NHỮNG QUY TẮC VỀ ÂN XÁ
1. Ân xá là miễn giảm trước mặt Chúa các hình phạt tạm do các tội lỗi đã được thứ tha. Tín hữu nào được chuẩn bị xứng đáng và thi hành những điều kiện được chỉ định rõ ràng thì nhận được sự miễn giảm các hình phạt tạm này nhờ sự trợ giúp của Giáo Hội. Với tư cách là thừa tác viên ơn cứu độ, Giáo Hội có thẩm quyền phân phát và sử dụng kho tàng các công việc chuộc tội của Đức Kitô và các thánh. (Tông Hiến Indulgentiarum, khoản 1).
2. Ân xá được gọi là Toàn xá hay Tiểu xá tuỳ theo nó tha toàn bộ hay một phần hình phạt tạm do tội. (Tông Hiến Indulgentiarum, khoản 2).
3. Không ai được lãnh ân xá để nhường ân xá đó cho người còn sống. (X. Giáo Luật năm 1983, điều 994).
4. Ơn Toàn xá lẫn Ơn Tiểu xá, cả hai luôn có thể áp dụng cho người chết. (Tông Hiến Indulgentiarum, khoản 3).
5. Bất cứ tín hữu nào thực hiện một việc có ban Ơn Tiểu xá đều nhận được qua Giáo Hội sự tha các hình phạt tạm tương xứng với việc họ làm với điều kiện ít là họ ăn năn thật lòng. (Tông Hiến Indulgentiarum, khoản 5).
6. Không còn dùng cách phân chia ân xá về “người”, về “vật” và về “nơi chốn” nữa. Điều này cho thấy rõ ràng chủ thể của ân xá là hành vi của các Kitô hữu dù những hành vi ấy đôi khi liên quan đến vật nọ, nơi kia. (Tông Hiến Indulgentiarum, khoản 12).
7. Ngoại từ thẩm quyền tối cao của Giáo hội, chỉ những ai được giáo luật nhìn nhận hay được Đức Giáo hoàng ban cấp mới có thể ban các ân xá. (X.Giáo Luật, điều 995, triệt 1).
8. Trong giáo triều Rôma, chỉ một mình Tòa Ân Giải Tối Cao được quyền đảm trách những vấn đề liên quan đến việc ban cấp và sử dụng các ân xá. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng gì đến quyền của bộ giáo lý đức tin để xem xét bất cứ điều gì liên quan tới giáo lý về ân xá. (X.Tông Hiến Regimini Ecclesiae Universae, 15/8/1967, số 113 (AAS, 59 [1967] : 923))
9. Không quyền bính nào dưới Đức Giáo hoàng có thể chỉ định cho người khác quyền ban ân xá, nếu không được Tòa thánh minh thị dành cho đặc quyền ấy. (x. Giáo Luật, điều 995, triệt 2.)
10. Khi bắt đầu tác vụ chăn dắt của mình, các Giám mục giáo phận và những người được giáo luật đồng hóa với Giám mục giáo phận có quyền sau :
1. Ban ơn tiểu xá cho người tín hữu đã được trao phó cho các ngài chăm sóc.
2. Ban phép lành Tòa Thánh với ơn toàn xá theo công thức đã quy định ba lần trong một năm tại Giáo phận của ngài vào lúc kết thúc các thánh lễ với lễ nghi phụng vụ đặc biệt long trọng hoặc các lễ trọng do ngài ấn định, dù ngài chỉ tham dự Thánh lễ thôi.
11. Trưởng Giáo tỉnh có quyền ban ơn tiểu xá trong các giáo phận thuộc giáo tỉnh của các ngài giống như cho giáo phận của ngài vậy.
12. Các Thượng phụ có thể ban ơn tiểu xá mọi nơi thuộc lãnh thổ của mình, trong các nhà thờ bên ngoài lãnh thổ thuộc lễ điển riêng của các ngài, và mọi nơi trên thế giới cho các tín hữu thuộc lễ điển riêng của các ngài. Các Tổng giám mục cũng có quyền tương tự.
13. các Hồng Y có quyền ban ơn tiểu xá cho những người hiện diện mọi nơi vào các dịp đặc biệt.
14.
1. Không một cuốn sách nào ghi những việc ban cấp ân xá được xuất bản nếu không có phép của Bản Quyền Sở Tại hoặc Giám mục (Đông Phương)
2. Không kể là ngôn ngữ nào, những ấn phẩm sưu tập nguyên văn các kinh nguyện và các việc đạo đức mà Tòa thánh quy định có ban ân xá, đòi phải có sự cho phép minh thị của Tòa thánh.( X. Giáo Luật, điều 826, triệt 3).
15. Những ai được Đức Giáo hoàng cấp quyền ban ân xá như là ân hụê cho các tín hữu, nếu có nguy cơ bị vô hiệu hóa ân huệ được ban cấp, họ có bổn phận phải gởi bản sao xác thực về việc ban cấp ấy đến Tòa Ân Giải Tối Cao.
16. Một ân xá đi kèm với lễ trọng nào sẽ được dịch chuyển đúng vào ngày lễ trọng đó hoặc dịch chuyển tuân thủ theo luật.
17. Khi các tín hữu viếng nhà thờ hoặc nhà nguyện để lãnh ơn xá trong những ngày đặc biệt, thì thời gian được tính từ trưa ngày hôm trước đến nửa đêm ngày hôm sau.
