Đào tạo và tự đào tạo ĐỘC THÂN trong đời sống LINH MỤC
Lời mở đầu
Khi nói đến đòi hỏi thiêng liêng, đặc biệt là trong đời sống linh mục, Công đồng Vaticanô II đã kể ra ba đòi hỏi chính là: khó nghèo, vâng phục, khiết tịnh. Trong đó khiết tịnh là sống một cách quảng đại đời sống độc thân vì Nước Trời để thuộc về chúa trọn vẹn hơn và phục vụ anh em đắt lực hơn.[1]
Thời buổi hiện nay là lúc đời sống tính dục, đôi bạn cặp kè và thậm chí gia đình đang là những giá trị đắt giá nhất[2]. Có nhiều người nghĩ rằng những người đi tu theo hướng độc thân linh mục là một cách trốn chạy cuộc đời, là người thất bại ở chuyện tình cảm nên mới tìm đến chuyện đi tu để quên đi các chuyện khác. Nhưng mọi chuyện không phải như vậy, những người độc thân linh mục là người có lý tưởng riêng của mình, họ chọn sống độc thân là vì tin vào Chúa, và hướng cho tha nhân vào được Nước Trời như trong thánh kinh đã dạy.
Bậc độc thân linh mục làm cho linh mục giống Đức Giêsu Kitô, mục tử nhân lành và phu quân của Giáo Hội (PDV, số 50)[3]. Như vậy, là linh mục tức là thuộc về Chúa cách hoàn toàn, độc chiếm, triệt để, sâu xa, chúng ta chỉ thuộc về Chúa, tất cả thuộc về Người, vì vậy, sự trong sạch phải có nghĩa là tất cả tư tưởng, lời nói việc làm và hành động xuất phát từ con tim hoàn toàn tận hiến trong tình yêu dành cho Chúa Kitô.[4]
Trong bài nghiên cứu về đời sống độc thân trong linh mục này, chúng ta sẽ tìm hiểu về nền tảng thánh kinh, cơ sở và tấm gương khiết tịnh để chúng ta noi theo. Sau đó, sẽ tìm hiểu về sự trưởng thành tâm lý của các ứng viên cũng như các linh mục chịu trách nhiệm huấn luyện. Ở chương 3 sẽ là nghiên cứu về sự kiên quyết của Giáo Hội khi xác tín đời sống độc thân linh mục là tuyệt đối cần thiết và Đức tin khi sống đời độc thân. Cuối cùng là vấn đề đào tạo ứng viên, những vấn nạn xung quanh chuyện độc thân linh mục và vài phương thức cũng cố độc thân linh mục.
CHƯƠNG I: NỀN TẢNG THÁNH KINH VỀ ĐỨC KHIẾT TỊNH
1. GƯƠNG KHIẾT TỊNH CỦA CHÚA GIÊSU
Nếu các ứng viên linh mục đón nhận đời khiết tịnh cách nồng nàn và âu yếm như một lối sống vĩnh viễn thì cùng với lòng ao ước noi gương Chúa Kitô. Và nếu căn tính của đời khiết tịnh Kitô hữu được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô thì các ứng viên nhất định phải nhìn nhận Đức Kitô là khởi điểm[5].
Khiết tịnh đã được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô như một nét nổi bật của tình yêu dành cho những người nghèo khó, một tình yêu, một dấu chỉ rõ rệt nơi con người[6]. Đức Giêsu đã chấp nhận sứ mạng phục vụ Nước Trời bằng cách «giao hòa lại nơi thân xác» (Cl 1, 22), nghĩa là một thân xác đầy những thú vui nhục dục cám dỗ và các thế lực thù nghịch với Nước Trời, để chịu chết, làm lễ tế hy sinh[7]. Đối với Chúa Giêsu, Nước Trời hay triều đại của Thiên Chúa là một sứ vụ vĩ đại, là động cơ cho sự nhập thể của Người. Người ta không thể nói về đời sống độc thân của người Kitô hữu mà không nói đến sự hiệp nhất trong Nước Trời. Do đó, phải dùng đến sự hiệp nhất trong Nước Trời để nói rõ ý nghĩa đời sống độc thân của linh mục và các ứng viên linh mục[8].
Sự độc thân quả là một sự tự biết mình trong Đức Giêsu và với Đức Giêsu cho Giáo Hội của Ngài, nó diễn tả việc phục vụ Giáo Hội mà linh mục thi hành trong và với Chúa (PDV, số 29)[9]. Chính Chúa Giêsu là lý tưởng cụ thể của cuộc sống thánh hiến này, Chúa Giêsu đã sống độc thân, nên Ngài đã có thể tận hiến mọi sức lực cho công tác rao truyền nước Chúa, và phục vụ con người với con tim hoàn toàn rộng mở cho nhân loại như Người dẫn đến một thế hệ tinh thần mới.
Đời sống khiết tịnh của linh mục đại diện cho sự khiết tịnh trong đời sống hôn nhân của Giáo Hội, với tân lang duy nhất là Đức Giêsu. Khiết tịnh là sự chọn lựa dứt khoát vì Đức Giêsu, một sự cường điệu về tiên báo hôn lễ của Giáo Hội với Đức Giêsu. Đời sống khiết tịnh liên kết chặt chẽ và tuyệt vời với sự độc thân vì Nước Trời của Chúa Giêsu. Đời sống độc thân và khiết tịnh nhắc nhở trong Giáo Hội hình ảnh Đức Giêsu lịch sử và mời gọi Giáo Hội dấn thân theo Đức Giêsu[10].
