạo đức Kitô Giáo , cũng như những tác phẩm làm tổn thương ý nghĩ tôn giáo đích thực, hoạc vi hình thức tồi bại, hoạc vi thiểu nghệ thuật, tầm thường hay giả tạo.
Còn về việc xây cất thánh đường, cũng phả cận thận lo liệu làm sao để xứng hợp với việc chu toàn các hoạt động phụng vụ và giúp các tín hữu có thể tham dự một cách linh động.
125. Phải kiên quyết duy trì thói quen đặt tượng ảnh thánh trong các thánh đường cho các tín hữu tôn kính; tuy thế số các ảnh tượng ấy chỉ vừa phải thôi và phải được xếp đặt sao cho thích hợp đừng lam giáo dân trí và gây nên lòng tôn sùng thiếu đúng đắn.
126. Trong việc thẩm xét những tác phẩm nghệ thuật, các Đấng Bản Quyền địa phương hãy lắng nghe ý kiến của ủy ban giáo phận đặc trách nghệ thuật thánh, và trường hợp nào cần thiết, nên nghe những người rất thành thạo khác cũng như những ủy Ban đã nói trong các khoản 44, 45, 46
Các Đấng Bản Quyền phải thận trong săn sóc kẻo dụng cụ thánh hoặc các nghệ phẩm giá trị, là những vật trang hoàng nhà Chúa, bị di nhượng hoạc tiêu hủy,
Đào tạo các nghệ sĩ
127. Các Giám Mục, hoạc tự mình hoạc nhờ các linh mục đủ khả năng thông thạo và yêu thích nghệ thuật, lưu tâm đến các nghệ sĩ sao cho họ thấm nhuần tinh thần Nghệ Thuật Thánh và Phụng Vụ Thánh .
Ngoài ra cũng khuyến khích thành lập những trường học hay những Học Viện về Nghệ Thuật Thánh ở những miền xét là cần để đào tạo các nghệ sĩ.
Riêng đối với các nghệ sĩ có tài năng, muốn phụng sự Thiên Chúa để làm vinh danh người trong Giáo Hội, phải luôn luôn nhớ rằng một phần náo hơ bắt chước Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo, họ sáng tác những tác phẩm dùng vào việc thờ phượng Công Giáo, vào việc cảm háo các tín hữu cho họ thêm lòng đạo đức và huấn luyện giáo lý cho họ nữa.
Duyệt lại các luật lệ về nghệ thuật thánh
128. Những khoản luật về qui chế của Giáo Hội nói về việc bài trí những đồ dùng bên ngoài liên quan đến việc thờ phượng, nhất là về việc xây cất thánh đường cho xứng đáng và thích hợp, về hình thức và cách xây cất bàn thờ, về vẻ trang trọng, lối sắp đặt và sự an toàn của nhà tạm thánh thể, về chỗ thích hợp và danh dự cho giêng rửa tội cũng như về lối trưng bày ảnh tượng thánh, trần thiết và trang bị sao cho hòa hợp: tất cả những khoản luật về qui chế này phải được duyệt lai càng sớm càng tốt, đồng thời các sách phụng vụ theo khpản 25 hãy tu chỉnh hay loại bỏ điều nào xem ra ít hợp với việc canh tân phụng vụ, còn giữ lại hoạc thêm vào điều nào phùng hợp
Về vấn đề này, nhất là về chất liệu và hình thức vật dụng thánh và phẩm phục, Hội Đồng Giám Mục địa phương có quyền thích nghi với các nhu cầu và phong tục địa, điều chế khoản 22 cửa hiến chế này
Huấn luyện nghệ thuật cho hàng giáo sĩ
129. Các giáo sĩ, trong thời gian theo học triết học và thần học, cũng phải được học hỏi về lịch sử và biến chuyển của nghệ thuật thánh, cũng như về các nguyên tắc lành mạnh mà các tác phẩm nghệ thuật thánh phải dựa theo để họ biết quí trọng và duy trì những công trình đáng king của Giáo Hội, cũng như có thể đưa ra những ý kiến thích hợp cho các nghệ sĩ trong khi thực hiện các tác phẩm.
Huy hiệu Giám Mục
130. Nên dành riêng cho việc sử dụng phẩm phục hay huy hiệu Giám Mục cho những nhân vật trong Giáo hội có chức Giám Mục hoặc có thẩm quyền đặc biệt nào đó.
PHỤ LỤC
TUYÊN NGÔN CỦA THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II VỀ VIỆC TU CHỈNH NIÊN LỊCH
Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II không phải là ít quan tâm đến nguyện vọng của nhiều người về việc ấn định ngày lễ Phục Sinh vào một ngày Chúa Nhật nhất định và về việc thiết lập một niên lịch vĩnh viễn. Sau khi đã cẩn thận cân nhắc mọi điều có thể xảy ra do việc đưa vào một niên lịch mới, Thánh Công Đồng tuyên bố những điều sau đây:
Thánh Công Đồng không phản đối việc ấn định ngày lễ Phục Sinh vào một ngày Chúa Nhật nhất định trong niên lịch Gregorianô, miễn là có sự đồng ý của những người liên hệ, nhất là các anh em ly khai với Tông Tòa.
