Gợi Ý Giảng Lễ Chúa Nhật 4 Mùa Chay

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ
TỪ THUỞ MỚI SINH
(Ga 9, 1- 41)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đâu là tầm quan trọng và văn thể của trình thuật này ?
2. Trong bối cảnh tổng quát nào mà Chúa Giêsu tự mặc khải như là ánh sáng trần gian (c.5) ?
3. Tại sao xức với bùn (c.6) ?
4. Đâu là ý nghĩa đặc biệt mà Gioan gán cho ao nước Siloê trong tương quan với sứ mệ nh Chú a Giêsu ?
5. Phép lạ này soi sáng thế nào việc phát sinh sự cứng lòng và niềm tin trong tâm hồn con người ?

1. Việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh ở ao Siloê là một trong những “dấu chỉ” lớn được Gioan giữ và ghi lại “để anh em tin Chúa Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và bởi tin, anh em có sự sống nhờ danh Người” (20, 31). Trình thuật chiếm một chỗ quan trọng trong bố cục chung của Tin Mừng thứ tư. Được đặt ở trung tâm cuốn sách, nó nổi bật như một tổng hợp sống động về sứ mệnh làm ánh sáng được Chúa Giêsu hoàn tất trong thế gian này và về cuộc xung đột dữ đội giữa ánh sáng và tối tăm qua bản thân Chúa Giêsu và người Do thái.

Xét về văn thể, trình thuật này thuộc về số các cuộc tranh luận vĩ đại của Tin Mừng thứ tư chung quanh con người và chung quanh các “dấu chỉ” của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, điều làm cho nó có nét khác biệt là cuộc tranh luận, dù đề cập đến con người Chúa Giêsu, vẫn không trực tiếp đặt Người đối chọi với địch thủ.Vụ án của Người chỉ được đến hành qua việc kết án anh mù. Chúa Giêsu chỉ xuất hiện lúc đầu để hoàn tất “dấu chỉ” cùng xác định ý nghĩa của nó, và lúc cuối, để long trọng tuyên bố bản án giữa thời gian ấy, Người đứng trong hậu trường; ta chỉ còn thấy những biến động do lời nói và hành vi của Người gây ra, cùng những phản ứng của thế nhân, tùy theo khuynh hướng khác nhau của họ.

2. Tấn bi kịch đã được chuẩn bị trong hai chương trước. Sau khi bọn thủ hạ được sai đi bắt Chúa Giêsu trở về, các người Biệt phái đã la lên: “Lũ dân quèn không biết lề luật ấy, thật là đồ chúc dữ” (7,49). Lời đó như khai mào cho cơn giận của họ đối với anh mù, một kẻ “tội lỗi từ lúc mới sinh”‘ mà đã có gan bày vẻ cho các “môn đồ của Môisen (9,28-34). Rồi giai thoại người đàn bà ngoại tình (một bản văn mới được đưa vào sau này) lại đặt người nữ tội lỏi đối diện với nhóm ký lục và biệt phái tố cáo bà; Chúa Giêsu đã tước khí giới của họ bằng những lời như sau: “Ai trong các người vô tội, hãy ném đá trước” (8,7). Liền đó, Người khuyến cáo dân Do thái: “Các
ngươi sẽ chết trong tội các ngươi” (8,21); “Vâng, nếu các ngươi không tin Ta, các ngươi sẽ chết trong tội của các ngươi” (8,24). Những kẻ tự xưng là con cái tự do của Abraham kỳ thực chỉ là những tội nhân, nô lệ, con ma quỷ; khi âm mưu giết Chúa Giêsu, họ hoàn tất ước muốn và công việc của cha ông họ (8, 35- 44). Còn Chúa Giêsu là Đấng vô tội; Người trung thành chu toàn sứ mệnh; Người nói sự thật; Người truyền đạt cho thế gian Lời của Thiên Chúa; Người thi hành ý muốn của Đấng đã sai Người. Thành ra Người có thể vững tâm tuyên bố: “Ai trong các ngươi bắt lỗi Ta được về tội gì?” (8,46). Dù sao, dân Do thái vẫn nhặt đá ném Người như một tên phạm thượng (8, 59). Chính lúc đó, xảy ra việc các môn đồ chất vấn, việc Người trả lời và chữa lành kẻ tàn tật. Chúng ta đang ớ giữa lòng vụ án truy tố Chúa Giêsu, và Người sẽ bị coi như tội nhân, bị kết án, bị khai trừ, vì chính công việc sẽ biểu lộ sứ mệnh và lòng tuân phục của Người đối với Chúa Cha.