Chúa Giêsu đã làm gương về vấn đề này, đi ngược lại cái được coi là văn hóa chủ đạo thời đó khi tự do sống độc thân. Chúa Giêsu đã dạy «vì có những người yêm hoạn bởi tự lòng mẹ sinh ra như vậy; và có những người yêm hoạn bởi người ta làm cho nên yêm hoạn; và có những người yêm hoạn bởi mình làm cho mình thành yêm hoạn vì Nước Trời»(Mt 19, 12). Nối gót Ngài, các môn đệ đã từ bỏ «các của riêng tư, rồi đi theo Người» (Lc 18, 28) và làm theo lời Người dạy để hoàn thành sứ vụ mà Chúa Giêsu đã giao phó cho các ông.
Nền tảng cơ bản của khiết tịnh không dựa trên một điều gì khác là Lời Chúa, những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, đời sống của Đức Maria đồng trinh và truyền thống các tông đồ (LG, số 45-46)[11].
2. GƯƠNG MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE
Đức Maria là mẫu gương khiết tịnh của đời thánh hiến nhưng ở trong hoàn cảnh thật đặc biệt, trong đó Mẹ không chỉ là một trinh nữ mà là một người vợ đồng trinh. Mẹ đã sống cuộc sống đồng trinh vĩnh viễn trong điều kiện hôn nhân và trong vai trò làm mẹ, mẹ của Đức Giêsu và làm Mẹ của các tông đồ, Mẹ đã đặt trái tim thân xác và linh hồn để phục vụ con của Mẹ, con cái của Mẹ và nơi họ, Mẹ đã diễn tả sự sẵn sàng và sự phó thác trọn vẹn cho Chúa Cha[12].
Đức Maria và thánh Giuse đã không chối bỏ tình yêu, các ngài sống trong chiều kích thánh thể[13]. Vì “Đức Mẹ và thánh Giuse đã thực sự và chính thức thành hôn với nhau nhưng đây là một cuộc hôn nhân hoàn toàn trinh khiết, xa hẳn mọi dự tính hay uớc muốn về nhục thể và sinh lý”[14].
CHƯƠNG II: ĐỘC THÂN LINH MỤC DƯỚI GÓC NHÌN TÂM LÝ HỌC
1. ĐỘC THÂN LÀ SỰ LỰA CHỌN TỰ DO CỦA MỖI ỨNG VIÊN
Không giống như sự độc thân của người thế tục, sự độc thân của người linh mục được quyết định từ một sự lựa chọn tự do bởi một người trưởng thành về tâm lý và như vậy không tạo ra một nghĩa miễn cưỡng nào. Theo một số người, việc từ bỏ các hoạt động tính dục là một cách sống “ngược lại với tự nhiên”. Sự dễ bị kích thích các ham muốn tính dục khiến cho nhiều người kiếm tìm dục vọng và các cách thức để giảm sự căng thẳng. Do đó, hoạt động tính dục luôn là hệ quả của một quyết định cá nhân. Sự lựa chọn ơn thiên triệu được thúc đẩy bởi sự tự nhận thức rằng cuộc đời mình có một ý nghĩa mà thường thiếu vắng trong đời người thế tục[15].
“Ân sủng này đòi hỏi một sự đáp trả có ý thức và tự do từ phía người lãnh nhận, với một sức mạnh phi thường. Đặc sủng ấy của Chúa Thánh Thần cũng chuyển ban ơn trung thành cho đến trọn đời, ơn chu toàn một cách quảng đại và vui tươi những bó buộc gắn liền” (PDV, số 50)[16].
Khi chọn sống độc thân, các ứng viên tự nguyện khước từ nét đẹp của vợ và các con, một trong những thứ quý giá nhất của cuộc đời. Nên sự lựa chọn độc thân của các ứng viên có nghĩa là khi tự nguyện khước từ một người bạn đời, họ tự nguyện từ bỏ mọi sinh hoạt và khoái lạc tính dục khác giới hay đồng giới, một mình hay với người khác, lời nói và việc làm[17].
Độc thân và chức linh mục là hai ơn gọi tuy liên hệ nhau, nhưng tách biệt nhau, những ai cảm thấy được Chúa mời gọi tới chức linh mục cũng phải khám phá ra ơn gọi sống độc thân. Sự lựa chọn của ứng viên sống độc thân trọn đời phải tự do, thành thật và cá nhân[18]. Nếu các ứng cử viên linh mục không được thúc đẩy sâu sắc trong việc từ bỏ hôn nhân thế tục, ứng viên ấy sẽ không bao giờ đánh giá cao giá trị của đời sống thanh sạch và sẽ không hoàn toàn nhấn chìm mình trong tình yêu Thiên Chúa[19].“Đàng khác họ cũng phải thấu hiểu nét ưu việt của Đức trinh khiết dâng hiến cho Chúa Kitô, để vì thế tận hiến trọn hồn xác cho Chúa bằng một tình yêu đã được cân nhắc chín chắc và đại lượng” (OT, số 10)[20].
2. SỰ TRƯỞNG THÀNH VỀ TÂM LÝ
a. Người phụ trách huấn luyện ở chủng viện
Tầm quan trọng của trưởng thành tâm lý nơi người huấn luyện
Việc huấn luyện cho các sứ vụ và cho đời sống độc thân là một tiến trình không có điểm kết thúc, nghĩa là nó bắt đầu trong bầu khí yêu thương của gia đình Kitô hữu, nó tiếp tục với quá trình huấn luyện chính thức trong chủng viện và mở rộng xuyên qua đời sống và sứ vụ linh mục. Vì vậy, để có thể chu toàn một cách hiệu quả công việc, những người được ủy trao trách nhiệm huấn luyện phải sở đắc được một số phẩm chất nhất định về tu đức và tâm lý[21].
Công việc đào tạo linh mục tương lai là một trong những sứ vụ quan trọng và thiêng liêng nhất của Giáo Hội hôm nay, đòi hỏi những phẩm chất cần thiết không thể thiếu nơi những người đảm nhận trọng trách này. Vì “Những phẩm chất này thật cần thiết để họ trở thành những con người quân bình và có thể đảm nhận những trách nhiệm mục vụ nặng nề. Họ cần được giáo dục để biết yêu mến sự thật để biết trung thành, biết kính trọng mọi người,để có ý thức công bằng, để trung thực trong lời nói, để chân thành cảm thông, để trở thành con người nhất quán, và đặc biệt là để có sự quân bình trong phán đoán và trong thái độ ứng xử”(PDV, số 33)[22].