Cũng thế, Thánh Công Đồng tuyên bố là không phản đối những sáng kiến có liên hệ đến việc đưa vào xã hội dân sự một niên lịch vĩnh viễn.
Tuy nhiên, trong các hệ thống khác nhau được trù tính để thiết lập một niên lịch vĩnh viễn và đưa vào xã hội dân sự, Giáo Hội chỉ không phảnđối những hệ thống duy trì và bảo vệ tuần lễ 7 ngày tới ngày Chúa Nhật, không thêm vào môt ngày nào khác giữa các tuần, vẫn để sự kế tiếp các tuần lễ được nguyên vẹn trừ khi có những lí do hết sức quan trọng mà Tông Tòa sẽ phán quyết.
Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Hiến Chế này đều được các Nghị Phụ Thánh Công Đồng chấp thuận. Và dùng quyền Tông Đồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị pụ đáng kính, trong Chúa Thánh Thần, Chúng Tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã được Thánh Công Đồng quyết nghị, Chúng Tôi truyền cho Danh Chúa cả sáng
Roma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 4 tháng 12 năm 1963.
Tôi, PHAOLÔ GiámMục Giáo Hội Công Giáo.
Tiếp theo là chữ ký của các Nghị Phụ
MIỄN THI HÀNH LUẬT
Đối với Hiến Chế về “Phụng Vụ Thánh’’ vừa được phê chuẩn, Đức Thánh Cha đã quyết định miễn thi hành luật cho tới ngày Chúa Nhậtthứ nhất Mùa Chay 16 tháng 2 năm1964. Trong thời gian đó, Đức Thánh Cha sẽ quyết định thời gian và cách thức thi hành các chế định mới của Hiến Chế này. Vì vậykhông ai tự mình thi hành các chế định mới này trước thời gian trên.
PERICLES FELICI
Tổng Giám Mục hiệu tòa Samosate
Tổng Thư Ký Thánh Công Đồng.
1* – Các động tác Phụng Vụ đều không phải là động tác riêng về một cá nhân hay một nhóm người nào (phụng tự riêng tư) nhưng là động tác của toàn thể Giáo Hội. Nói đúng hơn đó là động tác của chính Chúa Kitô. Thủ lãnh Giáo Hội và của tất cả mọi chi thể trong Nhiệm Thể. Đầu và tất cả chi thể đều cầu nguyện, đều hoạt động qua cử chỉ và việc làm của thừa tác viên.
Từ ngữ “công cộng” trong Phụng Vụ hàm chứa ý nghĩa hoàn hảo, nó chỉ việc phụng tự của toàn thể một xã hội (ở đây tức là Giáo Hội với tư cách là một xã hội).
2*– Phụng Vụ là công cuộc của Chúa Kitô và Giáo Hội phổ quát, chứ không thuộc về một Giáo Hội địa phương hay đoàn thể đặc biệt nào ( x. số 7 ). Do đó, tất cả mọi sự liên quan tới việc điều hành Phụng Vụ, chỉ lệ thuộc thẩm quyền tối cao của Giáo Hội mà thôi. Các Hội Đồng Giám mục và các Giám mục nói chung chỉ có thẩm quyền do Giáo Hội thừa ủy.
3* – Vấn đề dùng tiếng bản xứ trong Phụng Vụ đã là một đề tài sôi nổi trong Công Đồng Triden… Công Đồng bây giờ cũng nhìn thấy rõ ràng tấm quan trọng của nó (x. Dz1749 và 1759). Tuy nhiên có Nghị Phụ thấy chưa phải là lúc “thuận tiện” để thay đổi ngôn ngữ Phụng Vụ. Lập trường này nhằm chống lại phái Tin Lành chủ trươmg phải dùng tiếng bản xứvì các Bí Tích chẳng qua chỉ là phương tiệnm để khơi dậy hoặc để tuyên xưng đức tin (Dz1749).
Vì lý do trên, La ngữ vẫn được sử dụng trong các nghi lễ Roma cho tới ngày nay. Điều này được coi như một dấu hiệu hiệp nhất rõ ràng và cụ thể, và là một bảo vệ hữu hiệu chống lạimọi sai lạc của nền giáo lý ting tuyền (Tđ. Mediator Dei số 58).
Dấu sao Công Đồng Triden và Thông Điệp Medimator dei cũng nhận sự kiện La ngữ ngăn trở giáo dântham dự chủ động vá tích cực vào các nghi lễ Phụng Vụ, nhất là để hiểu những bài đọc và những nghi thức hàm chức nhiều giáo huấn cho giáo dân.