Thành ra chính trong một bối cảnh bi thảm mà Chúa Giêsu mặc khải mình là ánh sáng trần gian. Ngay từ đầu Tin Mừng đã chuẩn llị cho mặc khải này rồi. Bài Tựa đã công bố: “Ngôi Lời là Sự Sống và ánh sáng cho mọi người; và ánh sáng chiếu trong u tối, nhưng u tối đã không triệt được ánh sáng” (1, 4- 5). Khi tới giờ, Gioan Tẩy giả “đã đến như … chứng nhân của ánh sáng” (1, 7- 9), ông là “cây đèn được thắp lên và chiếu sáng” (5,35): Với nhận lời còn đầy bí nhiệm hơn, Chúa Giêsu đã giải thích cho Nicôđêmô biết ánh sáng đã đến trong thế gian mà loài người vẫn yêu tối tăm hơn ánh sáng, vì công việc họ làm xấu xa” (3, 19).

Nhưng chính trong dịp lễ Lều Trại mà Chúa Giêsu lần đầu tiên tuyên bố rõ ràng: “Ta là ánh sáng thế gian” (8, 12). Rồi, lấy lại hình ảnh đám mây chiếu sáng đi trước dân Hy bá và dẫn đưa họ trong sa mạc, Người phán thêm: sai theo Ta, sẽ không đi trong tối tăm, nhưng được ánh sáng ban sự sống”. Chúa Giêsu là Đấng dẫn dắt dân Thiên Chúa đến sự sống; người là đích điểm sáng ngời cho cuộc lữ hành của họ. Việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh không có mục đích nào khác là làm cho mặc khải đó thêm rõ ràng minh bạch. Cũng như việc chữa lành người bất toại ở Bezatha và việc hóa bánh ra nhiều minh chứng “Con có sự sống” (5,26), rằng Người là “bánh hằng sống từ trời xuống” (6, 50- 51), người “ban sự sống cho ai Người muốn” (5, 21) ; cũng thế, việc chữa lành anh mù từ thuở mới sinh minh chứng cho mọi người biết Người “đã đến trong trần gian như ánh sáng” (12,46), để lôi kéo mọi người khỏi cảnh tù hãm tối tăm và biến đổi họ thành con cái sự sáng” (12,36).

3. Có hai hành động khác nhau đi trước phép lạ: a) Chúa Giêsu lấy bùn hòa với nước miếng xức mắt kẻ tàn tật; b) Người bảo anh ta”đến rửa tại ao Siloê. Ta không buộc phải xem bùn như là yếu tố chữa lành. Tự nhiên mà nói thì xức bùn như thế dễ làm bệnh nặng hơn. Còn về phía Chúa Giêsu, phải chăng đó là một dấu chỉ biểu tượng, tương tự như những dấu chỉ mà các ngôn sứ thường dùng? Các tác giả xưa cách chung đều nghĩ như thế. Theo họ, hành vi đó tượng trưng việc tạo dựng con người (Irên.ê, Théodore thành Mopsueste; Cyrille thành Alexandrie, Théophile), hay việc nhập thể của Ngôi Lời (Augustin, bè de), hay hơn nữa việc ơn thánh xâm nhập trong cuộc sống xác thể chúng ta (Grégoire). Nhưng khi xức bùn làm bệnh nhân như mù thêm, phải chăng Chúa Giêsu chỉ muốn thử thách lòng tin của anh? Nếu thế thì cử chỉ đó của người bấy giờ là một lời mời gọi anh ta nhắm mắt tín thác vào Người (Erasme, Lagrange).