18. Các tín hữu nhận được Ơn Tiểu xá khi thành kính sử dụng các đồ vật tôn giáo (tượng Chúa chịu nạn, Thánh giá, Tràng hạt, áo Đức Bà, ảnh đeo) đã được linh mục hoặc phó tế làm phép. Nếu đồ vật tôn giáo được Đức Giáo hoàng hay Đức Giám Mục làm phép, thì tín hữu nào sử dụng chúng có thể nhận lãnh một Ơn Toàn xá vào ngày lễ Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ, nhưng họ phải tuyên xưng đức tin bằng cách đọc bất cứ công thức nào được Giáo Hội chấp thuận. (Tông Hiến Indulgentiarum Doctrina, khoản 17).
19.
1. Việc viếng nhà thờ để hưởng ân xá vẫn còn hiệu lực nếu nhà thờ bị phá hủy và rồi được xây dựng lại trong vòng 50 năm tại ngay vị trí đó hoặc gần như ngay vị trí đó và dưới cùng một tước hiệu.
2. Việc sử dụng những vật thánh để hưởng ân xá sẽ hết hiệu lực khi vật thánh bị hư hỏng hoặc bị đem bán.
20.
1. Để có năng cách hưởng ân xá cần phải là người đã rửa tội, không bị vạ tuyệt thông, sống trong tình trạng ân sủng ít là vào lúc kết thúc công việc phải làm.
2. Thực sự để hưởng ân xá, đương sự ít là phải có ý muốn thủ đắc ân xá và thi hành những công việc vào thời gian và theo cách thức mà giáo quyền đã định. (X. Giáo Luật, điều 966).
21.
1. Ơn toàn xá được lãnh mỗi ngày chỉ một lần.
2. Tuy nhiên, các tín hữu có thể lãnh ơn toàn xá vào giờ chết, ngay cả sau khi đã lãnh một ân xá rồi vào cùng ngày.
3. Có thể được lãnh một ơn tiểu xá nhiều lần trong một ngày. Trừ khi được nói khác cách minh thị. (Tông Hiến Indulgentiarum Doctrina, khoản 6 ; cũng xem khoản 18).
22. Công việc được ấn định để lãnh nhận ơn toàn xá có liên quan đến nhà thờ hoặc nhà nguyện là sốt sắng viếng nơi đó với việc đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Tin Kính (Pater và Credo), trừ khi được tuyên bố khác trong một ban cấp cụ thể. Tông Hiến Indulgentiarum Doctrina, khoản 16.
23.
1. Ngoài việc từ bỏ mọi dính bén tội lỗi, ngay cả tội nhẹ, những quy định để hưởng ơn toàn xá là thực hiện một việc có ban ân xá và thi hành ba điều kiện: xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng.
2. Một lần xưng tội, người ta có thể được hưởng nhiều ơn toàn xá. Tuy nhiên, chỉ có thể được hưởng một ơn toàn xá với một lần rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng.
3. Ba điều kiện trên có thể được thực hiện trước hoặc sau vài ngày so với việc thực hiện công việc được chỉ định. Nhưng tốt hơn nên rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng vào đúng ngày thực hiện công việc này.
4. Nếu một người chưa sẵn sàng hoặc nếu công việc được ấn định và ba điều kiện được nói trên không thực hiện được, thì ân xá sẽ chỉ là tiểu xá; trừ trường hợp quy định tại số 27 và 28 cho người ngăn trở.
5. Để hoàn tất điều kiện “cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng”, người tín hữu hướng ý nguyện về Đức Giáo hoàng đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Kính Mừng ; Tuy nhiên họ có thể chọn đọc một kinh nào khác do lòng sùng kính và sốt sắng cá nhân. (X. Tông Hiến Indulgentiarum Doctrina, khoản 7,8,9,10).
24. Ân xá không thể kèm theo một công việc mà một người buộc phải thi hành theo luật hoặc mệnh lệnh, trừ khi được nói đến cách minh nhiên khi ban cấp. Tuy nhiên, một người thi hành một công việc bắt buộc như việc thống hối khi xưng tội và việc thống hối đó cũng ban ân xá thì người đó có thể ngay một lúc vừa hoàn tất Bí tích Hòa giải vừa được hưởng ân xá.
25. Ân xá được ban đi kèm với kinh nguyện, không kể đọc bằng ngôn ngữ nào, miễn là sự chính xác của bản dịch được xác nhận của Tòa Ân Giải Tối Cao hoặc Đấng bản quyền sở tại hoặc Giám mục (Đông Phương) sử dụng ngôn ngữ được chuyển dịch.
26. Để hưởng ân xá chỉ cần đọc đối đáp với người khác hoặc hợp ý với người khác khi họ đọc.
27. Cha giải tội được quyền thay thế công việc được ấn định hoặc các điều kiện cần thiết cho những ai không thể thi hành bởi ngăn trở pháp lý nào đó.
28. Theo giáo luật, Bản quyền sở tại và hàng giáo phẩm có thể ban ơn toàn xá cho các tín hữu thuộc quyền họ đang cư trú ở những nơi không thể xưng tội cũng như rước lễ hoặc chỉ có thể thực hiện được cách hết sức khó khăn, miễn là những người này phải ăn năn tội thật lòng và quyết tâm lãnh nhận các bí tích này sớm như có thể. (X. Tông Hiến Indulgentiarum Doctrina, khoản 11).
29. Người câm điếc có thể hưởng ân xá đi kèm với các kinh nguyện chung bằng cách sốt sắng hướng tâm hồn lên Chúa khi họ cùng hiện diện một nơi với các tín hữu đang cầu nguyện. Trong trường hợp cầu nguyện riêng, người câm điếc chỉ cần cầu nguyện thầm và bày tỏ bằng dấu hiệu nào đó là đủ hoặc thậm chí không cần diễn tả thành lời.