Vì dậy Công Đồng Vaticanô II dã giải quyết vấn đề đến nơi đến chốn v2 nếu ra nhũng quy tắc thiết thựccho việc sử dụng tiếng bản xứ (x. số 54 và 64).
4* – Việc giáo dân cùng nhau cầu nguyện cho Giáo Hội, cho chính quyền và ho “tất cả mọi người” (1Tin Mừng 2, 1) , là một truyền thống có từ thời các sứ đồ và các Giáo Phụ đầu tiên (x.Documentation Catholique số 1445 (4-1965), cột 597). Vào cuối thời trung cổ, lời nguyện đó biến maất dần dần, lý do có lẽ vì đã có lời nguyện tương tự trong phần Lễ Quy với những kinh “memento” cầu cho người còn sống và đã qua đời.
5* – Việc rước lễ dưới hai hình đã bị bãi bỏ trong nghi lễ Roma vào cuối thế kỷ XII. Từ đó về sau chỉ một mình chủ tế mới được đặc ân rước lễ hai hình thôi. Lý do thay đổi có lẽ như sau : 1) Lý do thực tế là giáo hữu ngày một đông ên việc rước lễ hia hình gặp nhiều bất tiện và phiền phức (Công Đồng Constance có nêu ra một vài “nguy hiểm và gương xaấu” : Dz 1200). 2) Lý do thứ hai là dựa vào điều Giáo Hội mình xác tín về việc Chúa hiện diện thực sự ở một trong hai hình (rước lễ một trong hia ình là rước lấy “Chúa Kitô toàn diện”).
Công Đồng Constance năm 1415 đã lên án Wyclef và các đồ đệ chủ trương sai lầm rằng mọi tín hữu cần phải rước lễ dưới hai hình (Dz 1198-1200). Công Đồng Triđentinô cũng tái xác nhận lậpo trường đó nhân dịp chống lại phái Tin lành (Dz 1729 và 1733).
Ở đây Công Đồng Vaticanô II, với thái độ thận trọng, vừa duy trì giáo lý Công Đồng Triđentinô vừa mở ra một lối đi mới, hợp lý và thực tiễn.
6* – Đồng tế với Giám mục (dưới nhiều cách khác nhau) cũng như giữa các linh mục với nhau đã thịnh hành từ thời các Thánh Giáo Phụ. Lễ nghi này nói lên quan niệm sssu xa về đặc tính hợp nhất giữa chức Linh Mục và phép Thánh Thể. Thánh Inhaxiô thành Antiokia (chết năm 107), đã diễn tả rõ ràng quan niệm ày bằng câu nói sau đây “chỉ có một Phép Thánh Thể.., một bàn thờ, cũng như chỉ có một Giám mục với Linh mục đoàn và các Thầy phó tế của ngài” (Thư gửi cho giáo dân Philadelphia, 4 : PG 5, 700).
Giáo Hội Đông Phưng vẫn còn duy trì truyền thống tốt đẹp này. Trong khi đó Giáo Hội Tây Phương chỉ còn thực hành trong Thánh Lễ phong chức Giám mục và linh mục thôi.
Do đó, Công Đồng Vaticanô II muốn làm sống lại thói quen tốt lành và đầy ý nghĩa tượng trưng này.
1 – a) ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Lễ Dầu cũng như Lễ Chiều :
b) các Thánh lễ tôn chức Đan Viện Phụ.
2 – Ngoài ra Đấng Bản Quyền còn cứu xét cho phép đồng tế hya không trong những trường hợp sau đây :
a) Thánh lễ tu hội và Thánh lễ chính trong các nhà thờ, khi lợi ích các Kitô hữu không đòi buộc mỗi Linh Mục hiện diện cử hành riêng biệt :
b) các Thánh lễ trong những cuộc hội họp, thuộc bất cứ loại nào, của các Linh Mục triều cũng như dòng.
S 2.1 – việc ấn định qui luật đồng tế trong giáo phaận thuộc quyền các Giám mục.
2 – Tuy nhiên mỗi linh ụcc vaaẫn có quyền cử hành lễ riêng, nhưng không được cùng một lúc trong cùng một nhà thờ, và vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh.
7* – Một vài Nghị Phụ đã lấy ví dụ các bậc Cha Mẹ có thể ban phép lành cho con cái
8* -Khi Phong Trào Phụng Vụ khởi phát, đã có nhiều người nói tới sự “có mặt” các mầu nhiệm này trong năm Phụng Vụ, Đức Piô XII đã trình bày vấn đề rất cặn kẽ trong Thông điệp Mediator Dei, số 166, và Công Đồng Vaticanô II nhắc lại giáo lý đó.