Thật ra, có lẽ nên tìm một lối giải thích đơn sơ hơn về việc xức bùn này. Người xưa xem nước miếng như là một liều thuốc chữa mắt và chữa cả các phần khác của thân thể (Mc 7,33; 8,23). Chính Tacite cũng đã đề cập đến điều này (Historiae IV, 81). Hình như giá trị chữa bệnh của nó sẽ tăng lên nếu được trộn thêm với đất thường hoặc đất sét. Thế mà việc bôi nước miếng và nhồi bùn (9, 14) là hai hành vi bị cấm chỉ trong ngày hưu lễ nhưng chúng ta biết là Chúa Giêsu không cho rằng mình bị trói buộc bởi những thêm thắt vào Lề luật cũng như bởi luật ngày hưu lễ (5, 17 ; 7, 22). Hiển nhiên là Người dùng các phương dược bình dân ấy, chẳng phải vì chúng cần thiết để thực hiện phép lạ, song để tạo nên một rắc rối đối với người Biệt phái.

4. Ao Siloê, mà ngày nay ta còn thấy, nằm ở phía đông bắc Giêrusalem, đầu mút thung lũng Tyropéon. Nó được suối Gihôn cung cấp nước cho nhờ con lạch mà vua Edêkia đã đào xuyên qua lớp đá (2V 20, 20 ; 2 Sk 32, 30; Hc 48, 17), và nó mang tên chính con lạch này. Silôê có nghĩa: người gởi (nước) tới. Thánh Gioan dùng chữ đó, nhưng đã dịch ra như một tiếng ở thể thụ động: kẻ được gọi đi (c.7). Rõ ràng là ông có chủ ý biểu tượng. Trong Tin Mừng thứ tư. Chúa Giêsu hơn bốn mươi lần được gọi là Đấng được sai đi”, và người vừa mới bảo các môn đồ rằng mình phải thi hành các công việc của Đấng đã sai mình (c.4). Thánh Gioan do đó muốn nói ao Siloê, cũng như Đền thờ, như lễ vượt qua, như ngày hưu lễ, như tất cả trong Israel, đều qui hàng về Chúa Giêsu và chỉ nhờ Người mà được ý nghĩa đích thực và dứt khoát. Tên của ao cũng loan báo Đấng Messia sẽ đến múc nước trong nó và sẽ ban cho nước ấy một năng lực thần thiêng.

Ao Siloê cũng đã tt.ông được đề cao trong Cựu ước. Isaia (8,6) đã lấy hình ảnh “nước Siloê, chảy êm dịu” duỗi chân đồi Đền thờ, làm biểu tượng cho cuộc đời thư thái của Israel dưới sự che chở của Thiên Chúa, những ngôn sứ nhân danh Giavê, khóc than rằng dân đã từ chối nước Siloê”. Có lẽ thánh Gioan thấy việc Israel cũ từ chối nước Siloê như là lời tiên báo sự cứng lòng của người Do thái đương thời với Chúa Giêsu.

Ngoài ra, nước ao còn được dùng vào việc phụng tự. Trong suốt dịp lễ Lều trại, ngày nào cũng có đoàn kiệu đi đến ao. Một thầy tư tế long trọng múc nước và khi trở về Đền thờ thì vừa để nước lên bàn thờ vừa đọc các kinh theo nghi thức nài xin Thiên Chúa đổ mưa cho vụ mùa sắp đến; các bài đọc Thánh Kinh cũng nhắc lại phép lạ nước vọt lên từ tảng đá trong sa mạc và loan báo việc canh cải thiêng liêng của Sion trong thời thiên sai. Các liên hệ giữa giai thoại người mù bẩm sinh và các biến cố của lễ Lều trại trong Tin Mừng thứ 4 (ch.7 và 8) mời ta đối chiếu phép lạ này với nghi lễ vừa nói. Việc đối chiếu này càng chính đáng hơn nữa, vì Lễ Lều, một lễ mừng nước, cũng là lễ mừng ánh sáng. Mọi đêm, đèn chưng sáng trong khắp Đền thờ. Dacaria, khi mô tả Ngày của Giavê như phần khai mào cho việc muôn dân cừ hành trọng thể lễ Lều, đã thốt lên: “Đây là ngày tuyệt diệu – có Giavê biết – ngày không còn ngày và đêm : vì ngay lúc chiều tà trời vẫn sáng” (Dcr 14,7). Thành ra, không một khung cảnh nào phù hợp hơn với lời Chúa Giêsu công bố: “Ta là ánh sáng thế gian” (8, 12 ; 9, 5) và với “dấu chỉ” người mù bẩm sinh cho bằng lễ ánh sáng này, lễ của những cuộc rảy nước ao Siloê, lễ của niềm hy vọng Đấng Thiên sai tới.