Những phẩm chất cơ bản nơi người huấn luyện
Những người phụ trách huấn luyện phải là những linh mục có kinh nghiệm và có một đời sống tu đức sắc xảo, và là những người có mẫu gương về sự trưởng thành tâm lý và cuộc sống độc thân lành mạnh[23].
Là một linh mục nhiệt thành phục vụ, ngài phải tỏ ra nhiệt thành trong sứ vụ và nơi cung cách sống của ngài phải toát ra niềm vui phục vụ. Là người phải nắm hiểu những hạn chế nơi chính mình. Để biết phòng, không để cho những hạn chế ấy gây cản trở công việc, sứ vụ của mình. Đồng thời vị linh hướng phải là người có kỹ năng quan hệ và giao tiếp và ngài là người truyền đạt tốt[24].
“Linh mục phải có khả năng hiểu biết sâu xa lòng trí con người, trực giác được những khó khăn và những vấn đề tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và đối thoại đạt được lòng tin cậy và sự cộng tác phát biểu được những phán đoán lành mạnh và khách quan”(PDV, số 43)[25].
Những người phụ trách huấn luyện cũng phải có một nhãn quan minh bạch về đời sống độc thân. Người trẻ hôm nay rất nhạy bén hưởng ứng những mẫu gương sống động, nghĩa là họ muốn bắt chước những con người mà họ xem là mẫu mực.
Những người phụ trách huấn luyện cần phải thực tiễn trong việc chuẩn bị cho các ứng viên đương đầu với những khó khăn mà họ gặp phải trong đời sống độc thân của họ.[26] Đồng thời phải làm sáng tỏ rằng “Tại chủng viện nghĩa là trong giai đoạn đào tạo bậc sống độc thân phải được trình bày một cách minh bạch không chút nào hàm hồ nhưng theo hướng tích cực”(PDV, số 50)[27].
b. Những ứng viên linh mục tương lai
Sự trưởng thành ở đây có ý nói đến sự quân bình giữa các vấn đề tính dục và những khuynh chiều khác trong con người, một cung cách cởi mở trong tương quan với người khác. Làm chủ giác quan, khả năng hiến thân vì tình yêu Chúa, luôn biết hy sinh và có một tâm hồn dũng mãnh[28]. Trưởng thành tình cảm biểu lộ qua khả năng vận dụng các dữ kiện và cảm xúc đến từ cả con tim và khối óc, đồng thời khả năng hòa nhập chúng[29].
Sắc lệnh Pastores Dabo Vobis nói rằng “Sự trưởng thành về mặt tình cảm là những gì tuyệt đối cần thiết cho người được mời gọi sống bậc độc thân” và nhấn mạnh rằng “Cần đạt được sự trưởng thành về phái tính và tính dục, vì trưởng thành tình cảm đặt nền tảng trên trưởng thành phái tính, tình cảm được thể hiện và phát triển trong một người cụ thể”(PDV, số 44)[30].
Việc tiết dục hoàn toàn vì có ảnh hưởng đến những khuynh chiều sâu xa của bản tính con người nên chỉ dành cho những người có ơn gọi mà thôi, và cần tuyển chọn các chí nguyện sinh rất kỹ lưỡng. Họ phải có một ý chí kiên quyết đã qua thử luyện về khả năng sống khiết tịnh. Vì
“Sự tiết dục trọn vẹn đụng chạm đến những khuynh hướng thâm sâu của bản tính con người, nên những người muốn khấn giữ khiết tịnh chỉ nên quyết định và chỉ được chấp thuận sau một thử thách đầy đủ và đã thấy có sự trưởng thành về tâm lý, tình cảm cần thiết”(PC, số 12)[31].
Họ phải biết sử dụng sự tự do của tâm lý bên trong cũng như bên ngoài, đạt được mức độ trưởng thành tình cảm cần thiết để có thể chứng minh và sống đời độc thân như một sự triển nở của nhân cách. “Họ cũng phải thấu hiểu nét ưu việt của Đức trinh khiết dâng hiến cho Chúa Kitô, để tận hiến trong hồn xác cho Chúa bằng một quyết định đã được chính chắc và đại lượng”(OT, số 10)[32].
Và chủng sinh cần phải có một trình độ trưởng thành tâm lý và phái tính đầy đủ cũng như một đời sống chuyên chăm cầu nguyện và đặt mình dưới sự hướng dẫn của một cha thiêng liêng (PDV, số 50)[33].
CHƯƠNG III: ĐỘC THÂN LINH MỤC DƯỚI GÓC NHÌN CỦA HỘI THÁNH VÀ THẦN HỌC
1. KHIẾT TỊNH THEO HUẤN QUYỀN CỦA HỘI THÁNH
a. Xác tín vững chắc của Giáo Hội
Việc sống độc thân bắt nguồn từ một lời của Chúa Kitô, Ngài nói rằng có những kẻ từ bỏ hôn nhân nhân danh Nước Trời và bằng tất cả cuộc sống của mình, họ làm chứng cho Nước Trời[34]. Chúa Giêsu đã sống độc thân làm gương cho tất cả những người muốn hiến thân cho Chúa, vì lý do đó, từ thời các tông đồ, Giáo Hội đã muốn bảo tồn ơn tiết dục vĩnh viễn của giáo sĩ, và hướng về giải pháp chọn các ứng viên chức thánh nơi những người độc thân[35]. Vì thế, Giáo Hội luôn coi sự tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nuớc Trời mà Chúa Giêsu đã khẩn thiết kêu mời như là điều kiện rất thuận lợi cho chức linh mục [36].
