Gợi ý giảng lễ Chúa Nhật 2 Mùa Vọng Năm B
DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA – ĐGM Ngô Quang Kiệt
Trong trận lũ lụt vừa qua, nhiều du khách trên tuyến đường Bắc – Nam bị kẹt ở miền Trung. Lý do là đèo Hải Vân bị sạt lở, xe cộ không đi lại được. Nhiều đoạn đường sắt bị nước lũ cuốn đi, nên tàu Bắc – Nam cũng đành ủ rũ nằm chờ. Nhiều làng bị nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.
Những con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp cho người bị nạn có thể thoát ra. Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc giữa người với người. Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ việc cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc cứu trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho thật tốt.
Con đường vật lý đã cần. Nhưng con đường tâm lý còn cần hơn. Nếu con đường tâm lý bị hư hỏng thì dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn cứ xa nhau.
Tương tự như thế, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu, nhưng ta chưa đón nhận được vì con đường thiêng liêng trong tâm hồn ta đã bị hư hỏng.
Tâm hồn ta có những đỉnh đồi kiêu ngạo luôn muốn nâng mình lên, luôn khoe khoang, không bao giờ chịu thua kém người khác. Tâm hồn ta có những ngọn núi tự ái cao ngất trời xanh, không bao giờ chịu nhận lỗi, không bao giờ chịu tha thứ.
Tâm hồn ta có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, muốn thu vén tất cả vào túi riêng. Tâm hồn ta có những hố sâu chia rẽ, luôn gây ra bất hoà, luôn giận hờn, luôn ganh ghét, luôn nghi kỵ. Tâm hồn ta có những hố sâu đam mê, miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta có những hố sâu dục vọng nặng nề thú tính.
Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với chính mình. Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự trốn tránh bổn phận, của sự giả hình, của sự thiếu duyệt xét lương tâm.
Tâm hồn ta có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn. Tâm hồn ta gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân. Tâm hồn ta gồ ghề vì những phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.
Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy ngăn chặn Chúa đến với ta. Nên hôm nay, Thánh Gio-an Tẩy Giả mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa Giê-su đến.
Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn. Hãy bạt đi tính tự ái ngang ngạnh. Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà. Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng. Hãy uốn thẳng lại những quanh co dối trá. Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh giả hình. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề nói hành nói xấu.
Đổi mới một con đường thì dễ, nhưng đổi mới tâm hồn không dễ chút nào. Ngoài những cố gắng bản thân, còn cần đến những phương thế. Đời sống của Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta đề nghị cho ta 3 phương thế rất tốt.
Phương thế thứ nhất là vào sa mạc. Sa mạc là nơi hoang vu vắng vẻ giúp ta sống cô tịch. Trong cô tịch, ta dễ chìm sâu xuống đáy lòng mình để gặp gỡ Chúa. Một mình ta diện đối diện với Chúa. Trong thân mật, Chúa sẽ dạy ta biết Thánh Ý để ta thi hành. Đức Giê-su, trước khi đi rao giảng cũng đã vào sa mạc 40 ngày để tìm Thánh Ý Chúa Cha. Sa mạc đây được hiểu là những giờ cầu nguyện riêng tư thân mật một mình ta với Chúa.
Phương thế thứ hai là mặc áo da thú. Mặc áo da thú có nghĩa là ăn mặc đơn sơ, không chải chuốt. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ. Thái độ đơn sơ khiêm nhường như thế chính là khởi điểm để tiến lên trên con đường thánh đức.
Phương thế thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế. Hãm dẹp những tính mê tật xấu, hạn chế những đòi hỏi của thân xác để bắt nó quy phục linh hồn. Giảm bớt những nhu cầu không cần thiết để bồi dưỡng đời sống tâm linh.
Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta đã sống theo chương trình 3 điểm này, nên Ngài đã trở thành người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta biết áp dụng 3 phương thế ấy trong Mùa Vọng này, ta sẽ biến tâm hồn ta thành một con đường thẳng tắp cho Chúa Giáng Sinh ngự đến.