Các liên hệ phụng vụ này đồng thời cũng soi chiếu ý nghĩa của biểu tượng “Giêsu-ánh sáng thế gian”, lẫn ý nghĩa của “dấu chỉ” đang diễn tả biểu tượng đó. Ơn phúc lành và ơn Thần khí, được tượng trưng trong lễ Lều trại bằng nước ao Siloê đã được Chúa Giêsu ban cho thế gian: trong tay người “nước Siloê chảy êm dịu” chất chứa đầm đìa ánh sáng và sự sống. Biểu tượng ánh sáng nơi Gioan trước tiên được giải thích bằng truyền thống Thánh Kinh. Nó hên hệ với các sấm ngôn loan báo ơn cứu độ thiên sai xuất hiện như một ánh sáng chiếu soi cho mọi dân chìm trong u tối (Is 19, 1 ; 42, 6 ; 49, 6 ; 60, 1- 3 ; 60, 19- 20 ; 62, 1); nó cũng liên hê với các sách khôn ngoan, những sách coi Lời Thiên Chúa, Sự Khôn ngoan, Lề luật như là ánh sáng cứu rỗi và dẫn dắt Israel trên đường sự sống (Br 4, 1- 4; Cn 6, 23 ; Tv 19, 105). Nơi Chúa Giêsu, các sấm ngôn thiên sai này được thực hiện: người mù xem thấy, mắt họ mở sáng ra” (Is 29, 18- 19 ; 35, 5). Trong Người, bừng lên ánh sáng, thứ ánh sáng soi chiếu rõ ràng hơn cả Lề luật, giải phóng con người khỏi tối tăm chết chóc của tội lỗi, đưa họ “đi” trong “con đường thánh ý ” Thiên Chúa và đem họ đến sự sống vĩnh cửu. Trong Người, Chúa Cha mặc khải tình yêu của Ngài; trong lời người vang dội lời Chúa Cha; trong các “công việc” của Người, Chúa Cha “làm việc” (5,17); ai thấy Người là thấy Chúa Cha (12, 45 ; 14, 7. 9). Thế gian rạng ngời ánh vinh quang của lòng Người vâng phục mệnh lệnh Chúa Cha, rạng ngời sự hiện diện của Chúa Cha trong Chúa Con và sự hiệp nhất của các Ngài trong tình yêu mến.

5. Đứng trước “dấu chỉ” đang mặc khải cho thế gian Chúa Giêsu-ánh sáng, các phản ứng của loài người lần lượt bày tỏ. Thánh Gioan đã mô tả chúng trong một vài cảnh đầy châm biếm sâu sắc. ánh sáng chiếu soi và cứu độ xuất hiện ở đây như là ánh sáng phân chia và phán xử. Nơi đây ta chứng kiến những tranh chấp trong tâm hồn con người trước việc phải lựa chọn hay chống lại ánh sáng đó; nơi đây ta thấy phát hiện cách bi thảm sự cứng lòng cũng như niềm tin.

Suốt cuộc đối chất bi hùng giữa Chúa Giêsu và người rnù, ta thấy kẻ tàn tật, như người đàn bà xứ Samari, đã dần dần tiến tới sự hiểu biết cách thiêng hùng hơn về ý nghĩa biến cố rnà anh ta là kẻ thụ ích, và về con người của Đấng thi ân cho mình. Lúc đầu, đối với anh? Chúa Giêsu chỉ là “một người tên Giêsu” và việc anh lành bệnh chỉ là một cuộc phiêu lưu khó hiểu chưa từng thấy, một cuộc phiêu lưu mà anh chỉ biết một cách lờ mờ: ông đã trộn bùn, xức mắt tôi rồi bảo tôi: Hãy đi Siloê mà rửa. Vậy tôi đi rửa và được sáng mắt” (c.11). ông Giêsu ấy ở đâu, anh mù chằng biết (c. 12).