Sự độc thân linh mục là một ơn huệ mà Giáo Hội đã lãnh nhận và luôn chăm lo giữ gìn, xác tín rằng đó là một thiện ích cho mình và cho thế giới[37]. Xác tín vào những động cơ thần học và mục vụ sâu xa là cơ sở cho mối tương quan giữa độc thân và chức linh mục, được gợi sáng bằng chứng tá còn giá trị ngày hôm nay của rất nhiều cuộc đời linh mục vững mạnh về mặt thiêng liêng và Phúc Âm, mặc dầu xãy ra nhiều trường hợp đau thương. Giáo Hội đã tái xác nhận qua Cộng Đồng VATICANÔ II và qua huấn giáo của Giáo Hoàng về sau “ý muốn mãnh liệt duy trì luật đòi buộc tình trạng độc thân vĩnh viễn do tự do lựa chọn các ứng viên được thụ phong linh mục theo nghi lễ La-tinh”(PDV, số 29)[38].
Đức Gioan Phaolô II đã nói qua tông huấn Pastores Dabo Vobis rằng “Quyết định chỉ phong chức linh mục cho những người quả quyết mình được Thiên Chúa mời gọi sống ơn trinh khiết trong bậc sống độc thân tuyệt đối và vĩnh viễn”[39]. Và xác tín rằng “Thượng hội đồng không muốn để vương vấn nơi tâm trí bất cứ ai một chút hoài nghi nào liên quan tới ý định kiên quyết của Giáo Hội là duy trì luật buộc sống độc thân vĩnh viễn đối với linh mục”(PDV, số 29)[40]. Vì “cộng đồng tin tưởng vào Chúa Thánh Thần là ơn độc thân, ơn rất thích hợp với chức linh mục tân ước sẽ được Chúa Cha rộng tay ban phát, miễn là những người tham dự chức linh mục của Chúa Kitô qua bí tích truyền chức thánh cũng như toàn thể Giáo Hội phải khiêm tốn và khẩn khoản nài xin”(PO, số 16)[41].
b. Khiết tịnh theo huấn quyền
Sự độc thân linh mục không phải là điều thiết yếu cho chức linh mục, mà chỉ là một kỷ luật của Giáo Hội được các linh mục quý chuộng ngay từ đầu, một kỷ luật được duy trì ở thế kỷ thứ IV[42].Cũng kể từ thế kỷ thứ IV, trong Giáo Hội la tinh đã bắt đầu có những quy luật tiết dục buộc các linh mục phải thi hành. Ban đầu chỉ là việc tiết dục trước khi cử hành thánh thể và về sau, áp dụng cho cả đời. Từ thế kỷ thứ VII người ta chỉ truyền chức cho các linh mục độc thân, năm 1917 bộ Giáo luật coi kết hôn là một ngăn trở không cho phép lãnh nhận các chức Thánh, ít là trong Giáo Hội công giáo Rôma[43].
Điều 599 của Giáo luật mới đã dạy về lời khấn khiết tịnh đời tu như sau: “Lời khuyên Phúc Âm vì Đức khiết tịnh được đãm nhận vì Nước Trời, là dấu chỉ của thế giới sẽ đến, là nguồn sinh lực phong phú hơn trong một con tim không chia sẻ, và bao hàm nghĩa vụ tiết dục hoàn toàn trong bậc độc thân”. Sắc lệnh Perfectae Caritatis có nói rằng “khiết tịnh phải được quý trọng như một ân huệ cao cả của ơn Thánh và khiết tịnh là dấu chỉ của kho tàng trên trời, là phương thức thích hợp nhất để các tu sĩ hân hoan hiến mình hoạt động tông đồ”(PC, số 12)[44].
Bộ giáo luật cũng chỉ ra những hình phạt đích đáng nếu các tu sĩ vi phạm đến Đức khiết tịnh của đời sống thánh hiến. Điều 1394 thì nói rằng “một giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự, thì bị vạ huyền chức tiền kết, và nếu không hối cải thì chịu những hình phạt tước đoạt ngày càng nặng, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ”[45].
Điều 1395 còn cho rằng nếu giáo sĩ nào tư hôn và nghịch với điều răn thứ sáu với gương xấu, thì bị xử phạt và huyền chức, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ[46]. Tuy nhiên, các ứng viên linh mục hành động ngu ngốc nếu chấp nhận sống độc thân chỉ là luật buộc. Nói cách khác, các ứng viên phải chắc chắn rằng cá nhân họ được mời gọi sống độc thân[47].
2. ĐỨC TIN VÀ ĐỨC KHIẾT TỊNH
Chúa Giêsu nhấn mạnh giáo huấn của Người về độc thân, trong đó, sự kiện một số người không thể hiểu được giá trị của một bậc sống độc thân như thế. Bắt đầu Ngài nói: «Không phải mọi người đều hiểu được lời này, nhưng chỉ những ai điều đấy đã được ban cho» (Mt 19, 11), rồi sau khi cắt nghĩa tư tưởng của Người, người lại tuyên bố: «Ai hiểu nỗi thì hãy lo hiểu lấy» (Mt 19, 12).
Như vậy không thể trông mọi người đều hiểu được bậc sống độc thân tự nguyện vì Nước Trời. Vì đây là việc của Nước Trời, việc siêu nhiên, việc chỉ có ai có Đức tin mới nhận ra những đòi hỏi của nước ấy. Nhưng đàng khác, đây cũng là một Đức tin đặc biệt không phải ai cũng được ban cho.
Nếu sự hiểu biết về bậc sống này đòi hỏi phải có ơn riêng của Chúa, thì sự thực hành đời sống ấy còn cần Chúa hơn nữa. Để giữ vững cuộc sống của mình vì Nước Trời; những người đã khấn Đức khiết tịnh với Chúa phải tăng triển nơi mình cái nhìn của Đức tin[48]. Độc thân vì Nước Trời là một cam kết thuộc Đức tin và chỉ có Đức tin mới có thể chứng xác điều đó được nó. Nhìn từ bên trong Đức tin, nó chỉ có thể là một lời đáp tiếng gọi riêng biệt của Thiên Chúa[49]. Ứng viên linh mục phải thừa nhận Đức tin là nguồn lực sống cho đời mình và họ phải biết mình chỉ có thể sống như vậy trong Đức tin mà thôi[50].
Cuộc sống độc thân linh mục là dấu chỉ của tình yêu hôn nhân cao vời giữa Giáo Hội là hiền thê và Chúa Giêsu Kitô làm hôn phu. Nó là dấu chứng và đồng thời mà niềm khích lệ đức bác ái mục vụ và là nguồn mạch đặc biệt làm phát sinh đời sống thiêng liêng phong phú trên thế giới.
Nhưng bậc độc thân có nhiều thuận tiện cho chức linh mục, nhờ đức trinh khiết hay là bậc độc thân vì Nước Trời. Các linh mục được thánh hiến cho Chúa Kitô với một lý do mới mẻ và tuyệt hảo được kết hợp cách dễ dàng hơn với Người bằng một trái tim không chia sẻ, vì «người độc thân thì lo việc Chúa, sao cho hài long Chúa» (1Cr 7, 32). Đức khiết tịnh vì Nước Trời mà các tu sĩ khấn giữ phải được quý trọng như một ân huệ cao cả của ơn Thánh. Thật vậy, ơn ấy giải thoát lòng con người cách đặc biệt để nồng nàn mến Chúa và yêu mọi người hơn, vì thế Đức khiết tịnh là dấu chỉ đặc biệt của kho tàng trên trời và cũng là phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến mình phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ (PC, số 12)[51].
Đức khiết tịnh giúp các ứng viên muốn làm linh mục cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa một cách gần gũi hơn, phấn khích họ chuyên tâm đến những công việc của Chúa, và thực hiện những ý định của Người. Vì vậy, người khiết tịnh ra đi gặp gỡ tha nhân trong tư cách phục vụ, kiến lập tình thân như trong một gia đình với mọi người đặc biệt là những người khốn khổ nhất[52].
Độc thân linh mục đã trở nên dấu chỉ sống động về thế giới mai sau mà ngày nay đã hiện diện qua Đức tin, Đức cậy và Đức mến trong đó «những ai đã được xét là đáng hưởng đời sau, cùng sự sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng» (Lc 20, 35).
Các ứng viên linh mục sẽ còn mãi trong tình trạng ấu trĩ nếu sống độc thân như “một sắc thuế phải trả cho Chúa” để được tiến tới chức thánh chứ không phải như một ân huệ Chúa ban vì lòng nhân từ và mình tự do chọn lựa và vui vẻ chấp nhận một ơn gọi đặc biệt để mến Chúa và yêu người[53].
CHƯƠNG IV: CÁC VẤN ĐỀ XUNG QUANH ĐỘC THÂN LINH MỤC
1. TUYỂN CHỌN VÀ ĐÀO TẠO ỨNG VIÊN LINH MỤC
Phải tùy theo lứa tuổi và trình độ mỗi ứng sinh mà điều tra cẩn thận về tính ngay lành và ý chí tự do, về khả năng đạo đức, luân lý học vấn, sức khỏe thể lý, tâm lý xứng hợp. Cũng phải cân nhắc khả năng đảm đương các chức vụ linh mục và thi hành những phận sự mục vụ của họ sau này (OT, số 8)[54].
Phải cho các ứng viên biết rằng những hiểm nguy đang đe dọa đức khiết tịnh của họ nhất là trong xã hội hiện thời, họ phải biết dung nạp sự từ khước đời sống hôn nhân, sao cho cuộc đời và công việc của họ không những không bị thiệt thòi do bậc độc thân gây ra, và phát triển được sự trưởng thành trọn vẹn hơn và đạt được hạnh phúc Phúc Âm hoàn hảo (OT, số 10)[55]. Các ứng viên linh mục phải hiểu đúng về những bổn phận và phẩm giá của hôn nhân Công Giáo và họ cũng phải hiểu nét ưu việt của Đức trinh khiết hiến dâng cho Chúa Kitô (OT, số 10)[56].
Đào tạo để cho các ứng viên hiểu rằng “bậc sống ấy đang hân hoan đón nhận không phải chỉ như một mệnh lệnh do Giáo luật, nhưng là một ân huệ quý báu của Thiên Chúa”(OT, số 10)[57] và làm cho các linh mục tương lai hiểu biết, quý chuộng, yêu mến và sống bậc độc thân theo đúng bản chất và những cùng đích của bậc sống ấy nghĩa là với những động lực tin mừng, thiêng liêng và mục vụ, “và có khả năng hy sinh theo gương Đức Kitô đối với mọi người và đối với từng người”(PDV, số 50)[58].
Giáo dục cho con người có được tình yêu hữu trách và làm cho con người trưởng thành về mặc cảm tính là những gì tuyệt đối cần thiết cho người nào được mời gọi với ân sủng của Chúa Thánh Thần và nhờ sự đáp trả tự do bằng ý muốn của riêng mình cho Đức Giêsu Kitô và cho Giáo Hội (PDV, số 49)[59].
2. NHỮNG VẤN NẠN
Tìm hiểu giá trị của độc thân là một chuyện, sống độc thân lại là một chuyện khác[60]. Nên có những linh mục có những phẩm chất nhân bản và tôn giáo tuyệt vời song lại gặp rắc rối về vấn đề tính dục, như chuyện thủ dâm- một khó khăn lớn mà họ không thể vượt qua[61]. Gần đây chúng ta phải rất đau lòng mà nhận thấy rằng có những linh mục đã làm biến thái sứ vụ của mình vì lạm dụng tính dục trẻ em và người trẻ[62]. Vì“một thời đại càng nghèo về Đức tin, thì sa ngã càng thường xảy đến”[63]. Đó là sự thiếu cương quyết do thiếu trưởng thành về tâm lý, hay chính cả việc không chấp nhận đủ lý tưởng sống độc thân[64]..
Trong môi trường sống cộng đoàn là những người cùng giới tính với nhau, có thể xãy ra những chuyện tình cảm lệch lạc đã được Hội đồng Giám Mục Việt Nam cảnh báo rằng “Trong đời sống dâng hiến độc thân trọn vẹn, trong đời sống cộng đoàn toàn người cùng phái, có thể xảy ra tình trạng bù trừ tình cảm qua những “tình bạn lệch lạc””[65].
Thế giới chúng ta là một thế giới hỗn hợp nam và nữ và đại đa số các nam nữ tu sĩ, nhất là các linh mục thường xuyên có những giao tiếp người khác phái, bởi thế người ta không thấy bỡ ngỡ nếu thấy các tu sĩ này bị phải lòng một hay nhiều lần trong đời tu của họ[66]. Do đó, trong tương quan giữa linh mục với phụ nữ, nữ tu hay nữ giáo dân, lắm khi cũng là vấn đề và sa lầy không lối thoát cho một số linh mục, vì một người đàn bà, một số linh mục đã từ bỏ thừa tác vụ, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, vật chất, hưởng thụ và nhục dục[67].
Ai trong chúng ta lại không đau lòng trước thảm cảnh các linh mục không giữ đức khiết tịnh, hủy hoại cuộc đời và sứ vụ của mình, làm tổn thương người vô tội và làm sỉ nhục Giáo Hội[68]. Tất cả các Kitô hữu chúng ta từng biết những câu chuyện đại loại như một linh mục tốt lành đáng kính nào đó bỗng dưng làm mọi người phải ngạc nhiên khi ông xin được giải chức – tức hồi tục, đó là một sự thật gây đau lòng trong Giáo Hội hiện nay[69].
Nền văn hóa hiện đại nhận thức được các vấn đề gắn liền với tình trạng đông dân số, có khuynh hướng ủng hộ mô hình gia đình có một hoặc hai con… Trong xã hội với những gia đình nhỏ như vậy thì hẳn nhiên việc tuyển người vào chức linh mục sẽ gay go hơn rất nhiều so với quá khứ[70].
3. CÁC PHƯƠNG THỨC CŨNG CỐ ĐỘC THÂN LINH MỤC
Hãy hiệp cùng Giáo Hội mà cầu nguyện để xin ơn trung thành “vì Chúa không bao giờ từ chối những người kêu xin”(PO, số 10)[71]. Một loại cầu nguyện nữa hữu hiệu tăng cường lời hứa độc thân là bí tích sám hối[72].
Một lối sống quân bình có kỷ luật; phân chia thời gian biểu về làm việc, nghỉ ngơi, chơi đùa, giao tiếp bạn bè, ra kỷ luật về ăn uống, tiêu sài, mua sắm, giải trí.
Có bạn bè tốt là linh mục; là người mà mình tin tưởng, chia vui sẻ buồn, có thể nói thẳng với mình khi mình tự lừa dối mình về lý tưởng và lời hứa linh mục.
Có bạn bè tốt là người có gia đình để nhắc nhở rằng các linh mục được mời gọi yêu thương Giáo Hội như đôi vợ chồng này yêu thương nhau và yêu thương giáo dân cũng với tấm lòng hy sinh như đôi vợ chồng này chăm sóc con cái[73].
Các linh mục hãy biết phó thác trái tim mình cho Mẹ Maria, nữ vương các kẻ đồng trinh. Phải sống hãm mình, nhờ đó mà biết tự kiềm chế vượt qua khó khăn[74]. Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis nhấn mạnh rằng “hãy tuân giữ những luật lệ khổ hạnh đã được kinh nghiệm Giáo Hội chuẩn nhận và không kém phần cần thiết trong thế giới ngày nay”(PO, số 16)[75].
Một giáo lý căn bản rõ ràng và chắc chắn về các vấn đề liên quan tới khiết tịnh cũng sẽ giúp cho việc giữ gìn dễ dàng hơn. Nhiệm vụ của tu sĩ là phải hiểu biết đầy đủ những nguy hiểm đe dọa đức khiết tịnh, hoặc từ tự nhiên, từ cảnh vực, thậm chí từ tác vụ tông đồ.
Sống tiết độ trong việc ăn uống, cũng như việc dùng rượu và thuốc lá; thận trọng việc đọc sách báo, phim ảnh, các phương tiện nghe nhìn cùng các hình thức tổ chức gia đình, bộ tộc[76].
Trong việc giao tiếp với phụ nữ, một thái độ tế nhị là điều cần thiết và tư cách linh mục đòi hỏi, điều đó cũng đúng trong quan hệ với các nữ tu, là những người thân cận với các linh mục lại có nhiều tương đồng về đời tu và lý tưởng tông đồ[77].
“Khả năng sống thận trọng, từ khước tất cả những gì làm phương hại đến sự trưởng thành tình cảm, biết cảnh tỉnh về thể xác cũng như tinh thần, có được thái độ quý chuộng thân xác trong những tương quan liên vị giữa nam và nữ”(PDV, số 44)[78]. Bởi vậy khi cảm thấy có tình ý với ai, dù hết sức nhẹ nhàng lập tức ta phải cẩn thận để phòng, liệu cách dứt bỏ. đừng gây thêm cơ hội để họ thương mến ta nhiều hơn nữa[79]. Và phải từ bỏ mọi thứ tình cảm quá tự nhiên với bất cứ ai[80].
Tùy theo tập tục và văn hóa địa phương các linh mục cần tránh tất cả những gì có thể gây nghi ngờ, làm xôn xao trong giáo dân và làm giảm uy tín của linh mục. Linh mục phải sống tinh thần phúc âm trong quan hệ với người thân và phải giúp đỡ họ nhưng đừng để mất sự tự do cần thiết cho chức vụ của mình[81].
Chương trình đào tạo trong chủng viện cần phải được tiếp tục nơi vị tân linh mục trong một thời gian vài năm đầu tiên của sứ vụ. Sự tiếp tục đào tạo này có thể bao gồm những khóa tập huấn định kỳ, những ngày cầu nguyện và sự thăm viếng cá nhân từng linh mục[82].
Lời Kết
Các ứng viên phải hiểu đầy đủ và phát triển cách thích hợp động lực, tình cảm hướng tới chức linh mục, tình yêu trưởng thành và nồng nhiệt cho Đức Giêsu Kitô. Hy vọng sống động vì Nước Trời và lòng nhiệt thành hăng hái giúp tha nhân vào Nước Trời. Các ứng viên phải sống tiết dục hoàn toàn và sống đức thanh khiết cách bình an, không bị dục vọng thiêu đốt, nhờ đó các ứng viên sẽ được chắc chắn về mặt luân lý trước con đường sống độc thân của chính mình. Với một đời sống thiêng liêng trưởng thành, các ứng viên sẽ thấy chức linh mục như một quà tặng thiêng liêng của Thiên Chúa vì phần rỗi của loài người và của thế giới hơn là một gánh nặng[83].
Trong đời độc thân của mình, sẽ có lúc linh mục cảm nhận sự cô đơn và lắm khi cô đơn đè nặng lên con người các ngài, sự nghi ngờ, đố kỵ, ghen ghét, hay thiếu thông cảm từ phía anh em linh mục của mình có thể còn gia tăng thêm thất vọng cô đơn.Trong trường hợp này mối tương quan mật thiết với Chúa Giêsu sẽ là phương dược chữa lành tuyệt vời và vạn năng cho các ngài. «Và này ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho tới tận thế» (Mt 28, 20), quả thật Chúa Giêsu đi trước chúng ta, Ngài đến cùng Chúa Cha và Ngài mời gọi chúng ta đi theo Ngài. Sự cô đơn của linh mục không phải là sự trống rỗng và cũng không cô độc vì Đấng cứu thế luôn ở với các linh mục[84].
Dù trong hoàn cảnh nào chăng nữa, có thể sẽ xãy ra những va chạm, những nỗi buồn, sự cám dỗ, những lúc ấy đừng có lo sợ về lý tưởng của mình. Hãy vững tin vào Chúa vì Người đã nói «hãy tin vào Thiên Chúa, mà cũng hãy tin vào ta» (Ga 14, 1), tin vào những gì Người đã dạy và hãy giữ vững niềm tin nơi Người mà hiệp cùng Giáo Hội tha thiết xin ơn trung thành để giữ vững lý tưởng tông đồ và thông phần giúp tha nhân tiến vào sự sống đời sau.
[1] NGUYỄN HỒNG GIÁO, Chúa gọi tôi đi theo Người, nxb. Phương Đông, Tp.HCM 2009, tr. 92.
[2] BARRAL BARRON, ANDRÉ, Độc thân một con đường sống, nxb.Tôn Giáo, Hà Nội 2009, tr. 3.
[3] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 50, 1992, tr. 125.
[4] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, biên dịch: Trần Đình Quảng, nxb. Tôn Giáo 2009, tr. 417.
[5] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân – khiết tịnh vì Nước Trời”, trong Thời sự thần học 33 (2003), biên dịch: Đình Chiến, Chủ biên: Nhóm Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm, tr. 75.
[6] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân – khiết tịnh vì Nước Trời”, trong TSTH 33, tr. 96.
[7] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân – khiết tịnh vì Nước Trời”, trong TSTH 33, tr. 78.
[8] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân – khiết tịnh vì Nước Trời”, trong TSTH 33, tr. 76.
[9] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, Số 29, Rôma 25.03.1992, tr. 70.
[10] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân–khiết tịnh vì Nước Trời”, trong TSTH 33, tr. 90.
[11] VATICANÔ II, “Hiến chế tín lý về Giáo Hội”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 45-46, biên dịch: Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt, Sài Gòn 1972, tr. 226-228.
[12] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân–khiết tịnh vì Nước Trời”, trong TSTH 33, tr. 82.
[13] CRISTO REY GARCÍA PAREDES, JOSÉ, “Sự độc thân–khiết tịnh vì Nước Trời”, trong TSTH 33, tr. 83.
[14] PHẠM ĐÌNH KHIÊM, Thánh Giuse trong dân Chúa, nxb.Tôn Giáo, Tp.HCM 2003, tr. 59.
[15] POLAWSKA, WANDA, “Sự độc thân của linh mục trong ánh sáng của y khoa và tâm lý học”, trong Những thách đố của Giáo Hội Công Giáo 10, biên dịch: Đặng Minh An, tr. 21.
[16] GIOAN PHAOLÔ II , Pastores Dabo Vobis, số 50, tr. 126.
[17] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, biên dịch: Trần Đình Quảng, nxb. Tôn Giáo, Hà Nội 2009, tr. 419.
[18] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, tr. 419.
[19] POLAWSKA, WANDA, “Sự độc thân của linh mục trong ánh sáng của y khoa và tâm lý học”, trong Những thách đố của Giáo Hội Công Giáo 10, tr. 21.
[20] VATICANÔ II, “Đào Tạo Linh Mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 10, biên dịch: Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt, Sài Gòn 1972, tr. 420.
[21] TUCKER, JAMES S., “Để sống đời độc thân khiết tịnh”, trong Bản Tin Hiệp Thông 8 (2000), biên dịch: Nguyễn Bình Tĩnh, tr. 239.
[22] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 43, tr. 108.
[23] TUCKER, JAMES S., “Để sống đời độc thân khiết tịnh”, trong Bản Tin Hiệp Thông 8 (2000), tr. 240.
[24] TUCKER, JAMES S., “Để sống đời độc thân khiết tịnh”, trong Bản Tin Hiệp Thông 8 (2000), tr. 241.
[25] GIOAN PHAOLÔ II , Pastores Dabo Vobis, số 43, tr. 108.
[26] TUCKER, JAMES S., “Để sống đời độc thân khiết tịnh”, trong Bản Tin Hiệp Thông 8 (2000), tr. 242
[27] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 50, tr. 127.
[28] GAM BARI, ELIO, Đời tu dưới ánh sáng Công đồng và Giáo luật, biên dịch: Ngọc Đính, Năm thánh 2000, tr. 351.
[29] TRẦN MINH HUY, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh ngày nay, Đại chủng viện Huế 2006, tr. 196.
[30] GIOAN PHAOLÔ II , Pastores Dabo Vobis, số 44, tr. 111.
[31] VATICANÔ II, “Canh tân thích nghi đời sống dòng tu”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 12, biên dịch: Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt, Sài Gòn 1972, tr. 385.
[32] VATICANÔ II, “Đào tạo linh mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 10, tr. 385.
[33] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 50, tr. 127.
[34] RATZINGER, JOSEPH, Muối cho đời, nxb. Phương Đông, biên dịch: Phạm Hồng Lam, Tp.HCM 2008, tr. 191.
[35] THÁNH BỘ GIÁO SĨ, Kim chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống linh mục, số 57, 1994, tr. 60
[36] THÁNH BỘ TRUYỀN GIÁO, Chỉ nam linh mục, số 29, Roma ngày 1.10.1989.
[37] THÁNH BỘ GIÁO SĨ, Kim chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống linh mục, số 57, tr. 60.
[38] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 29, tr. 69.
[39] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 29, tr. 69.
[40] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 29, tr. 69.
[41] VATICANÔ II, “Chức vụ và đời sống linh mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 16, tr.710.
[42] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, tr. 415.
[43] BARRAL BARRON, ANDRÉ, Độc thân một con đường sống, tr. 65.
[44] VATICANÔ II, “Canh tân thích nghi đời sống dòng tu”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 12, tr. 385.
[45] Bộ giáo luật 1983, số 1394, tr. 425.
[46] Bộ giáo luật 1983, số 1395, tr. 426.
[47] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, tr. 419.
[48] GALOT, JEAN, Tin và tận hiến, tr. 56.
[49] BRAULT, ALEXIS, Đời tu một trong những con đường dẫn tới hạnh phúc, cert paris 1987, tr. 142.
[50] RATZINGER, JOSEPH, Muối cho đời, tr. 194.
[51] VATICANÔ II, “Canh tân thích nghi đời sống dòng tu”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số12, tr. 385.
[52] GAM BARI, ELIO, Đời tu dưới ánh sáng Công đồng và Giáo luật, tr. 349.
[53] THÁNH BỘ GIÁO SĨ, Kim chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống linh mục, số 59, tr. 63.
[54] VATICANÔ II, “Đào Tạo Linh Mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 8, tr. 417.
[55] VATICANÔ II, “Đào Tạo Linh Mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 10, tr. 420.
[56] VATICANÔ II, “Đào Tạo Linh Mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 10, tr. 420.
[57] VATICANÔ II, “Đào Tạo Linh Mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 10, tr. 419.
[58] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 50, tr. 126.
[59] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 49, tr. 124.
[60] GALOT, JEAN, Tin và tận hiến, tr. 143.
[61] HARING, BERNARD, Giáo Hội cần những loại linh mục nào ?, nxb.Tôn Giáo, Tp.HCM 2003, tr. 146.
[62] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thư Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi cho các chủng sinh, biên dịch: Trần Đức Anh.
[63] RATZINGER, JOSEPH, Muối cho đời, tr. 193
[64] POLAWSKA, WANDA, “Sự độc thân của linh mục trong ánh sáng của y khoa và tâm lý học, trong Những thách đố của Giáo Hội Công Giáo 10, tr. 25.
[65] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Đào tạo linh mục định hướng và chỉ dẫn, nxb.Tôn Giáo 2009.
[66] GALOT, JEAN, Tin và tận hiến, tr. 147.
[67] TRẦN MINH HUY, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh ngày nay, tr. 292.
[68] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, tr. 422.
[69] HARING, BERNARD, Giáo Hội cần những loại linh mục nào ?, tr. 149.
[70] HARING, BERNARD, Giáo Hội cần những loại linh mục nào ?, tr. 157.
[71] VATICANÔ II, “Chức vụ và đời sống linh mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II,số 10, tr. 709.
[72] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, tr. 419.
[73] DOLAN, TIMOTHY M., Linh mục cho ngàn năm thứ ba, tr. 430.
[74] THÁNH BỘ TRUYỀN GIÁO, Chỉ nam linh mục, số 29, tr. 86.
[75] VATICANÔ II, “Chức vụ và đời sống linh mục”, trong Thánh Công Đồng Chung Vat II, số 16, tr.709.
[76] THÁNH BỘ TRUYỀN GIÁO, Chỉ nam linh mục, số 29, tr. 87.
[77] THÁNH BỘ TRUYỀN GIÁO, Chỉ nam linh mục, số 29, tr. 87.
[78] GIOAN PHAOLÔ II, Pastores Dabo Vobis, số 44, tr. 111.
[79] CHEVRIER, A., Người môn đệ đích thực, Ủy ban đoàn kết Công giáo Tp.HCM 1994, tr. 64.
[80] CHEVRIER, A., Người môn đệ đích thực, tr. 64.
[81] THÁNH BỘ TRUYỀN GIÁO, Chỉ nam linh mục, số 29, tr. 86.
[82] TUCKER, JAMES S.,“Để sống đời độc thân khiết tịnh”, trong Bản Tin Hiệp Thông 8 (2000), tr. 255
[83] TRẦN MINH HUY, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh ngày nay, tr. 367.
[84] TRẦN MINH HUY, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh ngày nay, tr. 303.