Lạy Chúa, xin cứu con khỏi mọi tội lỗi để con xứng đáng đón rước Chúa. Amen.
Gm. NGÔ QUANG KIỆT, Giáo Phận Lạng Sơn
Suy Niệm : tiếng kêu – Đức Cha Lâm
Điểm nổi bật trong các bài đọc hôm nay là tiếng kêu. Khi một âm thanh vang động, thì tiếng ấy phải phát xuất từ đâu muốn nói gì và cho ai ? Tiếng kêu chúng ta nghe hôm nay phát xuất từ thiên chúa qua gioan tiền hô loan báo cho ta một sứ điệp : “này ta sai sứ giả của ta đi trước để dọn đường cho con ? Sứ giả gioan chính là tiếng kêu trong sa mạc : “hãy dọn đường cho chúa, chỗ quanh co hãy uốn lại cho ngay thẳng” (mc 1,1-3).
- Từ ngàn xưa cũng như bây giờ, thiên chúa vẫn làm phát xuất những tiếng kêu : qua các ngôn sứ, qua tiếng lương tâm và qua cả những trạng huống của đời sống con người. Những tiếng kêu bi thiết trầm thống của mọi thời đại đã vang tới chúa. Phải chăng chính vì vậy mà chúa mới nhắn bảo các sứ ngôn : “hãy an ủi, hãy an ủi dân ta. Hãy nói cho giêrusalem biết rằng : nó không còn phải mang kiếp tôi đòi nữa và tội lỗi của nó đã được tha” (is 40,2-2).
Vì thế tiếng kêu của chúa là một tiếng kêu đặc biệt. Thông thường khi nói tới tiếng kêu, chúng ta quen nghĩ tới kêu cứu, kêu gọi, kêu cầu : kêu cứu vì mình đang lâm nguy; kêu cầu để van xin giúp đỡ; kêu gọi để nhắc bảo phải làm một cái gì. Tiếng kêu của chúa không hàm nghĩa kêu cứu và kêu cầu, mà chỉ ngụ ý kêu gọi.
- Chúa kêu gọi ta làm gì ?
Để lay động thức tỉnh ta, bắt ta chú ý và chuẩn bị đón nhận một sứ điệp. Tiếng kêu của gioan tiền hô giữa nơi hoang vắng tiên vàn cũng đánh thức, gây chú ý và quy tụ dân chúng để nghe ông nói.
Sứ điệp của ông cũng tương tự như những điều ngôn sứ trong sách đệ nhị isaia đã nói với dân do thái vào thế kỷ vi, sau khi họ vừa thoát khỏi cảnh lưu đày ở babylon.
Chúa đã thẳng tay trừng trị giêrusalem, nhưng giờ đây họ không còn phải làm nô lệ nữa, và tội lỗi của họ đã được tha thứ.
Phải dọn đường cho chúa trong sa mạc. Chỗ gập ghềnh khúc khuỷu hãy uốn lại cho ngay.
Mọi người sẽ được nhìn thấy vinh quang của thiên chúa, vì người đến với đầy vẻ lẫm liệt oai phong.
Người lãnh đạo dân mình như mục tử chăn dắt đoàn chiên (is 40,1-5.9-11).
Những năm tháng lưu đày đã giúp họ hồi tâm lại và nhận thức lý do đem tới đau khổ là chính tội lỗi của họ (is 7,25-28). Từ đó nhóm dậy trong lòng họ những tâm tình sám hối, dẫn đến quyết định dứt khoát với tội lỗi.
Khi làm như thế là họ sửa sang đường lối trong tâm hồn cho ngay thẳng để đón tiếp vinh quang chúa đến. Đó chính là điều các ngôn sứ nhắm, khi các ngài gióng lên tiếng kêu.
- Tiếng kêu của gloan gây nên âm hưởng nào
Đối với người do thái đương thời ?
Chắc chắn, tiếng kêu ấy đã khiến họ ngỡ ngàng, băn khoăn và làm cho họ như phải đối diện với một số vấn đề thuộc phạm vi lương tâm và công bình xã hội (lc 3,714). Hoï đã chịu phép rửa sám hối, xin ơn tha tội để dọn tâm hồn tiếp nhận đức kitô.
Còn đối với chúng ta hôm nay thì sao ?
Sứ điệp của sách đệ nhị isaia và của gioan tiền hô vẫn thúc bách chúng ta dọn đường cho chúa trong sa mạc, nhưng là để đón chúa kitô trở lại trong vinh quang. Quả vậy, kinh nghiệm sa mạc của người do thái trong biến cố xuất hành khỏi ai cập hướng về đất hứa và trên đường hồi cư từ babylon trở về quê hương vẫn mang một giá trị hiện thực cho cuộc sống chúng ta ngày hôm nay. Sa mạc trong lịch sử cứu độ mang những ý nghĩa thần học thật sâu xa. Chính trong sa mạc con người chiïu thử thách và phải chiến đấu để trung thành với giao ước; cũng chính trong sa mạc, con người được thanh luyện tinh tuyền để xứng đáng với thiên chúa trong cuộc gặp gỡ ân tình. Giáo hội hôm nay cũng phải trải qua kinh nghiệm sa mạc bằng cuộc sống chiến đấu và thử thách để minh chứng lòng trung thành với ơn gọi kitô hữu của mình và để tự thanh luyện xứng đáng gặp lại đức kitô đến thiết lập trời mới đất mới (2 p 3,13).
- Phải chăng trời mới đất mới
Chỉ hình thành trong thời viễn lai ?
Ngay từ bây giờ trời mới đất mới xuất hiện khi mỗi người thi hành sứ điệp dọn đường cho chúa và biến cõi đời này thành nơi đáng sống hơn. Ở đó mỗi ngày một bớt dần những cảnh bất công tàn ác; ở đó nhân phẩm được kính trọng và các quyền lợi căn bản của con người được đảm bảo; và nhất là ở đó mọi người được hòa giải với thiên chúa và với anh em đồng loại. Như thế, vinh quang thiên chúa đang xuất hiện giữa thế giới loài người, vì theo lời thánh irênê : “con người là vinh quang của thiên chúa”. Chúng ta không ngừng xây dựng trời mới đất mới để tiến tới ngày viên mãn rực rỡ lúc mà đức kitô trở lại hoàn tất lịch sử cứu độ, thu hồi vạn vật về một mối (ep 1,10) và trao phó vương quyền cho thiên chúa cha, để người trở nên mọi sự trong mọi người (1co 15,28).
Đó là viễn tượng giúp ta hiểu đúng câu nói của thánh phêrô trong bài đọc thứ 2 : “ngày đó, các tầng trời sẽ sụp đổ tan tành, lửa, nước, ánh sáng, gió, mây đều cháy tiêu tan, và trái đất với tất cả mọi công trình xây dựng của con người đều bị thiêu đốt” (2 p 3,10). Câu đó có nghĩa là chính đức kitô sẽ dùng năng lực thánh thần và lửa tình yêu nung nấu tất cả, để siêu thăng và biến đổi chúng nên rực rỡ tốt đẹp cách nhiệm mầu chứ không hủy diệt chúng. Đó sẽ là cuộc biến hình hoàn vũ mà cuộc biến hình trên núi tabo là dấu chỉ và khởi đầu.
Tiếng kêu của gioan vọng lại tiếng kêu của thiên chúa trong lịch sử cứu độ, đang gọi ta đứng dậy, ngước mắt nhìn lên và hướng về tương lai. Viễn tượng chúa đến trong vinh quang đem lại cho ta niềm tin, phấn khởi trong cuộc hành trình qua sa mạc của đời sống hiện tại.
Vì thế, tiếng kêu của vị tiền hô là một tiếng kêu mang đầy hy vọng và niềm vui.
Bài giảng chúa nhật ii mùa vọng năm b
Chúa nhật hôm nay có thể gọi là chúa nhật của vị tiền hô, của gioan tẩy giả, của tiếng kêu dọn đường chúa đến, và như thế là chúa nhật của niềm trông đợi chứa chan hy vọng.
Chúng ta ngày nay, xét về mặt xã hội, không còn như lsrael ngày xưa. Dân chúa bấy giờ đang lầm than trong cảnh nô lệ lưu vong. Nhưng xét về nhiều phương diện khác, đời người luôn luôn có những khổ sở. Và chẳng bao giờ nhân loại thấy đã thoát khỏi lầm than, đau đớn… Luôn luôn chúng ta có một số vấn đề không làm đau khổ thể xác thì cũng làm khắc khoải tâm hồn. Và cái khổ là bao giờ những khó khăn hiện tại đối với tâm liệt, cũng vẫn là nhũng gò bó khó chịu nhất mà chúng ta muốn cựa quậy giũ đi cho bằng hết. Trong hoàn cảnh đó tiếng kêu của vị tiền hô đang muốn khơi lại niềm tin hun đúc niềm cậy, để mọi người chúng ta tìm lại được tinh thần chứa chan hy vọng do tin mừng cứu độ mang tới.
Gioan không bịa ra những nguồn tin giả dối, trần tục, vô căn cứ và miễn cho ta nhũng nỗ lực chính đáng. Chính ông cũng không tự xung là người sẽ giải thoát anh em ông chỉ cho chúng ta thấy đấng cứu thế đích thực, là đức giêsu kitô. Nói đúng hơn, khi rao giảng, ông bảo mọi người hãy trông cậy vào đấng sẽ đến sau, đấng chưa ai thấy nhưng chắc chắn sẽ đến mà ông chẳng đáng cúi xuống cởi dây giày người. Gioan không nói viễn vông. Đặt niềm tin ở sách thánh, căn cứ vào mạc khải của thiên chúa, gioan khảng định đấng cứu thế không phải là phàm nhân, không hành động như các vĩ nhân trong lịch sử. Ngài đến chăn dắt đoàn chiên mình như mục tử;. Ngài ẵm chiên con trên cánh tay; ôm ấp chúng vào lòng và nhẹ tay chăn dắt các chiên mẹ.
Đấng cứu thế chúng ta trông đợi là như thế. Ngài không có những toan tính trần gian. Ngài là một mục tử hiền lành săn sóc từng con chiên và cả đoàn chiên. Vì thể, chúng ta hãy trút bỏ não trạng trần tục khi khắc khoải đợi chờ đức kitô trở lại. Trong bất cứ thử thách nào đấng cứu chuộc chúng ta vẫn là chúa, vì chỉ có ngài mới đáp ứng niềm trông cậy của ta.
Niềm trông cậy ấy tạo nên ở nơi ta một thái độ, một tác phong, một nếp sống đặc biệt. Khi người ta ao ước những sự hão huyền hay chờ đợi những giải pháp trần tục, thường người ta dành công việc cứu thể cho người khác còn chính bản thân người ta chỉ thụ động lại và biếng nhác. Ngược lại, khi rao giảng đấng cứu thế là ai, thì gioan cũng vạch ra cho mỗi người con đường phải sửa soạn có thể tiếp một vị cứu tinh như thế. Người sẽ rửa ta trong thánh thần. Người sẽ thánh hóa tất cả nhũng ai sẵn sàng. Thế nên hết mọi người phải ăn năn thống hối, phải thú tội và sửa lại đường lối xưa nay. Không còn được sống quanh co, lúc thể này khi thể khác. Phải trước sau như một, thi hành một đòi hỏi của sự thánh thiện. Mọi gồ ghề ngăn trở các quan hệ tốt đẹp với tha nhân, phải bạt xuống và san phẳng đi, để tình người và lòng bác ái cứu độ của đức kitô đến với hết mọi người. Có như vậy, xã hội mới dần dần huynh đệ hơn, tốt đẹp hơn và chúng ta mới nhìn thấy ơn cứu độ của chúa trải rộng trên khắp mặt địa cầu.
Không những rao giảng, gioan còn sống cuộc đời sám hối. Ông ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông mặc áo lông lạc đà và thắt lưng bằng dây da thú. Ông sống như các thánh nhân thời bấy giờ : không quan tâm đến việc trang điểm bằng các sản phẩm mỹ nghệ, không ăn dùng như những người tưởng chỉ có các thú vui ởù đời này. Ngược lại, ông thấy hạnh phúc trong nếp sống gần thiên nhiên, thấy thiên nhiên như tiếng gọi trở về đời sống chất phác và chân thật. Ông coi cuộc đời phù phiếm như đã qua, và trông đợi trời mới và đất mới trong đó có công lý sẽ ngự trị.
Tất cả chúng ta không đang được kêu gọi đi vào một nếp sống cụ thể như thế sao ? Cả một lối sống phù phiếm như đã qua rồi những giờ lao động tiếp xúc với thiên nhiên như đang khiến ta có một nhân sinh quan mới : chân thật và đơn sơ hơn. Nhiều nhân đức phúc âm như đang có cơ hội thực thi dễ dàng hơn trước. Chúng ta phải bắt lấy thời cơ, nhờ ơn từ trời xuống, giúp nhau sám hối và đổi đời. Làm được như vậy là đang san phẳng đường đi cho chúa đến. Nói đúng hơn, thánh thần chúa ở trong ta đang muốn dùng ta để thay đổi mặt đất này cho công lí ngự trị.
Thánh thể mà chúng ta cử hành bây giờ cũng chỉ muốn thực hiện những điều đó. Đức kitô cứu thế mời ta góp phần đời sống sám hối canh tân của chúng ta vào mầu nhiệm tử nạn của người, để ơn phục sinh của người tràn vào tâm hồn và đời sống chúng ta, dùng nếp sống đổi mới hằng ngày của ta, canh cải mặt đất này tạo nên một trời mới đất mới cho tất cả mọi người.
Xin anh em hãy hết mình đi vào mầu nhiệm bàn thờ với những tâm tư quyết liệt như thế.
MÙA VỌNG: HÃY DỌN ĐƯỜNG CHÚA CHO NGAY THẲNG (Mc 3,1)
Mở
Ở phía nam Châu Kỳ, thuộc tỉnh Sơn Tây Bắc Việt, có hai quả núi Thái hằng và Vương Ốc, to bảy trăm dặm, cao tới ngàn thước, cây cối rậm rạp, ác thú ở nhiều, đi lại rất khó khăn nguy hiểm. Ở chân núi, có một ngôi nhà của ông lão tên là Ngu công, tuổi đã chín mươi. Ông Ngu công thấy vì núi, mà nhà ở chướng ngại, đường đi bất tiện, lấy làm bực tức vô cùng; nên một hôm, ông họp cả vợ con, người nhà lại mà bàn rằng: Ta muốn cùng các ngươi, hết sức bật phẳng hai quả núi này, thì có nên không? Nghe vậy, ai nấy đều ưng thuận cả. Chỉ có người vợ ngần ngại, hỏi vặn rằng: Sức ông yếu, không thể bạt nổi một cái gò, thì làm thế nào bạt được những hai quả núi? Mà dù cho có sức bạt đi nữa, thì đất đá sẽ đem đổ đâu cho hết? Ông Ngu công trả lời: Đất đá đem lấp các thung lũng trong miền; nếu còn dư, sẽ khuôn đổ ra bể Đông. Thế rồi, sáng hôm sau, ông Ngu công đem con cháu họ hàng ra phá núi: Kẻ đục đá, người đào đất, kẻ đầu đội, người vai gánh, hết ngày này qua tháng khác. Láng giềng có em bé mới lên tám tuổi, con một bà góa cũng xin đi làm giúp. Nhưng lại có một ông lão tên là Trí Tẩu đến cầu nguyện ông Ngu rằng: Sao ông khờ dại như vậy! mình thì tuổi tác, núi thì cao lớn, phá thế nào nổi? Ông Ngu công thở dài trả lời rằng: nếu thiện chí và bền lòng, thì làm việc gì cũng phải được. Ta già, ta chết, đã có con ta. Hết đời con ta, đã có cháu ta; hết đời cháu ta, đã có chắt ta. con cái cháu chắt sinh ra vô cùng, mà núi thì bao giờ cũng vậy, lo gì mà không bạt nổi. Do đó, ngày nay vùng Nam Châu ký không còn núi non chướng ngại, mà đường xá đi lại thuận tiện, là nhờ có ông Ngu công (II, trg 229).
- Về phương diện thiêng liêng tôn giáo, theo bài phúc âm hôm nay, thánh Gioan tiền hô cũng dạy chúng ta phải bạt đồi núi xuống, để dọn cho Chúa một con đường nhẵn nhụi phẳng phiu.
Charles de Foucauld là một sĩ quan kỵ mã, vì mê cô đào Mimi, phạm quân kỷ, nên đã bị loại khỏi gia đình quân đội. Từ đó Charles de Foucauld đã sống một đời tội lỗi, xa bỏ Chúa. Vì mất ơn Chúa, đức tin trở nên yết ớt, Charles de Foucauld đã có những tư tưởng sống đạo. Một lần kia, đến gặp cha Huvelin, Charles de Foucauld muốn bày tỏ những tư tưởng nghịch đạo, và xin giải đáp những thắc mắc. Nhưng biết Charles de Foucauld là người đạo dòng, sống xa Chúa, kém đức tin; và như được ơn Chúa soi sáng, cha Huvelin nói với Charles de Foucauld: anh cứ dọn mình xưng tội đi đã, rồi tôi mới giải đáp mọi thắc mắc cách thỏa đáng. Cha Huvelin đã giúp cho Charles de Foucauld dọn mình xưng tội cách sốt sắng. Sau khi lãnh phép giải tội, ơn Chúa đổ tràn xuống tâm hồn Charles de Foucauld, khiến đức tin anh trở nên mạnh mẽ, đến nỗi khi cha Huvelin hỏi: bây giờ có thắc mắc gì anh hãy nói. Charles de Foucauld trả lời: thưa cha, sau khi chịu phép giải tội, con thấy các thắc mắc và tư tưởng chống đạo đều tan biến hết. Rồi từ lúc đó, Charles de Foucauld quyết chí bỏ thế gian, đi tu làm linh mục, lập tu hội Tiểu đệ và Tiểu muội, chuyên lo việc thờ phượng Chúa và thực thi đức bác ái giúp đỡ tha nhân. Trong chúng ta cũng thế, tội nhẹ là quả đồi, tội trọng là quả núi, đã ngăn cản đường không cho Chúa đến ban ơn cho ta. Vậy trong mùa vọng này, Giáo hội khuyên chúng ta hãy dọn mình xưng tội, để bạt đồi núi trong linh hồn, để dọn cho Chúa một con đường nhẵn nhụi và phẳng phiu, để Chúa đến ban ơn cho chúng ta trong ngày lễ giáng sinh như Chúa đã ban ơn cho chúng ta trong ngày lễ giáng sinh, như Chúa đã ban ơn cho cha Charles de Foucauld sau khi chịu phép giải tội.
- Với những anh em mắc ngăn trở bất khả kháng, không thể chịu phép giải tội được, hay có khi gặp những trường hợp không tìm được linh mục. Trong mùa vọng này, Giáo hội khuyên chúng ta hãy ăn năn tội cách trọn, để một phần nào bạt những đồi núi tội lỗi trong linh hồn.
Thánh nữ Têrêxa hài đồng Giêsu có kể truyện rằng: có một chị thanh nữ tên là Victorie đã sống trong nghề mãi dâm. Lần kia, may mắn chị gặp thấy một thày tu hành đạo đức thánh thiện. Thày tu hành đã khuyên bảo chị bỏ nghề tội lỗi để trở về với Chúa. Được ơn Chúa đánh động mạnh, chị Victorie không những bỏ nghề tội lỗi trở về với Chúa, mà còn quyết chí lên rừng gặp vị linh mục xưng tội, rồi tu luôn trên rừng để hãm mình đến tội, chị vừa đi vừa ăn năn đau đớn vì đời sống tội lỗi của mình trước đây. Vì đi đường nhọc mệt, lại vấp phải một tảng đá, chị đã té xỉu và chết dọc đường. Mặc dầu chưa gặp được linh mục để xưng tội, mặc dầu chưa lên tới rừng để hãm mình đền tội. Vậy mà khi chị Victorie vừa tắt thở dọc đường, Chúa cho thầy tu hành cùng đi với chị, đã xem thấy linh hồn chị sáng láng bay lên thiên đàng. Vậy khi mắc ngăn trở theo giáo luật, hay khi gặp trường hợp không có linh mục mà chiụ phép giải tội, anh chị em hãy dùng cách ăn năn tội cách trọn, để bạt đồi núi trong linh hồn như chị Victorie trên đây, để dọn cho Chúa một con đường nhẵn nhụi phẳng phiu, để Chúa đến ban ơn tha tội và ban nước thiên đàng cho ta.
- Ngoài việc bạt đồi núi tội lỗi rồi, Giáo hội còn khuyên chúng ta phải lấp đầy thung lũng, là làm thêm việc lành phúc đức. Margarita Cortona đã sống bất hợp pháp với một chàng thanh niên lâu ngày lâu tháng. Rồi hôm kia, sau một ngày chồng đi săn, con chó trở về cắn gấu áo Margarita Cortona lôi đi. Margarita Cortona đã đi theo con chó săn đến một đống ngành cây, và Margarita Cortona đã xem thấy xác của tình nhân mình bị đâm chết, và bị giấu vào đống ngành cây đó. Xác chết lôi thối của tình nhân đã làm cho Margarita Cortona nhớ lại lời sách gương Chúa Giêsu:
“Phù hoa nối tiếp phù hoa,
Của đời hết thảy chỉ là phù hoa”
Nên sau khi chôn xác của tình nhân rồi, Margarita Cortona đã trở về với Chúa. Margarita Cortona đã dùng phép giải tội để xin ơn tha thứ, còn mặc áo nhặm đền tội, lại hy sinh năng đọc kinh xem lễ, và làm việc bác ái thăm viếng giúp đỡ tha nhân, để đền tội lập thêm công phúc. Nhờ đó Margarita Cortona đã trở nên một vị thánh mà hàng năm cứ đến ngày 21 tháng 2 Giáo hội đã cầu nguyện với thánh nữ rằng: “Lạy Thiên Chúa chúng con, Chúa đã thương xót đưa nữ tỳ Chúa là Margarita Cortonatừ nơi hư mất đến đường phần rỗi. Xin Chúa cũng thương xót như vậy mà ban cho chúng con, là những người trước đây đã không hổ ngươi theo đường lầm lạc, thì bây giờ được hãnh diện theo người thống hối”. Vậy nếu trước đây chị ta đã biếng nhác làm việc lành phúc đức, để gây ra những thung lũng trong tâm hồn, thì trong mùa vọng này, Giáo hội khuyên chúng ta bắt chước thánh Margarita Cortona biết hy sinh cầu nguyện, biết hy sinh làm việc bác ái, mà lấp đầy thung lũng lại, để chúng ta tạo cho Chúa một con đường nhẵn nhụi phẳng phiu, để Chúa đến ban ơn cứu rỗi và các ơn cần thiết cho ta.
- Nắn đường quanh co cho thẳng. Ta làm việc lành thiếu ý ngay lành, để người thế gian khen; để che mắt thiên hạ, hay hoàn toàn vì đồng tiền bát gạo, thì thánh Têrêxa Giêsu bảo: “phải làm việc theo lương tâm vì mến Chúa, việc rất nhỏ mà làm vì mến Chúa Ba ngôi”.