Nhưng rồi, khi thấy người Biệt phái chia rẽ nhau, anh bắt đầu hiểu sự kiện đó có một ý nghĩa tôn giáo và, trực tiếp nhảy vào cuộc, anh không ngần ngại tuyên bố Chúa Giêsu là “một ngôn sứ ” (c. 17) và do đó việc anh được chữa lành là một phép lạ, một “dấu chỉ”. Sau cùng, khi người Do thái cương quyết giữ vững lập trường và nhất định cho Chúa Giêsu là một tội nhân, thì anh mù càng kiên vững trong niềm xác tín của mình: Chúa Giêsu là một người thờ Chúa?, “tuân theo thánh ý Ngài”, và được ngài nhận lời cầu xin”, nên do đó phép lạ làm sáng mắt là một ân huệ của Thiên Chúa, được ban cho nhờ lời cầu xin của ông ấy. Hơn nữa, “nếu ông ấy đã không bởi Thiên Chúa mà đến, thì đã chẳng làm gì được ” (c.33): ông đã được Thiên Chúa sai đến để chữa anh lành.

Người mù chỉ biết tới chừng đó khi Chúa Giêsu “gặp anh” (c.35). Anh đang đứng trước ngưỡng cửa đức tin. Để đạt đến ánh sáng toàn diện, anh phải có cuộc gặp go này và Chúa Giêsu đã không thì chối buổi hội ngộ ấy gặp anh, Người bảo: Còn người, người có tin vào Con Người không? Anh đáp: Ai vậy thưa Ngài, ngõ hầu tôi tin vào Người?”. Kẻ mù đã sẵn sàng tin. Chúa Giê-su nói với anh : “Ngươi đã thấy Người, chính kẻ đang nói cùng ngươi”. Anh liền thưa : Lạy Ngài, tôi tin, và anh sấp mình bái lạy Người (c. 35- 38).

Kẻ mù chấp nhận không đắn đo chứng tá của Chúa Giêsu, nên lập tức mắt anh mở ra; anh “thấy” Chúa Giêsu, không chỉ bằng con mắt xác thịt mới mẻ, nhưng còn bằng đôi mắt đức tin vừa phát sinh của mình. Anh thấy Người là Con Người, là Đấng Thiên sai, là Quan án và là Đấng Cứu thế. Anh nhận ra kẻ đã cho anh được thấy. Đây mới là khởi điểm đích thực của phép lạ. Vậy là người hành khất, mù lòa bẩm sinh, kẻ bị coi là tội lỗi và chỉ là tội lỗi từ lúc sinh ra, đã trở nên “dấu chỉ” sống động của con người được Chúa Giêsu soi sáng và tái sinh. Anh quả là chứng nhân của Chúa Giêsu-ánh sáng vậy.

Ngược lại, các đầu mục Do thái, những kẻ chối bỏ “dấu chỉ” và hơn nữa cho đó là tội lỗi, thì đắm chìm trong tăm tối triền miên. Giam mình trong nỗi tự mãn, họ bảo: Chúng ta biết (cc. 24.29). “Chúng ta thấy” (x.41 ; x.c.39). “Dễ chừng chúng ta đui mù cả sao” (c.40). Do đó ánh sáng, thay vì chiếu soi và giải thoát họ, đã làm họ ra đui mù và kết án họ luôn. Đối với họ, Ngày của Chúa Kitô, ngày ánh sáng, đã trở nên ngày tối tăm (Am 5, 18- 20). Ngày ấy, vốn là Ngày cứu rỗi, đã trở nên ngày phán xét. Bởi đó mà Chúa Giêsu tuyên án: “Chính để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì được thấy và người thấy lại hóa ra đui mù ” (c.39). Ta nhận ra đây chủ đề đui mù “của các ngôn sứ” (Đnl 29, 4 ; Is 6, 9 ; Gr 5,21 ; Ed 12, 2 v.v…) và lời Chúa Giêsu nói cùng Nicôđêmô: “An xử là thế này: ánh sáng đã đến trong thế gian mà loài người đã yêu mến tối tăm hơn ánh sáng, vì công việc họ làm xấu xa. Thật vậy, ai làm điều dữ thì ghét ánh sáng, vì sợ công việc của họ bị lột trần; nhưng ai làm sự thật, thì đến với ánh sáng để cho thấy là các việc của mình đã được làm trong Thiên Chúa” (3, 19- 21).

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Ai dã phạm tội để nó phải sinh ra mù lòa như vậy ?”. Theo một quan niệm khá phổ biến trong thế giới cổ thời, thì có mọi liên hệ mật thiết giữa tội lỗi và bệnh tật thể lý (Xh 9, 1- 12; Tv 38, 2- 6 ; Ed 18, 20). Trong trường hợp các kẻ tàn tật bẩm sinh, một số giáo sĩ Do thái cho rằng là tại cha mẹ, kẻ khác bảo do chính đứa bé mà chứng tật đã phát sinh trong thời kỳ mang thai (Strack-bill. t.II, tr.528).

“Ta là ánh sáng thế gian”: ở đây còn rõ ràng hơn ở 8,12. “ánh sáng” không phải là một định nghĩa siêu hình về con người Chúa Giêsu, nhưng là một cách mô tả ảnh hướng của Người trên vũ trụ; Người là ánh sáng tạo nên cuộc phán xét và cứu rối trần gian.

“Người Do thái đồng lòng trục xuất anh ta khỏi hội đường”. Vào thời biên soạn Tin mừng, chắc chắn biện pháp trục xuất còn được thi hành trong dân Do thái. Có 3 loại. Nhẹ nhất là khiển trách (nozlpha) và phạm nhân bị tách biệt khoảng một tuần, hay hơn nữa là một tháng. Bậc thứ hai là loại trừ (nddui): trong vòng một tháng, phạm nhân phải ngồi bệt dưới đất mặc tang chế, để râu tóc mọc dài, không tắm rứa, đứng “ở nơi riêng biệt trong giờ cầu nguyện chung. Bậc thứ ba là trục xuất (herem), hình phạt đáng sợ nhất: nó kéo dài vô hạn định; đương sự có thể bị tịch thu tài sản; mọi liên lạc, dù là riêng tư, với tội nhân đều bất hợp pháp (Strack-bill. IV, 292-333). Hình như các đầu mục nhân dân đã áp đụng hình phạt này đối với những người theo Chúa Giêsu.

“Chúng ta biết Thiên Chúa không nhậm lời kẻ tội lỗi”. Đó là một chân lý phổ thông trong thế giới Thánh kinh (Is 1,15; Tv 66, 18; 109, 7 ; Cn 15, 29 ; G 7,9; 5, 13; Ga 16,23-27; 1Ga 3,21 -22).

“Để kẻ thấy được lại đui mù” : Dù ý nghĩa văn phạm của phân từ được dùng ở đây là thế nào chăng nữa (ngay cả người Hy lạp, đặc biệt thánh Gioan Kim khẩu, cũng thú nhận trong: chữ hin không luôn luôn chỉ mục đích, mà thỉnh thoảng chỉ một hậu quả), thì sự đui mù của các kẻ cứng lòng tm không phải là mục đích Thiên Chúa muốn trong mầu nhiệm tiền định, nhưng chỉ là một trong các hậu kết của thái độ họ đối với Chúa Kitô.

KẾT LUẬN

Trường hợp anh mù soi chiếu một cách sỗ sàng cảnh ngộ cụ thể của đức tin trong thế gian này: một cảnh ngộ bi đát. Việc nhìn nhận Chúa Giêsu Kitô và lòng trung thành với ánh sáng đòi hỏi người đó một sự đoạn tuyệt anh hùng; anh phải vượt thắng tất cả các áp lực và sợ hãi. Đức tin của anh bị thế gian truy nã, vì đức tin là chọn lựa theo Con Người trong cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm. Nhưng trong cuộc tranh chấp này, đức tin là chiến thắng của sự sống.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Cầu chuyện người mù chiếu dọi một luồng sáng gay gắt trên hành trình của ánh sáng trong thẳm sâu tâm hồn con người, trên các chướng ngại vật mà ánh sáng gặp phải và trên cuộc tranh chấp của nó với quyền lực tối tăm. Con người vừa là ánh sáng vừa là bóng tối. Họ mang trong mình khả năng trở thành mù lòa, khả năng tự viện ra nhiều lý do chính đáng để khỏi nhìn xem, khả năng tự tạo cho mình nhiều xác tín sai lạc, khả năng từ chối mở mắt khi bảo mình trông thấy. Nhưng ánh sáng trong họ cũng không kém đòi hỏi. Nó bắt buộc phải xét lại biết bao vấn đề, phải từ bỏ biết bao thói quen, phải đoạn tuyệt đôi khi với môi trường sống. Vì những thứ ấy dễ làm cho cái nhìn của con người bị sai lạc. Con người phải tìm lại cho được lòng trong trắng của tuổi ấu thơ vậy. Đó là tất cả những gì mà câu chuyện người mừ bẩm sinh muốn nói. Câu chuyện ấy đã diễn tả thành bi kịch lời Chúa Giêsu sau đây: đèn của thân thể là con mắt. Nếu mắt người lành lặn thì toàn thân người sẽ sáng láng. Nhưng nếu mắt người đau yếu, toàn thân ngươi sẽ ở trong tối tăm. Vậy nếu ánh sáng trong ngươi trở nên tối tăm, thì sẽ tối tăm biết mấy” (Mt 6, 22- 23).

2. Câu chuyện người mù từ thuở mới sinh cho thấy cảnh ngộ của người tín hữu có thể bi thảm đau chừng nào (ngược với ý kiến của một số nhà hiện sinh vô thần xem đức tin như là một sự đào thoát an thân). Đức tin có thể đòi buộc ta phải đoạn vệ dữ dội với thế gian và phải anh hùng tuyên xưng chân lý. Việc nhìn nhận Chúa Giêsu như là Đấng được Thiên Chúa sai đã khiến anh mù bị khai trừ ra khỏi cộng đoàn. Người ta đuổi anh như đuổi một tội nhân. Ngay cả cha mẹ anh cũng từ chối bênh vực anh nữa. Đức tin bấy giờ có vẻ cô đơn. Nó bị tầm nã. Nhưng nó cần phải lượt thắng sự sợ hãi, lòng kính trọng của thế nhân, nỗi lo âu về dư luận người đời và phải cố gắng độc lập để đạt đến sự tự do đích thực, dù phải chịu muôn ngàn đau đớn.

3. Cử chỉ chúa Giêsu lấy bùn hòa với nước miếng xem ra kỳ dị; tuy nhiên có thể đoan chắc rằng người không để sự gì xảy ra cách ngẫu nhiên. Trước tiên, việc đó gợi cho ta nhớ đến câu chuyện trong Sáng thế thư mô tả Thiên Chúa lấy bùn đất tạo dựng con người đầu tiên (St 2, 7). Khi bảo anh chàng kia bị mù là để công việc Thiên Chúa được tỏ hiện trong anh nhờ trung gian Đấng Ngài sai đến, Chúa Glêsu muốn tự giới thiệu mình như là kẻ có sứ mệnh tiếp tục công việc tạo dựng đã khởi đầu song chưa hoàn tất. Ngay từ những câu đầu tiên, Người tỏ ra như là Đấng được Tạo hóa sai đến, làm lại cũng một cử chỉ để chữa lành con ngưòl mà tật nguyền là dấu chỉ của một sự thiếu thốn sâu xa hơn.

4. Giữa loài người chúng ta, có những kẻ không nhìn xem được; họ biết điều đó nhưng cảm thấy không thể chữa mình lành. Người mù bẩm sinh trong Tin Mừng là biểu tượng, tà đại diện của họ: Và cũng như Chúa Giêsu đã làm cho bệnh nhân đó được lại mọi quan năn.. của con người, thì Người cũng mang đến cho những ai ý thức rõ sự ngu dốt và tối tăm của mình, ánh sáng nội tâm để làm tri thức đích thực; Người ban cho họ khả năng hiểu biết, phân biệt cái gì là thật và cái gì chỉ được bộ mã bên ngoài. Ngược lại, có nhiều kẻ chẳng ý thức tý nào về sự đui mù của mình; họ tự mãn về điều họ biết và không ao ước gì khác nữa. Những người đó bị đóng kín trong sự hiểu biết riêng tư, họ sẽ chẳng bao giờ đi xa hơn, và sẽ không tài nào đón nhận được những gì mà Chúa có thể cho họ khám phá một ngày nào đó.

5. Tại sao có nhiều đau khổ trong trần gian, mà ta không biết được nguyên do, mục đích. Đừng vội kết luận rằng những kẻ bất hạnh đang gánh chịu chúng là nạn nhân của một định mệnh mù quáng nào đó. Sớm muộn gì rồi Thiên Chúa cũng sẽ làm rạng rỡ nơi họ sức mạnh va lòng nhân ái của Ngài (Rm 8,28). Chính vì mục đích áy mà Tobia đã bị đui mù, Gióp rơi vào cảnh cùng khốn và Ladarô phải bị chôn vùi trong nấm mộ.

Giáo Hoàng Học Viện

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *