Phụng Vụ Chư Thánh – Theo lịch Phụng Vụ Rôma
Tác giả: ENZO LODI
Nhóm dịch: Linh Mục hạt Xóm Chiếu
THÁNG CHÍN
Ngày 3.9
Thánh GRÉGOIRE CẢ
Giáo hoàng , tiến sỹ Hội thánh (khoảng 540 – 604)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ thánh Grégoire cử hành vào ngày Người được chọn làm giám mục ngày 3 tháng 9 năm 590 tại đền thánh Phê-rô ở Roma sau khi được bầu làm giáo hoàng.
Grégoire là chắt của Đức giáo hoàng Félix (+ 492), sinh tại Roma vào khoảng năm 540, thuộc gia đình dòng nghị sỹ Anicii. Thân phụ Ngài, ông Gordien, là nghị viên, thân mẫu là thánh nữ Sylvie, các bà cô là thánh nữ Tharsilla và thánh nữ Emiliana (Tarsille và Émilienne). Từ năm 573 đến 578, Ngài là thị trưởng thành phố Roma ; sau khi thân phụ qua đời, cảm thấy đời tu lôi cuốn, Ngài giã từ công việc, biến ngôi nhà gia đình ở Coelius thành tu viện, sống như tu sỹ, theo luật dòng thánh Biển Đức. Ngài cũng thành lập sáu tu viện khác trên các lãnh địa của mình ở Sicile. Năm 579, Đức giáo hoàng cho Ngài thụ phong phó tế rồi sau làm sứ thần tại Constantinople ; trong vòng sáu năm. tại đây, Ngài bắt đầu chú giải Sách Gióp theo đề nghị của các tu sỹ Ngài đem từ Roma và cùng sống với Ngài.
Trở về Roma năm 586, thánh Grégoire tiếp tục đời tu dòng. Nhưng năm 590, sau cái chết của Đức giáo hoàng Pélage II vì dịch hạch, Ngài được cả nghị viện, hàng giáo sỹ và dân chúng tôn làm giáo hoàng. lúc này thành phố còn bị tàn phá bởi dịch hạch, nạn đói đe dọa, lũ lụt sông Tibre hoành hành. Để lấy lại tinh thần dân chúng, Đức tân giáo hoàng tổ chức các cuộc kiệu, những buổi cầu nguyện trọng thể và đồng thời đảm trách việc tiếp tế lương thực cho thành phố. Chuyện kể rằng thời đó có một thiên thần hiện đến với đức Grégoire báo tin sắp hết dịch bệnh ở Roma.
Dù có ơn gọi sống đời chiêm tu, thánh Grégoire cũng là bậc thầy về linh đạo, là con người của hành động, nhà cai trị tài ba (người ta sẽ gọi Ngài là người La mã cuối cùng) và nhà chính trị sắc xảo. Được bầu làm giáo hoàng ngoài ý muốn, Ngài biến Giáo hội Roma thành lực lượng chính của phương Tây. Ngài tổ chức lại, khôi phục “di sản thánh Phêrô” trải dài đến tận Sicile và trong khi lo chống đối các dân man di, Ngài thương lượng ký kết một hoà ước với quân Lombardo đang đe dọa Roma. Về Hội Thánh, Ngài phục hồi trật tự, kỷ luật, chứng tỏ uy quyền ; tại châu Phi, Ngài can thiệp vào vụ giáo phái Donatus ; tại Tây Ban Nha, Ngài chống lại lạc giáo Arius; ở xứ Gaule, Ngài tái lập vị trí trưởng giáo khu cho Arles. Đức giáo hoàng Grégoire cũng can thiệp sang phương Đông chống lại hoàng đế Manrice không chấp thuận cho các quân nhân và cộng chức thụ phong linh mục, chống lại Đức Constantinople tự xưng là “oecuménique” gây xúc phạm đến tư cách cũng như quyền lợi của các thượng phụ khác.
Vị giáo hoàng không hề mỏi mệt này mặc dầu sức khỏe mỏng dòn, đã cai quản Hội Thánh trong mười bốn năm. Mặc dầu vào những năm cuối đời có yếu đi và không thể cử động, Ngài vẫn tiếp tục giáo huấn dân chúng bằng những bài giảng dọn cẩn thận và giao cho một giáo sỹ đọc. Ngài qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604, thọ sáu mươi ba tuổi. Vị giáo hoàng đã chọn tước hiệu Servus servorum Dei (Tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa) nầy, tước hiệu được các đấng kế vị gỉư lại. Ngài thật xứng đáng với tước hiệu “Vĩ đại” mà Đức Boniface VIII đặt cho. Xác Ngài được tôn kính tại Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican. Mộ chí gọi Ngài là Consul Dei (nghị viên của Chúa).
2. Thông điệp và tính thời sự
Hai lời nguyện thánh lễ lấy từ Sách các phép thánh Grégoire, vốn đã được chọn làm nền tảng cho sách lễ Roma ; sách Các phép này người ta nói là do thánh Grégoire, nhưng có lẽ có từ thời Đức Grégoire II (715 – 737).
a. Lời nguyện trong ngày cầu xin Chúa ban “Thần trí khôn ngoan của Chúa cho những ai có trách nhiệm dẫn dắt Giáo hội”. Trong bản Quy luật mục vụ, thánh Grégoire phác thảo các bổn phận của giám mục, cũng như trong bài giảng về Ezéchiel (Phụng vụ bài đọc trích dẫn), thánh nhân mô tả nhiệm vụ “người trinh sát”. “Người trinh sát luôn đứng trên cao để nhìn được những gì từ xa sắp xảy đến. Tất cả những người trinh sát đều phải đứng cao trên cuộc đời mình để có thể giúp đỡ, nhờ sự cảnh giác của mình … Qủa thế, tôi buộc lòng phải xem xét đến khi thì những công việc của Giáo hội, lúc của các tu viện, và thường phải xét đoán về đời sống cũng như hành vi các cá nhân, khi phải bận tâm lâu ngày dài tháng về một số vấn đề dân sự, lúc khác nữa phải đau đớn trước những đợt tấn công gây chết chóc của những dân man di và lo sợ những đàn sói đang đe dọa đàn chiên Chúa giao phó cho tôi. Có lần tôi buộc lòng sử dụng một số biện pháp để khỏi thiếu sự trị liệu… lần khác tôi phải kiên nhẫn cam chịu những vụ cướp bóc và lần khác nữa phải ra mặt chống đối lại chúng hầu gỉu được tình bác ái” (Bài giảng về Ezechiel 1, 11, 4 – 6).
b. Lời nguyện hiệp lễ nhấn mạnh giáo huấn của Chúa như là nguồn mạch chân lý tình yêu – Qủa thế, Đức giáo hoàng Grégoire, trong một bức thư, đã viết rằng người ta có thể “hiểu rõ tấm lòng Chúa qua trung gian các lời của Người”. Lúc khác, thánh nhân nói : “ Lời Chúa phát triển cùng với kẻ đọc nó”. Nhưng lời Chúa chỉ có thể hiểu trọn vẹn trong Giáo hội : “Kinh nghiệm cho thấy thông thường tôi được nhiều điều về lời Chúa khi cùng với anh em hơn, những điều tôi không sao hiểu nổi một mình ; chính anh em giúp tôi học được những gì lời dạy anh em. đây là sự thật, là : nhiều khi tôi chỉ nói lại những gì tôi đã nghe từ chính anh em” ( Bài giảng về Ezechiel 2, 2, 1).
Một khía cạnh khác trong công việc mục tử của Ngài, đó là lòng nhiệt thành truyền giáo. Chính Ngài đã sai bốn mươi tu sỹ Biển Đức sang quần đảo nước Anh, với sự hướng dẫn của tu sỹ Augustin sau sẽ là tổng giám mục Cantorbery đầu tiên. Việc này đã giúp Kitô giáo phát triển sang Anh quốc, đồng thời cũng là cơ hội cho bản kỹ luật dòng Biển đức rực chiếu trong nhiều nhà dòng sẽ được xây dựng hầu khắp châu Au.
Chăm lo cho đàn chiên mà Thánh Thần giao phó trách nhiệm (Đáp ca trong Phụng vụ bài đọc), thánh Grégoire vừa soi sáng vừa xây dựng Giáo hội – khi vạch nét căn bản cho thần học luân lý truyền thống trong một nền giáo lý thánh kinh, thánh Grégoire mãi mãi là gương mẫu cho Giáo hội mọi thời.
* * *
Tại Canada : Ngày 4.9
CHÂN PHƯỚC DINA BÉLANGER
Nữ tu (1879 – 1929)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Dina Bélanger sinh tại Québec ngày 30 tháng 4 năm 1829, người con duy nhất của bà Séraphia Matte và ông Olivier Béranger. Mười bốn tuổi, Dina vào nội trú trung học Notre Dame-de-Bellevue để hoàn tất việc học và hiến dâng sự khiết trinh “trọn vẹn và suốt đời” cho Chúa. Mười sáu tuổi, học xong, Dina trở về nhà cha mẹ. Hai năm sau, vào năm 1916, Dina đăng ký vào nhạc viện New York ; tại đây trong hai năm, cô học Piano và hoà âm, đạt nhiều thành tích sáng chói.
Ngày 11 tháng 8 năm 1921, Dina xin vào tập viện các nữ tu Chúa Giêsu – Đức Bà Maria tại Sillery, lúc nầy chị hai mươi bốn tuổi. ngày 15 tháng 2 năm sau, chị mặc áo dòng với tên gọi Marie Sainte- Cécile-de-Rome, và ngày 15 tháng 8 năm 1923, chị tuyên khấn. Tháng chín, chị được chỉ định làm giáo sư âm nhạc tại tu viện Chúa Giêsu – Đức Bà Maria ở Saint-Michel de-Bellechasse, nhưng chị chỉ sống đây có năm tuần lễ. Trong khi săn sóc một sinh viên, chị nhiễm bệnh sốt đỏ da, bắt đầu những năm tháng thử thách đau đớn đưa đến cái chết, bởi vì căn bệnh này sẽ biến chứng sang bệnh lao.
Từ nhỏ quen sống thân tình sâu xa với Chúa, chị Dina ngày càng tiến cao hơn trên đỉnh của đời thần bí. Theo yêu cầu cấp thiết của bề trên, từ tháng 3 năm 1924, chị kể lại các câu chuyện đời mình và các câu chuyện tinh thần. Được chấp thuận cho khấn trọn, ngày 15 tháng 8 năm 1928; đến tháng tư năm 1929 nữ tu Marie Sainte- Cécile phải nhập bệnh xá và qua đời ngày 4 tháng chín 1929 tại đây vì lao phổi, lúc tuổi mới ba mươi hai. Mấy ngày trước lúc chị qua đời, Chúa Giêsu đã nói với chị : “Cái chết của con kết hợp với cái chết của Cha là như một sự cứu chuộc thứ hai”.
Chị Dina Bélanger được Đức Gioan Phaolô II phong chân phước ngày 20 tháng chín 1993, cùng với nữ tu Claudine Thévenet, sáng lập viên hội dòng của chị, hội dòng các nữ tu Chúa Giêsu – Đức bà Maria.
2. Thông điệp và tính thời sự
Bản chất ngay thẳng, tính tình đa cảm, Dina đã tỏ ra kiên trì lạ thường trong việc tìm kiếm Chúa. Chị viết : “ Tôi dâng lên Chúa, hiến dâng lên Người trọn vẹn và suốt đời sự khiết trinh của tôi… hành vi này làm giãm phần nào cơn sốt cháy bỏng muốn phó thác tôi cho tình yêu của Người”. Nhắc lại việc rước lễ lần đầu, chị nói : “Niềm hạnh phúc tôi thật lớn lao. Chúa thuộc về tôi và tôi thuộc về Chúa. Lần kết hợp thân tình đầu tiên đó để lại trong hồn tôi, ngoài các ân huệ của Người, là nổi khát mong Mình và Máu Chúa”.
Lời nguyện mở đầu nhấn mạnh đến “nỗi khát mong nóng bỏng” tình yêu Thiên Chúa : “Lạy Chúa, Chúa đã lôi kéo chân phước Dina Bélanger lên những đỉnh cao tình ái Chúa” trong bài tự thuật, chị viết : “Tôi vốn bản chất cực đoan, nên dấn thân theo đường lành, tôi nhất quyết phải đi theo tận đỉnh mới thôi”.
Bài đọc thứ nhất trong thánh lễ cũng ca ngợi tình yêu mạnh hơn sự chết (Dc 8, 6-7). Chị Dina viết : “Tình yêu ấy được chính Chúa Giêsu ban cho. Người trở thành cuốn Sách vĩ đại trong đó soi chiếu rạng rỡ trước mắt tôi những dòng chữ thật to, viết về điều bí nhiệm của tình yêu và khoa học yêu đương”. Vậy nên chị cũng dâng mình trong tinh thần đền tội và thương yêu “để yên ủi phần nào và cứu vớt các linh hồn”. Từ lúc còn là tập sinh, chị đã dâng mình làm lễ hy tế, kết hợp với Đức Maria, theo tinh thần thánh Griguon de Montfort. Hoàn toàn “bị chinh phục bởi Đấng vô biên”, chị nghe như có tiếng nói của Chúa Giêsu trong mình : “Con sẽ không chiếm hữu được Cha ở trên trời nữa đâu, vì cha đã thu hút mất con hoàn toàn rồi”. Vậy nên chị sống chính kinh nghiệm của thánh Phao-lô khi Ngài nói : “Không còn phải tôi sống, chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Ga 2,20).
* * *
Ngày 8.9
SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MARIA
Lễ trọng
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ Maria có liên hệ với việc cung hiến một đại giáo đường xây ở Jérusalem hồi thế kỷ V, tại nơi truyền thống vẫn xem là địa điểm nhà ông Gioakim và bà Anna, cạnh hồ tắm Bethzatha (Ga 5, 1-9). Từ thế kỷ XII, ngôi nhà thờ này, buổi đầu dâng kính Sinh nhật Đức Maria, được gọi là đền thờ thánh Anna. Lễ này, truyền sang phương Đông vào thế kỷ VI, được Đức giáo hoàng Serge I (+ 701) thiết lập tại Roma cùng với kiệu rước. Cuộc kiệu bắt đầu ở Saint-Adrien-au Forum đi đến đại giáo đường Libêrô, tức đền thờ Đức Bà Cả.
Tài liệu đầu tiên về lễ Sinh nhật Đức Maria có lẽ một bài ca vẫn còn của Romanos le Mélode (kh. 556), một bài thơ ca ngợi việc Đức Maria sinh ra, theo Ngụy phúc âm theo thánh Giacôbê. Vào thế kỷ VII, thánh Jean de Damas đã có bài giảng lừng danh về sinh nhật Đức bà tại đại giáo đường thánh Anna. Có những cuốn ngụy thư khác kể về sinh nhật Đức Maria như Ngụy thư theo thánh Matthêu và phúc âm về sinh nhật Đức Bà, là tác phẩm sau này, được gán cho thánh Hiêrônimô. Ở phương Đông, lễ sinh nhật Đức bà mở đầu cho năm phụng vụ Byzantin bắt đầu vào đầu tháng chín. Tại Roma, lễ này có tuần tám ngày theo sau (quyết định của Đức Innocenl IV) và có lễ vọng (Đức Grégoire XI, năm 1378).
2. Thông điệp và tính thời sự
Tất cả phụng vụ lễ sinh nhật Đức bà đều tìm cách tạo cho lễ một nền tảng Thánh kinh
a. Lời nguyện trong ngày đặt quan hệ giữa việc đức Maria sinh ra với tư cách mẹ Thiên Chúa vốn là “khởi đầu sự cứu rỗi chúng ta”. Tư tưởng đó cũng đã xuất hiện trong Điệp ca mở đầu : chúng ta hãy hân hoan mừng sinh nhật Đức trinh nữ Maria ; qua Mẹ, Mặt trời công chính đã đến với chúng ta…”. vậy nên đối tượng của lễ là chính Đức Giêsu. “Chúng ta hãy mừng Đức Trinh nữ Maria : hãy tôn thờ Con của Người” (ca dẫn nhập). “Chúng ta hãy ca tụng vinh quang của Đức Kitô hết tâm hồn khi cử hành lễ Mẹ rất thánh của Thiên Chúa” (Điệp ca giữa ngày). Điệp khúc ca vịnh Zacharie cũng ca ngợi như thế khi dịch từ apolitikion trong kinh chiều theo phụng vụ Byzantin : “Ôi Maria, ngày sinh của Mẹi loan báo niềm vui cho thế giới. Từ nơi Mẹ mặt trời công chính đã mọc lên. Đức Kitô đã biến tội lỗi thành ân sủng, sự chết thành cõi sống vĩnh hằng”. Cùng với lễ sinh nhật Đức Maria, đã mở ra thời kỳ các lễ sinh nhật trên trời (Ga 3,7) mang lại bình an. Vậy nên chúng ta cầu xin cho lễ này “mang lại bình an sung mãn cho chúng ta” (lời nguyện trong ngày), bởi vì lễ này “mang sự cứu rỗi thế giới một cách âm thầm, máu Chúa Kitô cứu chuộc Mẹ / nhưng chính Mẹ là nguồn gốc” ( Ca vãn Phụng vụ bài đọc).
b. Lời nguyện tạ lễ lấy tinh thần từ sách lễ Paris, cũng trở lại đề tài này : “sinh nhật Đức Maria là nguồn vui, vì chính Mẹ cho thế giới được cậy trông và là bình minh của sự cứu rỗi”.
Đức giám mục Gortine là André de Crête (kh. 660 – 670) trong bài giảng lễ sinh nhật Đức Bà (phụng vụ bài đọc) cho chúng ta hiểu ý nghĩa hân hoan của lễ hôm nay : “Mọi tạo vật hãy ca hát và nhảy múa, hãy góp mình hết sức mình vào niềm hoan lạc của ngày hôm nay. Tất cả những gì hiện hữu trong thế giới hãy cùng phối hợp vào bản hòa tấu ngày lễ này. Vì hôm nay thánh đài đã được tạo tác làm nơi Đấng sáng tạo vũ trụ sẽ ngự, đang tới : và một thụ tạo, do sự sắp xếp hoàn toàn mới mẻ đó, đã được chuẩn bị để dâng lên Đấng tạo hóa một nơi cư ngụ thánh thiêng”.
Tông Huấn Marialis cultus (số 7) xếp lễ sinh nhật Đức Maria trong số các lễ “kỷ niệm những biến cố cứu rỗi trong đó Đức Trinh nữ đã phối hợp chặt chẽ với Con mình”. Vì quả thực, việc Người sinh ra đã là “bình minh báo hiệu ngày sắp tới” (Thánh thi phụng vụ bài đọc).
* * *
Ngày 13.9
Thánh Gioan Kim khẩu
giám mục, tiến sỹ Hội thánh (kh. 349 – 407)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ Thánh Gioan Kim khẩu được định vào 13 tháng chín, áp ngày qua đời, phù hợp truyền thống giáo hội Antiochia. Thực thế, thánh nhân qua đời ngày 14 tháng 9 năm 407 tại Comane miền Pont, trên đường đi tới bờ Đông Biển Đen nơi phát vãn. Xác người ban đầu được đưa về Constantinople vào năm 438, về sau, theo truyền thuyết, đưa về Roma trong thế kỷ VIII.
Thánh Gioan Kim Khẩu sinh tại Antioche (Thổ Nhĩ Kỳ)vào khoảng năm 349, trong một gia đình công giáo quí tộc. Thân phụ, ông Secundus là sĩ quan. Thân mẫu Antousa là một phụ nữ đáng khâm phục : chồng qua đời lúc mới hai mươi tuổi, bà ở vậy lo việc giáo dục con trai và sẽ được tuyên phong thánh nữ. Gioan được hưởng một nền giáo dục tinh tế tại trường học giáo dục nổi tiếng Libanios , nhờ thế Ngài hòa hợp được văn hóa Hy lạp với Kitô giáo. Là thành viên cộng đoàn công giáo do Đức giám mục Mélèce phát động, Ngài được rửa tội năm 368 vào quãng mười tám tuổi. Nhập môn khoa chú giải Thánh Kinh của thầy Diodore de Tarse, Gioan nhận chức đọc sách, rồi phó tế năm 381, cuối cùng thụ phong linh mục năm 386 do Đức gíam mục Flavien. Từ 372 đến 378, Gioan đã sống sáu năm đời tu sỹ trong cảnh tịch liêu, gần Antiochia.
Sau khi thụ phong linh mục, Cha Gioan giảng ở Antiochia trong mọi trường hợp. Các bài giảng của Ngài vừa sống động vừa ngôn phong hoa mỹ làm cho Ngài nhanh chóng nổi tiếng ở đông Phương. Ngài ưu tiên giải thích Kinh thánh, áp dụng vào cuộc sống đời thường. Ngài tố cáo những lạm dụng, tấn công tật xấu các nhà giàu có, người quyền thế, bênh vực kẻ nghèo hèn. Dân chúng được Ngài chia sẽ niềm vui, khổ cực, nên yêu mến gọi Ngài là Kim Khẩu. Loạt bài giảng về các tượng thánh nhân dịp dân chúng Antiochia tức giận vì mạng cướp bóc, vùng dậy lật đổ các tượng thuộc gia đình hoàng gia, chứng tỏ nhiệt tình mục tử của Ngài không chấp nhận qúa khích, nhưng nương nhẹ và nâng đỡ dân chúng.
Néctaire qua đời, Jean Chrysostome, nhờ nổi tiếng, được công bố làm giáo chủ Constantinople, tòa giám mục thứ nhất tại thủ đô phương Đông. Nhưng vị tuyên úy cung đình trước hết vẫn là tu sỹ và chủ chăn, nhà cải cách; thánh Gioan đả kích tật xấu, thói xa hoa, các lạc giáo, tệ bất công, vậy là Ngài bị chống đối quyết liệt. Hai bài giảng của thánh nhân về sự thất sủng của Entrope, nguyên bộ trưởng đầy quyền thế của Arcadius, là thành công tốt đẹp nhất của Ngài trong nghệ thuật thuyết giảng, chống lại tính cách hảo huyền của quyền lực nhân loại. Tuy nhiên đối với thánh Gioan thì đây là thời kỳ nhen nhúm sự chống đối và thù nghịch chỉ kết thúc bằng sự cô đơn và lưu đày của Ngài. Chạm tự ái vì một bài giảng về vấn đề xa hoa, hoàng hậu Endoxie cho đày thánh nhân lần thứ nhất đi Bithynie, có sự đồng lõa của Téophile, giáo chủ Alexandria qua công đồng Chêne năm 403. Vừa tới nơi, có lệnh của hoàng đế và thư của hoàng hậu gọi Ngài về lại và người ta đón Ngài như kẻ chiến thắng. Tuy nhiên chỉ mấy tháng sau, Ngài lại phải bị lưu đày lần nữa đến Cucuse, sát biên giới Arménie, theo lệnh hoàng đế Arcadius. Thánh Gioan rời Constantinople ngày 20 tháng sáu năm 404. Sau hết năm 407, Ngài bị chuyển đến một nơi xa hơn, trên bờ Đông Biển Đen, tại Pityonte. Dọc đường, Ngài qua đời do kiệt sức vì cuộc hành trình. Trút hơi thở cuối cùng, Ngài nói : “Nguyện Chúa được tôn vinh trong mọi sự. Amen.
2. Thông điệp và tính thời sự
Các kinh nguyện trong thánh lễ đưa ra ánh sáng một số điểm đặc trưng trong cuộc đời thánh Gioan Kim khẩu.
a. Lời nguyện trong ngày nhấn mạnh “Tài hùng biện diệu kỳ” và “đức can đảm lớn lao” của thánh Gioan. Giáo lý do nhà giảng thuyết này (xứng đáng để Công đồng Chalcédoine công bố Ngài là tiến sỹ Hội thánh), được phát hiện qua số lượng tác phẩm rất nhiều – ở phương Tây chỉ thánh Augustin sánh bằng -, cũng như các bài giảng trong tư cách chủ chăn và bài dạy giáo lý dân chúng. Thánh Gioan Kim khẩu thường chú trọng nghĩa từ nguyên của bản văn Thánh kinh theo trường phái thần học Antiochia; trong các chú giải Kinh Thánh, Ngài để lại một di sản bao la gồm cả về Cựu và Tân Ước. Ngài đặc biệt yêu thích các thư thánh Phaolô, mỗi tuần Ngài đọc lại đến hai lần. bản chú giải thư gửi tín hữu Roma là tác phẩm tuyệt tác của Ngài. Về “đức can đảm lớn lao” của Ngài biểu lộ trong các thử thách, chỉ cần đọc các thư của Ngài. Bị phát lưu bất công, xa Giáo hội mình bằng vũ lực, trong khi ốm đau, thay vì trốn lánh đau khổ, Ngài xem đó như ơn Chúa : “Tôi bay lên vì vui, nhảy lên vì mừng, tôi sẽ để dành được một kho báu lớn” (Thư IX). Chúng ta cũng gặp dư âm đức can đảm anh hùng của Ngài trong bài giảng trước khi lên đường lưu đày năm 401 và phụng vụ bài đọc trích lại một đoạn: “ Tôi không sợ nghèo , không mong giàu ; tôi không sợ chết, cũng không thiết sống nếu không phải để giúp anh em tiến bộ. Bất kể nơi đâu Chúa muốn cho tôi, tôi đề chúc phúc nó”.
b. Lời nguyện trên lễ vật khuyến khích giáo dân “dâng hiến mình trọn vẹn” khi cử hành lễ Thánh thể, theo giáo huấn Thánh Gioan Kim khẩu. Chúng ta gặp lại giáo lý Thánh thể của Ngài trong các tài liệu chú giải Kinh Thánh, trong rất nhiều thư tín, nhưng nhất là trong cuốn luận về chức tư tế. Theo Thánh Gioan, việc dâng hiến mình đó đòi hỏi chúng ta phải được nuôi nấng bằng tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người : “Nếu được nhiệt tình thiêu đốt, chỉ cần một người đủ để cải tạo cả một dân tộc… Đức Kitô đang chết đói trước cửa nhà bạn… Hãy giải thoát Chúa khỏi đói, khỏi các nhu cầu, khỏi tù tội, trần truồng !” Cốt lõi sứ điệp và đường lối cơ bản trong hành động của Ngài chính là : thánh hóa đích thực hệ tại việc phục vụ tha nhân; qui luật vàng cho Kitô hữu là quên mình để đến với người khác.
c. Lời nguyện tạ lễ nhấn mạnh tư tưởng về việc làm chứng cho chân lý : “Lạy Chúa, xin làm cho việc rước lễ này biến chúng con thành chứng nhân trung thành cho chân lý”. Việc làm của thánh Gioan trước tiên là công việc một người đầy tớ trung thành với lời Chúa. Thực thế, trong cuốn Luận về chức tư tế, Ngài viết : “ Bạn không biết thân thể này (Giáo hội Chúa Ki-tô) bị nhiều tật bệnh, nguy hiểm hơn thân xác chúng ta sao ? Nhưng không kể các công việc, chỉ có một cách, một phương pháp chữa lành, đó là việc giáo huấn lời. Đó là dụng cụ, đó là lương thực, đó là bầu khí tốt nhất… cho dầu có phải tự thiêu đốt, dầu có phải bị chặt, bị chém, cứ phải dùng phương tiện đó” (IV, 3).
Qua sức mạnh của lời giảng, sự thánh thiện cuộc đời và công việc chủ chăn, thánh Gioan Kim Khẩu vừa là thầy, là cha tinh thần và nhà cải cách. Loan báo Tin Mừng mọi nơi mọi lúc, Ngài đã thành công trong việc đưa sứ điệp phúc âm nhập thể vào xã hội thời mình. Gương mẫu của Ngài thúc đẩy chúng ta, lời Ngài kêu gọi chúng ta : “ Nầy bạn, người thuần khiết, ít mạnh mẽ hơn nhưng thắng được người khác há chẳng tốt hơn điềm nhiên tọa thị mãi trên đỉnh nếu nhìn anh em hư mất sao ? (Bài giảng VI, 4).
* * *
Ngày 15.9
ĐỨC MẸ SẦU BI
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ Đức Mẹ sầu bi xuất hiện trong thế kỷ XII, nhưng đã thấy có dấu vết từ cuối thế kỷ XI trong các bài viết của thánh Ansèlme và nhiều tu sỹ Biển Đức hoặc Cisterciens . Lễ được quảng bá ban đầu bởi các tu sỹ Cisterciens, về sau do các tu sỹ Servites, và phổ biến vào thế kỷ XIV và XV. Tại Cologne, lễ được cử hành lần đầu tiên năm 1423, ngày thứ sáu sau chủ nhật thứ ba Phục sinh, theo một sắc lệnh của công đồng tỉnh Mayence, thiết lập lễ Đức Mẹ sầu bi để đền tạ những xúc phạm do những người theo phe Jean Hus gây ra đối với các ảnh tượng Mẹ. Năm 1482, lễ được đưa vào sách lễ với tước hiệu Đức Bà trắc ẩn, nhưng mãi đến năm 1728, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XII mới đưa vào lịch phụng vụ Roma. Bấy giờ định vào ngày thứ sáu trước Lễ Lá. Bị bãi bỏ, lễ đã được giữ lại chung với lễ Kính Bảy sự Thương Khó Đức Bà, do các tu sỹ Servites đã đưa trước, năm 1668, vào ngày chủ nhật sau 14 tháng chín ; lễ được cho vào niên lịch, năm 1814, sau đó được Đức Giáo Hoàng Piô X năm 1913 định vào 15 tháng chín.
Lễ Đức Mẹ sầu bi cử hành ngay sau lễ kính Thánh giá cho thấy ý nghĩa hiển nhiên của nó. Các bức tượng Pietà, đặc trứng của nghệ thuật Gotique sau nầy và thời phục hưng, cũng như một số ca vãn như Stabat Mater hoặc Les lamentations de Marie, chỉ nói lên những đau khổ của Đức Mẹ dước chân Thánh giá Chúa. Sau đó người ta bắt đầu chiêm niệm các khổ đau khác, từ thế kỷ XIV đã xác định là bảy : lưỡi gươm của Siméon, trốn sang Ai cập, gặp lại Con nơi Đền thờ, trên đường Canvê, đóng đinh, hạ xác, táng trong mộ. Ngày nay lễ kính các đau khổ của Đức Maria, nói cách chung, không có thêm lễ nhớ các Nỗi đớn đau của Đức Mẹ trong thời gian mùa Thương khó nữa.
2. Thông điệp và tính thời sự
Các kinh nguyện trong thánh lễ đã được đổi mới : tất cả xoay quanh các đau khổ của Đức Maria mà lời tiên báo Siméon là tượng trưng (điệp ca mở đầu và bài đọc Lc 2,33 – 35). Giáo hội, như Đức Maria, cũng được kêu gọi dự phần vào Cuộc Thương Khó và niềm Quang Vinh của Chúa (điệp ca rước lễ theo 1 Pr 4,13). Câu xướng trong Phụng vụ giờ kinh nhấn mạnh khía cạnh Kitô học của lễ Kính hôm nay : “ Cùng với Đức Maria dưới chân thánh giá, chúng ta hãy thờ lạy Đấng cứu chuộc trần gian”.
a. Lời nguyện trong ngày nhắc lại nền tảng căn bản của việc kính nhớ các sự thương khó Đức Mẹ : “Lạy Chúa, Chúa đã muốn Mẹ Con Chúa đúng gần thánh giá, thông phần vào các đau đớn của Người, xin Chúa cũng ban cho Giáo hội kết hiệp với sự thương khó của Đức Kitô để được dự phần vào cuộc phục sinh của Người” Chắc chắn, sự tham dự của Đức Trinh nữ Maria được đặt song song với sự tham dự của Hội thánh vào sự Thương khó Chúa (Điệp ca rước lễ và điệp ca thứ hai Kinh sáng) ; tuy nhiên , như công đồng Vatican II tuyên bố, cần nhận thức rằng Đức Maria được dự phần vào Đấng Cưú Chuộc “với một tước hiệu duy nhất tuyệt đối” và Mẹ đã mang lại cho công cuộc của Đấng Cứu Thế một sự công tác tuyệt đối không ai sánh bằng (G.H. 61).
b. Lời nguyện trên lễ vật ( mang âm vang của đoạn Ga 19, 25-27) : Đây là con bà … Đây là mẹ con), nhấn mạnh tính chất làm Mẹ phổ quát của Đức Maria : “… Chúa đã muốn Người làm mẹ chúng con khi đứng kề thánh giá Chúa Giêsu ; (cũng xem Điệp ca Magnificat). Chính dưới chân thánh giá, chức làm mẹ của Đức Maria lan rộng tới mọi thành viên Giáo hội, vì Giáo hội được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của con Mẹ.”
c. Lời nguyện tạ lễ cầu xin Chúa, để khi cử hành “nổi đau thương của Đức Maria”, chúng ta cũng có thể “hoàn tất nơi chúng ta, vì Giáo hội, những gì còn phải chịu đựng trong các thử thách của Đức Ki-tô”. Bản văn lời cầu nguyện rõ ràng xuất phát từ Col 1,24. Vậy nếu chúng ta chấp nhận tham dự vào các thương đau của Đức Kitô cũng như Đức Maria, chúng ta sẽ được dự phần vào phục sinh của Chúa (xem lời nguyện trong ngày).
Bài giảng thánh Bênađô (Phụng vụ bài đọc) ca tụng sự đồng cảm lớn lao của đức Trinh nữ Maria: “ Trong sự thương khó của Đức Kitô, thực sự đã hoàn tất một tình bác ái lớn lao chưa ai từng thấy, và trong sự đồng cảm của Đức Maria thực sự đã hoàn tất một tình bác ái lớn lao không đâu bằng, ngoại trừ tình bác ái của Đức Kitô”. Các thánh thi phụng vụ Giờ kinh là âm vang bài Ca tiếp liên được gán cho Facopone da Todi (1230 – 1306), bài Stabat Mater. Ca vãn sáng tác bằng thứ la-tinh bình dân này đã gợi hứng cho nhiều sáng tác âm nhạc (Josquin des Prés, Palestrina, Pergolese, Rossini…). Nó nhắc lại tập quán đạo đức thời trung cổ trong đó bài Lamentations de Marie rất được dân chúng ưa thích.
Đức Maria có khả năng tham dự hoàn toàn vào những khổ đau của Chúa Giêsu, bởi vì, ngay từ đầu Mẹ đã dâng mình chu Chúa với tâm tình sẵn sàng trọn vẹn. Sự đồng cảm của Mẹ đã được nhắc tới từ nhiều thế kỷ, bởi nhiều nghệ sỹ, hoặc đứng dưới chân thánh giá, hoặc ngồi ẵm xác con trên gối (Pietà, nói là của R.Van Der Weyden, Bruxelles, Pietà, nói là của Villeneuve-Lès-Aviguon, Louvre; Pietà của Michel-Ange trong Đền thờ thánh Phêrô ở Roma …)
* * *
Ngày 16.9
THÁNH CORNEILLE Giáo hoàng (+253)
và THÁNH CYPRIEN giám mục, tử đạo (+258)
Lễ buộc ; Bắc phi : Kính trọng thể
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ kính các thánh Corneille và thánh Cyprien được Giáo hội Roma cữ hành từ thế kỷ IV, kỷ niệm việc tử đạo của thánh Cyprien bị xử trảm ở Carthage ngày 14 tháng năm 258. Lễ được cử hành nơi hầm mộ thánh Corneille ở hang toại đạo Calixte. Nhưng khi lễ kính Thánh giá được đưa vào phương Tây ngày 14 tháng 9, lễ hai thánh Corneille và Cyprien chuyển xuống ngày 26 cùng tháng. Thánh Corneille chết trong khi bị lưu đày trước cuộc tử đạo thánh Cyprien mấy năm sau cũng được nhắc tới chung với thánh giám mục Carthage trong lễ qui Roma để ghi nhớ tình bạn giữa hai vị.
Thánh Corneille người Roma lên thay thế Đức giáo hoàng Fabien năm 251 sau một năm tòa giám mục Roma trống ngôi do cuộc bách hại của hoàng đế Decius, mà theo lời thánh Cyprien, là người “thà thấy một đối thủ nổi lên chống đối mình còn hơn thấy một giám mục của Chúa ở Roma”. Lên ngôi giáo hoàng, Đức Corneille đụng đầu với vấn đề quan trọng là hoà giải các Lapsi, tức là những Kitô hữu trong lúc cấm cách đã chẳng may chối đạo. Đức giáo hoàng muốn có thái độ khoan dung, thứ tha và tái nhập họ, nhưng một linh mục người Roma tên là Novatien tự xưng giám mục đối kháng, tố cáo Ngài là chiếu cố. Thái độ nghiêm khắc của Novatien bị Đức giáo hoàng kế án, trở thành nguồn gốc của giáo hội ly giáo Novatien có mặt tại Roma xứ Gaule, Tây Ban Nha, và mãi tới thế kỷ VII mới tan rã.
Trong cuộc chiến chống lại ly giáo Novatien, Đức giáo hoàng Corneille được sự hỗ trợ của Đức giám mục Cyprien ở Carthage, vì Đức giám mục Cyprien cũng vấp phải những khó khăn tương tự, do nhóm ly giáo nghiêm khắc Félicissime và Novatien. Thời Gallus bắt đầu bách hại đạo (251-253), Đức giáo hoàng Corneille bị đày đi Centumcoellae (phía Bắc Roma), ít lâu sau Ngài qua đời. Sau này thánh Cyprien nêu tên Ngài là tử đạo. Hài cốt Ngài vẫn được tôn kính nơi mộ Ngài trong hang toại đạo Calixte ở Roma.
Thascius Caecilius Cyprianus sinh đầu thế kỷ III ở Carthage, tại đây Ngài trở thành một nhà tu từ nổi tiếng. Do ảnh hưởng của linh mục Caecilius, Cyprien trở lại đạo vào khoảng hai mươi lăm tuổi, được rửa tội tháng 6 năm 245 hoặc 246. Ngài kể lại cuộc cải giáo của mình trong cuốn tiểu luận Gửi Donatus (246). Năm 249, Cyprien được chọn làm giám mục Carthage nhưng cuộc bách hại của Decius (cuối 249) buộc Ngài phải rời thành phố. Ngài viết nhiều thư nâng đỡ các Giáo hội bị bắt bớ. Trở về Carthage năm 251, Ngài cũng đụng đầu với vấn đề Lapsi như Đức giáo hoàng Corneille ở Roma bởi vì có nhiều giáo hữu đã chối đạo trong thời kỳ cấm cách. Hoàn toàn đồng ý với Đức giáo hoàng, Ngài chọn biện pháp nhân từ, vừa chống lại chủ trương quá rộng của một số người xưng đạo, vừa chống thái độ quá nghiêm khắc của một số người khác tập trung chung quanh Félicissime. Ông này bị kết án và bị vạ tuyệt thông do công đồng Carthage năm 251 mặc dầu các giám mục chống đối đã từng truyền chức linh mục, thậm chí cả chức giám mục cho Cyprien.
Nhiều thử thách khác nhanh chóng ập xuống Giáo hội châu Phi : Những cuộc tấn công đốt phá bắt giáo dân làm con tin, trận dịch hạch bị đổ tội cho các Kitô hữu là nguyên nhân. Thánh giám mục Carthage đã mở một cuộc lạc quyên để chuộc các tù binh và tổ chức những cuộc cứu trợ bất kể tôn giáo.
Từ năm 255, đối với thánh Cyprien và các giám mục châu Phi đã nãy sinh vấn đề thành sự của phép rữa do người lạc giáo cử hành. Đức giám mục Carthage và các giám mục châu Phi cho rằng thánh tẩy do người lạc giáo cử hành thì bất thành, ngược lại, Đức thánh giáo hoàng Etienne theo truyền thống Roma, công nhận việc đó. Tranh cải giữa hai bên suýt đưa tới đổ bể, nhưng cái chết của Đức giáo hoàng Etienne vào năm 257 và cuộc tử đạo của thánh Cyprien năm 258 đã chấm dứt cuộc tranh luận suýt gây tác hại lớn.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện trong ngày mừng đồng thời thánh Corneille và thánh Cyprien vừa là những chủ chăn tuyệt vời, vừa là những tử đạo anh hùng. Lời nguyện nhắc chúng ta cầu xin ơn biết “ân cần làm việc cho sự đoàn kết trong Giáo hội”. Bức thư thánh Cyprien gửi đến Đức giáo hoàng Corneille, được Phụng vụ giờ kinh ghi lại, có những dòng sau đây : “Chúng ta chỉ là một Giáo hội, tinh thần chúng ta hợp nhất, sự hợp nhất của chúng ta không thể phân rẽ ; giám mục nào lại không vui trước vinh dự một giám mục khác như thể đó là vinh dự của riêng mình”. Theo giáo lý thánh Cyprien về sự hợp nhất của Giáo hội, chính giám mục là trung tâm của sự hiệp nhất đó. Giám mục ở trong Giáo hội và Giáo hội ở trong Giám mục ; kẻ nào không cùng với giám mục, không ở trong Giáo hội. Sự hợp nhất ấy được biểu đạt và thực hiện trong Thánh thể. Sự thông hiệp của tất cả các giám mục về đức tin và hoà thuận, trong tình hiệp thông với Ngai tòa Roma, làm nên tính hợp nhất của Giáo hội phổ quát (xem tiểu luận về sự hợp nhất Giáo hội công giáo). Roma, Giáo hội của Phêrô, là dấu hiệu sự hợp nhất của các giám mục với nhau. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng giáo lý về Giáo hội của thánh Cyprien và về tính cách tối thượng của giám mục Roma không hoàn toàn mạch lạc và tỏ ra thiếu sót, nhưng đàng khác Ngài lại gọi Giáo hội Roma là Ecclesia principalis (Giáo hội chính) “từ đó phát xuất sự hợp nhất sacerdotale”; cần giữ hiệp thông với Giáo hội ấy, mặc nhiên cônh nhận Giáo hội ấy có quyền uy trên mọi Giáo hội và chạy đến với giáo hoàng khi cần thiết.
b. Lời nguyện trên lễ vật, lấy từ Sách lễ Paris năm 1738, cho ta xin ơn “vững bền trong nghịch cảnh” theo gương hai thánh Corneille và Cyprien đã can đảm trong khi bị bách hại. Thư số 57 của thánh Cyprien nhắc lại các phương tiện cần có trước khi “giao chiến” : “không ngừng chay tịnh, cảnh giác, cầu nguyện cùng với toàn dân. Bởi vì đó là những thứ khí giới trời ban để giúp ta đứng vững và can đảm trung kiên”.
c. Lời nguyện tạ lễ khuyến chúng ta trở nên mạnh mẽ nhờ sức mạnh của Chúa thánh thần ngõ hầu làm chứng cho chân lý phúc âm.
Tháng 8 năm 257, khi Valérien tung ra một sắc chỉ bắt đạo mới, thánh Cyprien ban đầu bị đày đi Curubio, một thị trấn nhỏ ở Bắc Phi, nhưng chỉ một năm sau, được gọi về Carthage lại. Can đảm và sáng suốt, thánh nhân đã sẵn sàng cho cuộc tử đạo; Ngài viết : “Một giám mục thì nên xưng đạo tại nơi thành phố có Giáo hội mình, và để cho dân chúng của mình nhờ đến sự tuyên xưng ấy”. Biên bản phiên tòa xét xử và câu chuyện cuộc hành quyết Ngài được cuốn công vụ quan thái thú kể lại, còn lưu giữ đến thời chúng ta và Phụng vụ bài đọc có trích một đoạn : “Cuối cùng quan thái thú quyết định tuyên án : Ta truyền phạt Thascius Cyprianus phải bị chặt đầu? Cyprien liền nói : Deo gratias. Tạ ơn Chúa”.
Thánh Cyprien giám mục Carthage và thánh Corneille, giáo hoàng liên kết với nhau bằng một tình bạn chân thành cũng như cùng một tình yêu với Chúa và Giáo hội. Qua gương sáng, các Ngài kêu mời chúng ta làm việc để mọi người cùng có được Giáo hội làm mẹ, hầu cùng có Chúa làm cha : “Chúng ta hãy nhớ đến nhau, hãy chỉ có một tấm lòng, một tâm hồn; mỗi người hãy cầu nguyện cho người khác ; vì tình yêu hãy làm nhẹ những khổ cực lo lắng của nhau” (Thư thánh Cyprien gửi Đức giáo hoàng Corneille trong Phụng vụ bài đọc).
Ngày 17.9
Thánh ROBERT BELLARMIN
Giám mục, tiến sỹ Hội thánh (1542-1621)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Robert Bellarmin qua đời tại Roma ngày 17 tháng 9 năm 1629 phong thánh năm 1930 và công bố là tiến sỹ Hội thánh năm 1931. Xác Ngài được tôn kính tại nhà thờ thánh Ignatiô ở Roma cạnh nhà thờ thánh Louis de Gonzague.
Robert sinh tại Montepulciano tỉnh Toscane trong một gia đình có mười hai người con.Thân phụ, ông Vincent, là chánh án thành phố, còn thân mẫu, bà Cynthéa là chị Đức giáo hoàng Mancel II. Gia nhập Dòng Tên năm 1560, Robert học triết tại Collège Romain, thần học ở Padua và Louvain, thụ phong linh mục ở Gard năm 1570. Được chỉ định giảng thuyết và giáo sư thần học tại đại học Louvain (1569-1570), sau đó được gọi về Roma giữ ghế phản biện tại Collège Romain (1576-1588). Các bài học của Ngài được thu thập và xuất bản với tên những cuộc thảo luận về các tranh biện giữa đức tin công giáo và những lạc giáo đương thời, đặc biệt nhằm trình bày và phản bác các sai lầm của phong trào cải cách Tin Lành.
Thánh Robert đã đào tạo nhiều thế hệ minh giáo, nhà thần học, nhưng cũng dấn thân vào các công tác chính trị, chẳng hạn năm 1590, Ngài được Đức giáo hoàng Sixte Quint sai sang Pháp trong tư cách cố vấn thần học của Đức hồng y Gaitani để bênh vực các quyền lợi của Giáo hội trước mặt vua xứ Navarre, sau này là Henri IV. Năm 1591, Ngài cũng được gọi tham gia các ủy ban sửa bản Vulgata (ấn phẩm Sixto-clémentine). Đồng thời, năm 1588, Ngài làm linh hướng và năm 1592, là viện trưởng Collège Romain, nơi đây Người biết thánh Louis de Gonzague. Năm 1594, Ngài được chỉ định làm bề trên tổng dòng Tên ở Naples, nhưng Đức giáo hoàng Clément VIII triệu Ngài về lại Roma làm cố vấn thần học và phong Ngài làm hồng y (1599). Thời gian này Ngài xuất bản Bộ Giáo lý nổi tiếng của mình. Năm 1602, Đức hồng y Bellarmin được chỉ định làm tổng giám mục Capone, nơi đây Ngài tỏ ra là một chủ chăn gương mẫu, toàn tâm toàn ý lo việc giảng dạy, giáo lý, giúp đỡ người cùng khổ. Thời Đức Giáo Hoàng Phaolô V, Ngài lại được triệu về Roma (1605), được chỉ định làm chuyên viên thần học chính thức của thánh vụ. Năm 1616, Ngài tham gia cuộc tranh luận giữa Galilée và những người dèm pha ông sau khi nhà bác học người Ý xuất bản tập Những bức thư vẽ các dấu vết mặt trời (1613) trong đó ủng hộ hệ thống Copernic. Nhưng công trình bị cho vào index (sách cấm), trong khi đó đức hồng y Bellarmin đề nghị Galilée đổi hướng sang các vấn đề nghiên cứu khác. Là tác giả nhiều tác phẩm tu đức, Ngài yểm trợ thánh Francois de Sales trong việc chuẩn thuận cho Dòng thăm Viếng. Là người tích cực hoạt động cho mãi tới lúc chết, Ngài qua đời sau khi đọc kinh Tin Kính, vào ngày kỷ niệm thánh Phanxicô được in năm dấu.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện trong ngày công nhận thánh Robert Bellarmin có một “sự thông thái và một sức mạnh diệu kỳ để bảo vệ đức tin của Hội thánh”. Thực thế, trong khí thế cải cách công giáo, thánh Robert đã chiến đấu ngoan cường hầu bảo vệ sự nguyên tuyên của đức tin. Trước hết là ở Louvain chống lại Baius chủ trương những luận điểm về ân sủng chứa đựng mầm mống Jansénisme ; tiếp theo, ở Roma, qua các bài “phản biện” để chống lại những sai lầm của Tin Lành. Ngài cũng chiến đấu chống lại việc truyền bá đa thần giáo trong thời Phục hưng bằng việc xuất bản và dạy giáo lý công giáo, đặc biệt là cuốn Giáo lý nhỏ. Cuốn giáo lý này sau khi dịch sang Pháp ngữ được nhiều người, trong đó có thánh Francois de Sales, sử dụng để dạy giáo lý. Về phương pháp, Ngài theo thánh Thomas Aquinô, sử dụng nhiều các nguồn mạch kinh thánh, giáo phụ cũng như thánh truyền của Giáo hội.
Khi công bố thánh Robert là tiến sỹ Hội thánh năm 1931, Đức Giáo Hoàng Piô XI tuyên bố : “Đây là con người rất đặc biệt, một nhà thần học lỗi lạc, nhà bảo vệ dũng cảm đức tin công giáo, là cái đe đối với những người lạc giáo, nhưng đồng thời đạo đức, khôn ngoan, khiêm tốn và rất bác ái”. Phụng vụ bài đọc trích một đoạn trong cuốn Cuộc thăng tiến của linh hồn về với Chúa :
“Thành công hay thất bại, phú quí hay nghèo hèn, khỏe mạnh hay yếu đau, danh dự hay ô nhục, sống hay chết : người khôn không kiếm tìm các thứ vì chính chúng ta cũng không né tránh chúng vì chính chúng. Nếu chúng góp phần vào vinh quang Chúa và hạnh phúc vĩnh cửu của bạn thì chúng rất tốt và phải tìm kiếm, còn nếu chúng gây chướng ngại, chúng là xấu, cần tránh né chúng”.
* * *
Tại Bỉ : Ngày 17.9
Thánh LAMBERT
Giám mục, tử đạo (+ trước 705)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Lambert thuộc một gia đình quyền quí có nhiều công tước tại Vương quốc Franc ; tên gọi của Ngài có liên hệ chặt chẽ với tên gọi thành Maastricht (Hà Lan), xây cất vào thế kỷ IV, nơi một cây cầu có công sự do quân Roma xây trên sông Meuse. Tòa giám mục Tongres được dời về đây, cũng chính trong thành này Lambert ra đời. Được giao cho Đức thánh giám mục Théodard coi sóc, Lambert được phong giám mục Maastricht năm 671, được dân chúng kính trọng và yêu thương. Tuy nhiên vị chưởng quan tòa lâu đài Neustric là Ebroin độc ác bách hại, Ngài phải tức tốc trốn vào tu viện Stavelot (vùng Ardennes Bỉ), nơi đây Ngài ở bảy năm, sống đạo đức không giao tiếp ai (675-682).
Sau khi Ebroin kẻ bách hại Ngài qua đời, Đức giám mục Lambert trở về tòa giám mục ; Ngài sống rất nghèo ; lòng nhiệt thành của Ngài lan sang cả những vùng bên cạnh nên đã tới đó rao giảng Tin Mừng, phá hủy các ngẫu tượng. Đây là một giai đoạn cam go đầy nhiễu nhương và các biến cố tàn bạo mà Đức giám mục cũng không tránh khỏi. Vì trung thành với sứ mệnh và do lòng nhiệt thành chủ chăn, Ngài bị ám sát tại nhà, gần thành phố Liège, vào khoảng năm 705 hiến dâng mạng sống, tránh cho những kẻ đứng về phía Ngài và kẻ nghịch khỏi bị lôi cuốn vào bạo lực.
An táng trong nhà thờ thánh Phêrô gần tòa giám mục, thi hài của vị tử đạo sau đó được di dời về Liège, tại đây thánh Lambert được xem là “bổn mạng của giáo phận”.
Tên thánh Lambert được ghi vào sổ tử đạo và niên lịch thánh Willibrol. Khắp nước Bỉ tôn kính vì Ngài đã góp công rất lớn trong việc truyền giáo cho Bỉ. Trên một trăm bốn mươi nhà thờ dâng kính thánh nhân, kể cả đại thánh đường thánh Lambert xây cất năm 718 tại Liège.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện thánh lễ nhắc lại việc giảng thuyết của thánh Lambert nhằm trước tiên là để người ta biết Đức Giêsu là con Thiên Chúa. Tinh thần nghèo khó của thánh giám mục –Ngài đã đem từ dòng tu Stavelot nơi Ngài đã sống về tòa giám mục- là một yếu tố căn bản của tinh thần truyền giáo đưa Ngài đi tới những vùng xa xôi nhất để loan báo Tin Mừng, phá bỏ ngẫu tượng và đền thờ lương dân.
Trong các chuyện về Ngài, người ta thường kể về đức khiêm nhường anh hùng và tinh thần vâng lời của thánh Lambert trong thời kỳ lui về sống ẩn tại tu viện Stavelot ; Ngài từng quì nhiều giờ giữa đêm tối, dưới chân cây thánh giá, trong cái lạnh và tuyết phủ để đền tội mà không động đậy. Khi cha bề trên thấy ngại, ngỏ lời xin lỗi, thánh nhân đã trả lời : “Cha làm bổn phận của cha rồi. Nhưng thánh Phaolô há đã chẳng dạy rằng phải phụng sự Chúa trong cái lạnh và trần truồng đó sao?”
* * *
Ngày 19.9
THÁNH JANVIER (GIANUARIÔ)
Giám mục tử đạo (+ khoảng 305)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh giám mục Janvier tử đạo ở Pouzzoles, gần Naples, vào đầu thế kỷ IV, khoảng năm 305. Lễ kỷ niệm thấy ghi trong ngày 19 tháng chín theo sổ tử đạo của Jérôme và theo các niên lịch Carthage (thế kỷ VI), Naples (thế kỷ IX) và các lịch cổ ở phương Đông. Giáo hội Byzance mừng kính vào ngày 20 tháng tư.
Nguồn lâu đời nhất về tính lịch sử của thánh Janvier là của linh mục Uranius, người viết tiểu sử thánh Paulin de Nole (+431) : Bằng giọng rõ ràng Paulin bắt đầu hỏi các anh em mình đâu rồi ; bấy giơ, một người có mặt tưởng Ngài tìm các vị giám mục đã cùng cử hành lể thánh, ông ta nói với Ngài : “Các đấng ấy đang ngồi xung quanh đây mà”. Nhưng thánh Paulin nói : “Tôi muốn nói đến các anh em giám mục của tôi là Janvier và Martin thành Tours kia, vừa nãy đây, các ngài mới nói chuyện với tôi. Các ngài có hứa trở lại ngay kia mà”. Trong hai vị giám mục ấy, vị trước tức Janvier, là giám mục tử đạo, được Giáo hội Naples tôn kính” (PL 53,861-A).
Về thánh Janvier này, đây là một giám mục ở Bénévent (tỉnh Campanie), bị bách hại dưới đời Dioclétien (305), hay thời kỳ giáo phái Arius tàn sát (thế kỷ IV). Bị chặt đầu và an táng tại Pouzzoles, đến đầu thế kỷ V xác Ngài được chuyển về Naples thời Đức giám hoàng Gioan I, được tôn kính trong các hang toại đạo Capodimonte. Từ thời đó, thánh nhân được tôn kính, được xem là bồn mạng thành phố Naples, tại đây từ năm 1839, người ta bắt đầu đầu đề cao “phép lạ diệu kỳ của thánh Janvier. Từ lượng máu đông đặc giữ trong một chai nhỏ đem ra cho dân tôn kính, cứ đến ngày 19 tháng 9 và một số ngày khác nhất định, máu sẻ loãng ra. Việc tôn kính thánh Janvier qua nhiều thế kỷ, đã lan tới mọi lục địa, tận mãi châu Mỹ la tinh (Rio de Janeiro).
Một truyền thuyết thời trung cổ nói có sáu người bạn cùng tử đạo với thánh Janvier là : Festus, Didier (Désiré), Sossius (Sosie), Proculus (Procule), Eutyquès (Eutyque) và Acutius (Acuce).
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện riêng lấy từ sách các phép Grégoire : “Lạy Chúa, Chúa ban cho chúng con kính nhớ thánh Janvier tử đạo của Chúa, cầu xin Chúa ban cho chúng con được hưởng hạnh phúc muôn đời, cùng được sống hân hoan với Người”.
Cũng như Giáo hội Naples luôn tôn kính và cầu khấn thánh bổn mạng của mình, đặc biệt trong những giờ phút lịch sử khó khăn, Giáo hội toàn thế giới cũng luôn chạy đến với các thánh, vì trong cuộc sống các ngài, Chúa biểu lộ sự hiện diện và khuôn mặt Chúa trong một ánh sáng sống động. Qua các ngài chính Chúa nói với chúng ta một dấu hiệu và mạnh mẽ lôi kéo chúng ta vào đây (Vatican II, GH 50).
* * *
Ngày 20.9
Thánh ANRE KIM TAEGON linh mục,
PHAOLÔ CHONG HA-SANG và các bạn tử đạo (+1839-1867)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Anrê Kim Taegon và Phaolô Chong Hasang được phong thánh cùng với một trăm mười một vị tử đạo khác do Đức Gioan Phaolô II, năm 1984, nhân dịp Đức giáo hoàng tới Triều Tiên. Lễ kỷ niệm được ghi vào lịch năm 1985, định vào ngày giữa 16 tháng 9, kỷ niệm thánh Anrê Kim tử đạo, bị chặt đầu ở Séonl, và 22 tháng 9, ngày tử đạo của thánh Phaolô Chong, cũng bị hành quyết năm 1846.
Việc truyền giáo cho Triều Tiên bắt đầu từ thế kỷ XVII, nhờ lòng can đảm của một số giáo dân ; họ đã lập nên một cộng đoàn sốt sắng tồn tại cho tới khi các thừa sai người Pháp tới. Các vị tử đạo tôn kính hôm nay đều thuôc cộng đoàn đó, tất cả đều là người Triều Tiên, trừ ba vị giám mục và bảy linh mục thuộc Hội truyền giáo hải ngoài Paris, đều bị hành quyết trong các cuộc bách hại 1839, 1846. Trong số đó có thánh Laurent Imbert, sinh tại Aix-en-Provence, thụ phong giám mục tại Triều Tiên, tử đạo năm 1839, thánh Pierre Maubant và Jacques Chastan.
Anrê Kim Taegon sinh trong một gia đình quyền quí ở Triều Tiên. Thân phụ là ông Ignace cũng tử đạo, năm 1821. Ngày nay chúng ta còn lưu giữ được hai bức thư của cha Kim : một lá viết từ trong tù gửi cho giám mục Ferréol, người đã truyền chức linh mục cho cha tại Macao, Trung Quốc ; lá thư thứ hai gửi các đồng đạo Triều Tiên khác. Thánh Anrê Kim Taegon là linh mục tử đạo thứ nhất người Triều Tiên.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh tính phổ quát trong nhiệm cục cứu rỗi của Chúa, là “Đấng sáng tạo và là sự cứu rỗi cho mọi dân tộc”. Vậy nên Giáo hội tự bản chất phải truyền giáo, như Công đồng Vaticanô II nhắc nhở : “Được Chúa sai đến với lương dân để trở thành bí tích cứu rỗi mọi người, Giáo hội, vì các yêu cầu nội tại do tự bản chất phổ quát của mình và tuân theo lệnh truyền của Đấng sáng lập (Mc 16,16) hết sức cố gắng hướng tới việc rao giảng cho mọi người” (TG 1).
Đề tài khác được phụng vụ trong ngày triển khai là tử đạo được Giáo hội xem là ơn huệ lớn lao và là chứng cứ của lòng mến siêu việt (LG 42). Chính nhờ tử đạo mà hạt giống rơi xuống đất mang lại nhiều hoa trái (Ga 12,24).
* * *
Ngày 21.9
Thánh Matthêu
Tông đồ, thánh sử
Lễ trọng
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Việc tôn kính thánh Matthêu ở Roma lên tới thế kỷ V. Hồi đó ngưới ta mừng lễ Ngài trong nhà thờ lớn đường Merulana, và đến thế kỷ VIII lễ kính được thiết lập, có cả lễ vọng. Lễ ngày 21 tháng 9 như hiện nay là theo sổ tử đạo của thánh Jérôme, nhưng ở phương Đông mỗi nơi định mỗi khác tùy theo họ thuộc nghi lễ Byzance và Syrie (16 tháng 9) hay Coptes (9 tháng 9).
Các sách phúc âm trình bày thánh Matthêu như một nhân viên thuế vụ hay người thu thuế (Mt 9,9), con ông Alphée (Mc 2,14), có lẽ gốc người Capharnaum (Mc 27,14 ; Lc5,27) và là anh em với Giacôbê, vì ông này cũng là “Con ông Alphée”. Tên Matthêu (tiếng Hy lạp là Matthaios) có nguồn gốc Hébreu, có nghĩa là “Ơn của Chúa”. Ngài cũng được gọi là Lévi (Mc 2,14 ; Lc 5,27). Trong danh mục Nhóm Mười Hai, Ngài xếp thứ bảy hoặc thứ tám (Mc 3,18 ; Lc 6,15 ; Cv 1,13). Lời thú nhận của Mat-thêu trước khi được Đức Giêsu gọi, cho mình là một người “Không sạch”, bị phạt theo luật đạo Do Thái. Lời gọi của thầy, Đấng không đến kêu gọi người công chính, nhưng kêu mời người tội lỗi để họ cải hối (Lc 5,22) đã tạo nên nơi Lévi một câu trả lời tức thì và quảng đại : Bỏ tất cả, ông đứng dậy, đi theo thầy (Lc 5,28). Lòng quảng đại và lương thiện của người môn đồ mới được Luca đề cao :
Lévi dọn đại tiệc trong nhà để đãi Chúa Giêsu, tới dự có rất đông những người thuộc nhóm thuế vụ (5,29).
Đức giám mục Hiérapolis (ở Tiểu Á) tên là Papias, vào khoảng năm 125 kể lại rằng Matthêu đã xếp đặt các “ngôn từ” (Logia) của Chúa bằng thể ngữ Hébreu (tiếng Araméen) còn theo Eusêbe, Origène(+khoảng 254), xác nhận Matthêu là tác giả phúc âm thứ nhất, viết gửi đến những Kitô hữu gốc Do Thái. Thánh Irénée (tiền bán thế kỷ III) viết rằng Matthêu đã viết phúc âm nơi nhà những người Do Thái bằng ngôn ngữ của họ.
Theo một số truyền thuyết, thánh Matthêu đã rời Palestine sang truyền giáo nhiều miền khác nhau, ở Ba Tư, Syrie, Macédoine và Ethiopie, rồi tử đạo tại đây. Từ Éthiopie hài cốt Ngài được đưa về Paestum (Campanie), rồi Salerne, thế kỷ X, như Đức Giáo Hoàng Grégoire VII làm chứng, năm 1080. Theo một truyền thuyết khác, di hài Ngài được thánh nữ Hêlêna chuyển từ Jérusalem về Trèves (Đức) tại tu viện thánh Matthêu.
Anh tượng thường biểu diễn thánh Matthêu dưới dạng một thiên thần có cánh, tượng trưng cho phả hệ Đức Kitô ở đầu phúc âm Ngài. Các giai thoại về cuộc đời thánh Matthêu, ngoài những nơi khác, còn thấy nơi một loạt các bức họa của Caravage trong nhà thờ thánh Louis des Francais ởRoma.
2. Thông điệp và tính thời sự
Các kinh nguyện thánh lễ lấy từ sách lễ Paris năm 1738.
a. Lời nguyện trong ngày ca tụng lòng “Nhân từ sâu thẳm” của Chúa đã chọn “Matthêu người thu thuế đã làm thành tông đồ Chúa”. Trong phụng vụ bài đọc, thánh Bêđa khả kính nhận định rằng Chúa nhìn thấy Matthêu ngồi bàn thu thuế “Không phải bằng con mắt phần xác cho bằng cái nhìn nội tâm của lòng thương xót”. Giải thích ơn gọi dành cho Lévi, thánh nhân khẳng định ý nghĩa và bản chất lời gọi của Đức Kitô : “Khi yêu cầu ông theo Chúa, Chúa không kêu gọi ông đi theo Người cho bằng sống như Người”.
b. Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh đề tài chính theo phúc âm Matthêu là Giáo hội : “Lạy Chúa xin yêu thương nhìn đến Giáo hội Chúa, vì Giáo hội đã được chính Chúa nuôi dưỡng đức tin bằng lời giảng dạy của các tông đồ”. Từ Giáo hội (Ekklèsia) được sử dụng từ một trăm lần trong Tân ước, đặc biệt là trong các thư thánh Phaolô, nhưng trong các phúc âm chỉ ba lần, chỉ có trong phúc âm Matthêu (16,18 ; 18,17). Trong 16,18 : “Con là Phêrô, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy”. Từ Hội Thánh ở đây chỉ cộng đồng Chúa sắp thành lập xây dựng trên Phêrô. Trong 18,18 : “Nếu kẻ ấy chối không chịu nghe họ, hãy nói với Giáo hội”, ở đây từ Giáo hội chỉ nghị viện của các tín hữu tức là đoàn tông đồ. Giáo hội cũng là cộng đoàn mới do Chúa Giêsu thiết lập, được xây dựng quanh Phêrô và các tông đồ, được mời gọi rao giảng phúc âm khắp thế giới (24,14; 26,13) và mọi dân tộc (28,19).
Nước Trời (thành ngữ xuất hiện có tới năm mươi lần trong Matthêu) là điều mới lạ do Chúa Giêsu lập nên. Đây là nước Thiên Chúa hiện hữu “Trên trời”, nhưng thực hiện ở trần gian bằng hình ảnh và việc tham dự, và sẽ kết thúc “Trên trời” vào ngày thế mạt. Hiến chương của Nước Trời là “Bài giảng trên núi” (5,3-11).
c. Thánh Matthêu vui mừng được đón Chúa vào nhà (lời nguyện tạ lễ) không ngần ngại mời nhiều bạn hữu, thu thuế, người tội lỗi cùng đến dự tiệc với Chúa Giêsu và các đồ đệ của Chúa (9,10). Trong thế giới Palestine, bữa ăn là giây phút cao điểm của lễ hội và gặp gỡ. Đức Giêsu khi nhận lời mời đến nhà một người “không sạch” muốn nhấn mạnh lời mời gọi nhân từ của Thiên Chúa đang mở cửa Vương Quốc của Chúa cho người tội lỗi.
Sau hết chúng ta hãy nhớ lời thánh Bêđa khả kính trong một bài giảng về thánh Matthêu : “Đấng sau này sẽ là Tông đồ và thầy dạy lương dân, lúc cải hối, đã kéo theo mình, cả một đám đông những người tội lỗi trên đường cứu rỗi” (Phụng vụ bài đọc).
Ngày 21.9 (ởThụy Sĩ)
Thánh maurice
và các bạn tử đạo (Khoảng 303)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Cuộc tử nạn của các vị tử đạo vùng Agaune (nay là Saint-Maurice), tổng Valais Thụy Sỹ, được Đức giám mục Lyon là thánh Eucher (+ 459) kể lại theo các lời truyền khẩu.
Cuộc tử nạn mà chúng ta đọc một trích đoạn trong kinh thần vụ, nói rằng vào thời các hoàng đế Maximien và Dioclétien, trong quân đội Roma, “Có một binh đoàn gọi là binh đoàn người Thébéens. Họ từ Đông phương tới để yểm trợ hoàng đế Maximien, bởi đây là những chiến binh tinh nhuệ, anh hùng quả cảm, nhưng họ càng anh hùng hơn trong đức tin”. Lúc này hoàng đế Maximien đang đóng quân gần Martiguy tổng Valais để giao chiến với các loạn quân Gaulois. Trước lệnh vua truyền tế thần để cầu xin chiến thắng, binh đoàn gồm các Kitô hữu đó đã không tuân theo. Một truyền thuyết khác nói rằng “ Họ nhận được lệnh tàn sát các Kitô hữu, nhưng đã can đảm lên án sự man rợ đó là từ chối không tuân theo những lệnh như thế”.
Bị sát hại hàng loạt nhiều lần nhưng vẫn kiên quyết từ chối, binh đoàn Thébéens đã bị giết từng tập thể lớn. Trong số các nạn nhân, chuyện Tử nạn nhắc đến tên Maurice binh đoàn trưởng, cùng với các sỉ quan Exupère và Candide. Truyền thuyết cũng nhắc đến một số tên khác như Vital, hai Victor, Alexandre (có lễ mừng ở Bergame) và Géréon (ở Cologne).
Agaune-nay là Saint- Maurice-En-Valais – trở thành một nơi hành hương nổi tiếng. Vào cuối thế kỷ IV, người ta đã xây một nhà thờ tại đây, trên mồ các vị tử đạo, và năm 515, thánh Sigismond, vua người Burgondes, thành lập tu viện thánh Maurice bên cạnh để chăm sóc nhà thờ. Ít lâu sau, năm 520, một đại giáo đường được xây cất thay thế nhà thờ củ, và qua các thế kỷ, đã nhiều lần được tái thiết. Từ năm 1128, đại thánh đường giao cho các kinh sĩ dòng thánh Augustin quản trị.
Việc tôn kính thánh Maurice và các bạn đã rất phổ biến, lan từ Valais sang đến suốt Helvétie (nơi đây đã chọn nhận thập tự trắng của binh đoàn Thébéens làm biểu trưng cho mình) và nhiều nước khác ở phương Tây. Ở Pháp, có bảy mươi tổng lấy tên là Maurice và thời Trung Cổ, nhiều dòng hiệp sỹ nhận Ngài làm thánh bổn mạng, cũng như giới thợ nhuộm ngày nay.
2. Sứ điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện nhắc lại : vinh quang các vị tử đạo là phản ánh sự rạng rỡ của Thiên Chúa. Quả thế chứng cứ rạng rỡ của các thánh tữ đạo thuộc binh đoàn Thébéens mạnh mẽ nói lại với chúng ta yêu sách của Đức Kitô giáo là : duy chỉ một mình Thiên Chúa đáng chúng ta thờ phụng
b. Chuyện tử nạn của các tử đạo Agaune nhắc lại lời các quân nhân thuộc binh đoàn Thébéens nói với hoàng đế Maximien : “Thưa Thánh thượng, chúng tôi là quân nhân của Ngài nhưng cũng là tôi trung của Thiên Chúa, điều này chúng tôi xin mạnh dạn tuyên bố. Với Ngài chúng tôi có bổn phận phục vụ trong quân đội, với Chúa chúng tôi phải có lương tâm trong trắng … chúng tôi thiết nghĩ tàn sát người vô tôi là một tội ác …” (Phụng vụ bài đọc). Chính việc các ngài từ chối phạm tội ác và giữ lương tâm trong sạch đã đưa họ tới việc tử đạo. Vậy nên, chuyện tử đạo kể tiếp, “họ không nghĩ tới gì ngoài việc tuyên xưng Đấng đã bị dẫn đi giết không lời phản kháng, Đấng, giống như con chiên, không hề mở miệng”.
c. Cử hành lễ các thánh tử đạo Thébéens cũng là đề cao lòng kiên trung trong đức tin và can đảm của các ngài, hợp với Phúc âm và thánh vịnh trong thánh lễ : “… Cho dù cả đoàn quân triển khai trước mặt, hồn tôi không hề sợ hãi (Tv 26) … Các con đừng sợ … Kẻ nào không tuyên xưng Thầy trước mặt loài người , Thầy cũng sẽ không tuyên xưng người đó trước mặt Cha Thầy trên trời”. (Mt 10,28-33).
* * *
Thụy sĩ : Ngày 25.9
Thánh Nicolas De Flue
bổn mạng chính liên bang Thụy sĩ (1417-1487)
Lễ trọng
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Nicolas De Flue sinh năm 1417 tại Flueli, gần Sachseln, tổng Unterwald (Thụy sĩ) trong một gia đình khá giả.
Lập gia đình với Dorothea Wiss, sinh được mười người con. Trong vòng ba mươi năm, ông sống một cuộc sống sung túc trưởng giả, hoạt động chính trị. Là cố vấn quan tòa, thậm chí còn được bầu làm nghị viên Hội đồng chính trị năm 1462, nhưng chán cảnh đảo điên của chính trị và thất vọng trước một vụ án bất công, Nicolas từ giả tất cả chức tước, bước vào một đời ẩn sĩ. Ngày 16 tháng 10 năm 1467, được sự đồng ý của vợ, Nicolas De Flue từ giã các con – đứa nhỏ nhất mười sáu tuần tuổi – tới Alsace, rồi quay lại lang thang trong dãy núi Melchtal (tổng Unterwald) trước khi quyết định sống hẳn trong thung lũng hẹp Ranft thuộc lãnh thổ gia đình. Sống đời cầu nguyện, hãm mình, không đụng tới bất kỳ thực phẩm nào ngoài Mình Thánh, Nicolas ngày càng đón tiếp nhiều khách do bị cuốn hút bởi sự khôn ngoan và thánh thiện của Ngài.
Bruder Klaus (sư huynh Nicolas) -như tên Ngài tự đặt cho mình- giã từ thế gian và chính trị để sống đời ẩn sĩ, thì nay, từ chốn tu ẩn, Ngài lại tạo ảnh hưởng có giá trị quyết định trên đời sống chính trị đất nước.
Năm 1473, sự can thiệp có tính dứt khoát của Ngài trong việc tái tạo hòa bình giữa Thụy Sĩ và Áo quốc, và nhất là từ năm 1478, công tác giải hòa của Ngài đã chấm dứt các cuộc nội chiến đe dọa Liên bang Thụy Sĩ. Vậy nên Nicolas De Flue trở thành một trong các nhà thống nhất Thụy Sĩ ; người ta đã gọi Ngài là “Cha của Tổ quốc”. Ngài qua đời ngày 21 tháng 3 năm 1487. Đã có nhiều phép lạ trên mộ Ngài, danh tiếng Ngài lan khắp Thụy Sĩ, Đức, Pháp, Hà Lan. Năm 1488 đã có một lễ nghi Phụng vụ để tôn kính Ngài, và năm 1587, người ta xúc tiến thủ tục phong thánh trong khi việc tônkính đã được cho phép ở nhiều tổng. Vào chính ngày phong thánh, năm 1947, Đức Giáo Hoàng Piô XII cũng tuyên bố Ngài là bổn mạng Liên bang Thụy sĩ.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Điệp ca mở đầu thánh lễ trích thánh vịnh 54 : Tôi trốn đi nơi xa, cư ngụ chốn hoang mạc … Câu thánh vịnh gợi nhớ đến việc khổ nạn của Chúa đã nung nấu vị thánh vùng Sachseln khi từ nơi tu ẩn, Ngài khuyến khích người dân thành phố Berne : “Anh em hãy mang lấy cuộc khổ nạn Chúa trong tâm hồn, bởi vì đây là an ủi lớn nhất cho con người trong giờ sau hết”. “Thiên Chúa phải luôn được kiếm tìm và yêu mến trên tất cả” đã gợi cho thánh nhân lời cầu nguyện sau đây : “Xin Chúa cất khỏi con những gì làm con xa Chúa. Xin ban cho con những gì con xích lại gần Ngài. Xin vì con, Chúa nhận lấy những gì là của con và ban cho con tất cả những gì là của Chúa”. Quyết tâm từ bỏ tất cả để theo tiếng gọi sống đơn độc và nhờ thế kết hợp hơn với thánh ý Thiên Chúa, thánh Nicolas trong lúc phó thác trọn vẹn cho Chúa, vẫn săn sàng phục vụ anh em mình.
b. Lời nguyện mở đầu giúp chúng ta van xin Chúa, nhờ lời cầu của thánh Nicolas De Flue ban cho “những người hướng dẫn chúng ta có được ánh sáng của ơn Chúa”
Thánh Nicolas De Flue nổi tiếng khôn ngoan là nhờ cầu nguyện và Thánh Thể. Bạn hữu đã xây cho Ngài một nhà nguyện nhỏ thỉnh thoảng có linh mục tới dâng lễ, trao mình thánh cho Ngài mà theo người ta nói, đó là lương thực nuôi sống duy nhất của vị ẩn sĩ thánh thiện. Sự khôn ngoan do thánh nhân trao đổi, “đó là tài sản quí báo nhất nó giúp ta thực hiện mọi sự một cách hoàn hảo tột độ” (thư gửi dân thành phố Berne), du khách đến tìm kiếm nơi thánh nhân các ý kiến, những lời khôn ngoan. “Là nhà thần bí”, cũng là nhà ngoại giao, thánh Nicolas có tài đặc biệt là, từ chốn ẩn mình nơi thung lũng Ranft, Người điều hành phần lớn đường lối chính sách của đất nước Thụy Sĩ trong hậu bán thế kỷ XV. Một sự khôn ngoan ngay thẳng, một tình yêu hòa bình chân thực, một ảnh hưởng tinh thần và nghệ thuật giải quyết các vụ tranh cãi, lòng không tơ vương lợi lộc vốn dính liền vào đó, tất cả đã làm thánh Nicolas là một trong những người giúp đất nước Liên bang duy trì thống nhất (Tự điển Bách khoa Universalis).
c. Bài đọc hai trong thánh lễ trích thư gửi cộng đoàn tín hữu Roma : “Nước Thiên Chúa là công bằng, an hòa và hoan lạc trong Thánh Thần. Người phụng sự Đức Kitô theo cách đó thì làm đẹp lòng Chúa và được nhân loại chấp nhận. Vậy nên chúng ta hãy tìm kiếm những gì góp phần làm an hòa và những gì liên kết chúng ta lại với nhau trong công cuộc xây dựng chung” (14,17-19). Nicolas De Flue trong lúc tìm cách làm đẹp lòng Chúa, đã được loài người chấp nhận khi họ tìm đến với thánh nhân tìm kiếm an bình, tìm kiếm những gì còn thiếu nơi họ hầu liên kết họ lại với nhau cho công việc chung. Vị ẩn sĩ thánh thiện đã viết cho người dân thành phố Berne rằng : “An hòa luôn ở nơi Chúa, vì Chúa là an hòa, và an hòa không thể phá hủy. Bởi thế các bạn hãy duy trì lấy an hòa”
d. Là cha của mười người con, chiến sỹ đồng thời là nông dân, quan tòa, dân biểu, cuối cùng là ẩn sĩ, ngày nay thánh Nicolas vẫn như năm 1482 : “tùng phục là niềm danh vọng lớn lao nhất trên trời cũng như dưới thế. Vậy nên các bạn hãy cố gắng phục tùng nhau. Nhiều kẻ nghi ngờ trong vấn đề đức tin và ma quỉ làm cho nhiều người trong bọn họ bị ngã về vấn đề đức tin đó. Đừng nghi ngờ gì (các chân lý) đức tin, vì đức tin vẫn là đức tin” (thư gửi dân Berne).
* * *
Ngày 26.9
THÁNH COSMA VÀ ĐAMIANÔ
tử đạo (+khoảng 300)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
26 tháng 9 là áp ngày Đức Giáo Hoàng Félix IV (526-530) dâng kính hai thánh Cosma và Đamianô một đại giáo đường ở Nghị trường Roma khi chuyển một đền thờ lương dân thành nhà thờ Kitô giáo. Sách các phép Gélase và Grégoire đều xác nhận ngày này. Ngược lại, ở phương Đông, ngày lễ thay đổi, nơi là một tháng mười một, nơi một tháng bảy, nơi khác mười bảy tháng mười.
Theo truyền thuyết, thánh Cosma và Đamianô tử đạo ở Cyr, gần Alep nước Syrie và khoảng năm 300. Các ngài được sùng kính ở phương Đông từ thế kỷ IV, nhưng sự tôn kính đó nhanh chóng lan sang khu vực Địa Trung Hải và cả phương Tây. Một truyền thuyết Hy Lạp nói các ngài là y sĩ, và người ta đặt cho các ngài cái tên “Anargyres” (không tiền bạc) vì các ngài chữa bệnh không lấy tiền. Théodoret de Cyr khách hành hương thế kỷ IV khẳng định có truyền thuyết đó và có nhắc đến đại giáo đường Cosma và Đamianô. Còn Procope cũng kể rằng Justinien cho xây một đền thờ kính các ngài ở Cyr, trong thế kỷ VI.
Có ba chuyện tử đạo kể về các vị thánh Anargyres này. Một chuyện có nguồn gốc Arập, một chuyện gốc châu Á, kể rằng các ngài sinh tại Égée, miền Cilicie là thành phố được thánh Phaolô truyền đạo cho, sau đó các ngài tới Pergame học tập. Trở về Cyr, các ngài bị giết vì đạo ngày 27 tháng 9 năm 287 do quan tòa Lysias, trong cuộc bách hại của Dioclétien. Truyền thuyết thứ ba có nguồn gốc Roma, chính nhờ truyền thuyết này, tên hai vị được ghi vào phần lễ qui Roma. Thời trung cổ, người ta tôn kính các ngài tại nhiều thành phố thương mại vì nơi đây thường có các trận dịch bệnh. Theo một truyền thuyết, thánh Alfred vào giữa thế kỷ X đã chuyển hài cốt các ngài vào nhà thờ chánh tòa Hildesheim và Essen tại Đức.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện trong ngày ca tụng “sự quan phòng kỳ diệu” của Chúa đã đem đến cho chúng ta sự trợ giúp nhờ lời chuyển cầu của thánh Cosma và Đamianô, được xem là bổn mạng các thầy thuốc và những y tá. Thánh Grégoire de Tours, thế kỷ VI, làm chứng lòng sùng kính hai vị tử đạo “chữa bệnh” này tại xứ Gaule : “Hai anh em y sĩ Cosma và Đamianô đã trở thành Kitô hữu; chỉ nhờ công phúc nhân đức và lời cầu nguyện của các ngài, nhiều bệnh tật đã được xua đuổi. Sau một số cực hình khác nhau, các ngài lại đoàn tụ với nhau trên trời và làm nhiều phép lạ. Nếu có một người bệnh đến mộ các ngài và tin tưởng cầu xin, người đó đã gặp thầy gặp thuốc. Người ta kể các ngài hiện đến với các bệnh nhân trong giấc mộng, cho họ toa thuốc, bệnh nhân cứ thế nghe theo và họ được chữa lành”
(In. Glor.Mart 98).
b. Lời nguyện trên lễ vật nhắc ta về ý nghĩa của lễ hy tế Thánh thể là : “Nguồn mạch và là gương mẫu của mọi cuộc tử đạo”. Quả thế, “Không ai không tiếp đãi khách mời của mình: Đó là điều Chúa đã làm. Chúa là chủ đứng ra mời khách, là thức ăn, của uống. Vậy nên các vị tử đạo đã chú trọng đến những thứ họ ăn uống để nên được bồi bổ nhiều đến thế” (thánh Augustin, bài giảng 329, trong Phụng vụ bài đọc).
c. Lời nguyện tạ lễ có vẻ lấy tư tưởng từ lời đề tựa nơi bức tranh ghép đá màu trong đại giáo đường Cosma và Đamianô ở Roma : “Martyribus Medicis Populo spes certa salutis” (dân chúng hy vọng chắc chắn sẽ được cứu chữa nơi các vị thánh y sĩ tử đạo này). Nên chúng ta cầu xin cho “An ban chúng ta lãnh nhận nhân ngày lễ hai thánh Cosma và Đamianô trở nên thuốc chữa và mang lại cho chúng ta an bình”.
Kỷ niệm cuộc tử đạo của hai thánh “Anargyres” này, chúng ta cũng cầu nguyện cho những người có trách nhiệm trên sức khỏe chúng ta. Đồng thời suy nghỉ những gì viết trong sách Huấn ca về thái độ phải có đối với thầy thuốc và bệnh tật: “ … Hãy tôn trọng thầy thuốc vì mọi người điều cần đến ông … Quả vậy tài chữa bệnh là do Đấng Tối cao … Con ơi, khi đau ốm con chớ coi thường, nhưng hãy cầu xin Đức Chúa, Người sẽ chữa lành cho. Hãy từ bỏ lỗi lầm, thanh tẩy tâm hồn sạch mọi tội khiên … Bấy giờ con hãy mời thầy thuốc đến, vì cả ông nữa cũng đã được Chúa dựng nên” (38,1 ..12).
* * *
Tại Canada, Ngày 26.9
ThánH Jean de Brebeuf và Isaac Jogues, linh mục và các bạn tử đạo,
bổn mạng thứ hai nước Canada
Lễ buộc
(Xem ngày 19 tháng 10)
Theo lời yêu cầu ngày 29 tháng 10 năm 1991 của các giám mục Canada, bộ phụng tự và bí tích đã chấp thuận cho lễ nhớ thánh Jean de Brébeuf và Isaac Jogues, linh mục, cùng các bạn, tử đạo, bổn mạng thứ hai nước Canada được dời từ ngày 19 tháng 10 sang 26 tháng 9 cho riêng Canada.
* * *
Ngày 27.9
Thánh vincent de paul
Linh mục (1581-1669)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Vincent de Paul qua đời ngày 27 tháng 9 năm 1660 tại Paris, được phong thánh năm 1737 và năm 1883 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên bố là bổn mạng tất cả các công việc bác ái.
“Ông Vinh sơn” (Monsieur Vincent) sinh ngày 24 tháng 4 năm 1581 trong một gia đình nông dân ở Pony (nay là Saint-Vincent-de-Paul) miền Landes. Ban đầu đi chăn cừu cho cha, rồi theo học tại trường các cha dòng Phan sinh ở Dax, tiếp đó học đại học ở Toulouse. Sau khi thụ phong linh mục, nhân một cuộc hải trình, Vinh sơn bị bọn cướp biển bắt bị bán cho một thợ luyện kim ở Tunis năm 1605. Được tha, cha Vinh sơn sang Roma (1607) rồi trở về Paris (1609), tại đây cha trở thành cha sở Clichy năm 1612. Chính trong giai đoạn này, cha Vinh sơn qui hồi đổi đời ; chịu ảnh hưởng cha Pierre de Bérulle linh hướng, Vinh sơn khấn tận hiến cho Chúa bằng cách phục vụ người nghèo. Năm 1617, cha được chỉ định làm tuyên úy tại nhà Philippe Emmanuel ở Gondi là vị tướng coi sóc các thuyền Galères của nhà vua. Công việc tuyên úy các tù nhân chèo thuyền và các thủy thủ cũng như linh mục miền quê trên vùng Gondi càng giúp cha thấm thía nổi khổ tinh thần và vật chất của dân chúng. Năm 1619, ngài gặp thánh Francois de Sales và cũng như Pierre de Bérulle, thánh Francois cũng có ảnh hưởng đối với Vinh sơn. Lúc này nhằm tạo hữu hiệu hơn trong việc phục vụ người nghèo, cha tập hợp các “Nữ tỳ người nghèo” đầu tiên (các Nữ Tử Bác ái) và lập cho họ một qui chế. Năm 1625, cha lập Hội dòng các “Linh mục thừa sai” để truyền giáo cho người nghèo, đặc biệt là ở miền quê, và để đào tạo các linh mục tốt theo tinh thần công đồng Trente. Vì được đào tạo tại tu viện Saint-Lazare ở Paris, các thừa sai của cha cũng được gọi là Lazaristes. Tại đây cha Vinh sơn chuẩn bị cho các ứng sinh lên chức linh mục, theo yêu cầu của Đức tổng giám mục Paris. Tiếp theo, được Đức hồng y Richelieu khuyến khích, cha mở thêm các chủng viện dưới sự điều khiển của các linh mục trong dòng, để huấn luyện các chủ chăn tương lai. Năm 1633, với sự trợ giúp của thánh nữ Louise de Marillac, thánh Vinh sơn Phao-lô lập dòng nữ tử bác ái có mục đích phục vụ người nghèo; dòng có một sức bậc phi thường và được phổ biến không gì sánh bằng khắp trên thế giới. Các nữ tu hồi đó mặc y như ở các tỉnh gốc gác của mình và sống trong các giáo xứ nơi họ phục vụ.
Năm 1643, cho Vinh sơn chứng kiến các chết của vua Louis XIII, và nhờ ý kiến của hoàng hậu nhiếp chính là Anne dAutriche, cha được chỉ định làm thành viên Hội đồng lương tâm (cơ quan chỉ định các giám mục) ; nhờ thế cha can thiệp vào các vụ chỉ định giám mục, và cùng với hai linh mục Bérulle và Olier, Ngài xếp cho các giám mục được chỉ định thực sự là những chủ chăn tốt.
Do các dòng tu Ngài thành lập, tình yêu đối với người nghèo và sự thánh thiện linh mục, thánh Vinh sơn thực sự là khuôn mặt sáng giá nhất thế kỷ XVII và là một trong những nhà hoạt động chính trong công cuộc Phục hưng công giáo tại Pháp. Các Thư tín (khoảng hai ngàn thư) và Giáo huấn của Ngài là một nguồn quan trọng cho việc hiểu biết lịch sử dòng tu trong thế kỷ XVII.
Thánh Vinh sơn Phao-lô qua đời ở Paris, thọ tám mươi tuổi, tại nhà Saint – Lazare. Xác Ngài được tôn kính tại nhà nguyện các cha Lazaristes.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện trong ngày nhắc đến các trục chính trong công việc của thánh Vinh-sơn là “giúp đỡ người nghèo và đào tạo linh mục”. Nơi thánh Vinh sơn phục vụ là trọng tâm của việc tông đồ, vì mục tiêu Ngài nhắm trước tiên là “khuyến khích các linh mục, giáo dân và các phụ nữ, giao trách nhiệm cho họ trong một sự phục vụ trọn vẹn những người thấp cổ bé miệng bằng cuộc sống chứng tá Phúc âm và đem cơm áo cho người không cơm ăn áo mặc”. Có thể tóm gọn chương trình của Ngài như sau : “Yêu Chúa thôi, chưa đủ, nếu tôi không thương anh em. Ưu tư, lao tâm khổ trí của tôi chính là người nghèo”. Trong một buổi đàm đạo với các chị Nữ tử Bác ái, vị thánh lập dòng giải thích thế này việc phục vụ người nghèo : “Không phải là bỏ Chúa khi bỏ Chúa vì Chúa, nghĩa là bỏ một công việc Chúa vì một công việc khác… Các chị bỏ nguyện gẫm hay đọc sách, hoặc không giữ im lặng để đi trợ giúp một người nghèo, thì, các chị biết đấy, làm tất cả những điều đó chính là phụng sự Chúa” (phụng vụ và bài đọc). Về vấn đề đào tạo linh mục, thánh Vinh sơn ý thức tính cấp thiết của vấn đề, Ngài nói: “Giáo sỹ hư hỏng là nguyên nhân chính gây nên sa sút trong Giáo hội ; linh mục thế nào thì giáo dân thế đó”.
b. Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh rằng thánh Vinh sơn đã biết “sống phù hợp cuộc đời với các mầu nhiệm thánh Người cử hành”. Quả thật, vị tông đồ xem ơn gọi linh mục chính là sự phục vụ và một sứ mệnh : “ không gì thích hợp với Giáo hội hơn một đàng là thu thập ánh sáng và sức mạnh cho linh hồn mình bằng nguyện gẫm, đọc sách trong cô tịch, để rồi sau đó chia sẻ thứ lương thực tinh thần này cho người khác.”
c. Lời nguyện tạ lễ khuyến khích chúng ta “loan báo Tin Mừng cho người nghèo” theo gương thánh Vinh sơn, Đấng xem Đức Giêsu trước hết là “kẻ rao giảng phúc âm cho người nghèo” (Phụng vụ bài đọc). Công đồng Vatican II nhắc chúng ta rằng ngày nay phát triển kinh tế thường dẫn tới việc khinh dễ người nghèo (Mv 63). Ước mong gương thánh Vinh sơn giúp chúng ta nghe được những tiếng kêu và đáp lại các nhu cầu của họ bằng những phương tiện thích hợp, để tạo dễ dàng khắp nơi cho công bằng, đồng thời thốt lên khắp nơi tình yêu Đức Kitô nơi người nghèo khổ (Mv 90,3).
Ngày 28.9
Thánh venceslas
Tử đạo (khoảng 907 – 929)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Venceslas hay Wenceslas (tiếng Tiệp là Vaclav), quận công Bohême, bị ám sát gần Prague ngày 28 tháng chín năm 929 và ngay tức thì được tôn kính như là tử đạo nơi quê hương mình. Việc tôn kính Ngài lan sang Roma trước thế kỷ XIV. Các chỉ dẫn lịch sử về cuộc đời của thánh nhân là do cuốn chuyện đầu tiên bằng tiếng Slave cổ có cùng thời kỳ đó.
Thánh Venceslas sinh ở Bohême khoảng năm 907, được bà nội là thánh nữ Ludmilla giáo dục theo đường lối Kitô giáo. Lên làm quận công năm 925, Venceslas theo một đường lối chính trị yểm trợ Kitô giáo, sống đời nhiệm nhặt và bác ái giữa một triều đình đầy dẫy tập quán hung bạo, có khuynh hướng đa thần giáo. Khi quân đội Đức của Henry I lOiseleur xâm lăng Bohême, Venceslas buộc lòng phải chấp nhận một nền hoà bình hạ nhục ; người em Boleslas lâu nay vẫn chống đối đường lối chính trị cũng như tôn giáo của Venceslas, có ý định giết anh. Trên đường đến nhà thờ, Venceslas bị giết, thánh tử đạo khi trút thở hơi cuối cùng đã kêu lên : “Lạy Chúa, con phó hồn con trong tay Chúa”. Cuộc tử nạn của vị quận công trẻ tuổi, tốt lành được dân chúng xem là một chứng cứ đức tin đích thực, mộ Ngài nhanh chóng thành trung tâm hành hương. Xác Ngài được tôn kính tại nhà thờ chánh tòa Prague và từ thế kỷ XI, thánh Venceslas được chọn làm thánh bổn mạng xứ Bohême .
2. Thông điệp và tính thời sự
Từ ngày lên ngôi, thánh Venceslas đã luôn chuộng “nước trời hơn nước trần thế” (lời nguyện riêng). Ngài thường dùng thời gian đi thăm các tù nhân và giúp đỡ kẻ đau yếu : “Người thường giúp đỡ kẻ nghèo khó, tặng quần áo cho người thiếu mặc, nuôi người đói ăn, đón tiếp lữ khách, theo lời dạy của Phúc âm. Người không chịu để ai gây nguy hại cho các góa phụ, yêu mến mọi người, giàu cũng như nghèo, phục vụ các tư tế Thiên chúa làm đẹp nhiều nhà thờ” (chuyện đầu tiên bằng cổ Slave; phụng vụ bài đọc). Người ta kể rằng Ngài thường ra chợ Prague để chuộc lại các nô lệ, truyền giáo cho họ và rằng, Ngài không ngần ngại mời các tù nhân đồng bàn, “nhờ thế trả lại cho Giáo hội những đứa con do chính tay Người giải thoát khỏi tay Satan”. Truyền thuyết cũng thường kể rằng nhà vua rất nhân đức và quả cảm trong việc theo đức tin công giáo. Ngày tử nạn, thức dậy sớm đi nguyện kinh mai, Ngài cầu nguyện thế này : “Lạy Chúa con ca ngợi Chúa đã ban cho con sống đến sáng hôm nay”. Với những kẻ thù lương dân bách hại Ngài, một ngày kia Ngài kêu lên : “ Bọn chó má, tại sao chúng mày ngăn cản tao học lề luật Chúa và vâng theo các giới răn Chúa ? Nếu Chúa làm chúng mày khó chịu, cớ sao ngăn người khác làm điều đó ? phần tao, vì đã thoát được chúng mày, tao không thèm nghe theo chúng mày và chỉ muốn phụng sự thiên Chúa hết tâm hồn tao thôi”.
Người ta kể rằng thánh Venceslas cai trị bằng lòng nhân từ nên được dân chúng cũng như Giáo hội yêu mến. Giáo hội, qua nhiều thế kỷ, đã dâng kính Ngài nhiều nơi sùng kính, đặc biệt là nhà thờ chánh tòa Cracovie.
* * *
Cùng Ngày 28.9
THÁNH LAURENT RUIZ VÀ CÁC BẠN
Tử đạo (tử đạo trong thời kỳ từ 1633 đến 1637)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Mười sáu vị tử đạo là thành viên hoặc có liên hệ với dòng Đa-minh, đã đổ máu đào tại Nagasaki (Nhật bản) trong khoảng từ 1633 đến 1637. Các ngài được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước tại Manila năm 1981 và phong thánh ngày 18 tháng mười năm 1987. Lễ kính các ngài được đưa vào niên lịch phụng vụ Roma năm 1988.
Lorenzo Ruiz là chủ gia đình, sinh tại Manila (Phi-lip-pin), cha người Tây Ban Nha, mẹ Philippin. Lorenzo được xem là đứng đầu trong số các vị tử đạo này
Các ngài tuổi tác cũng như địa vị khác nhau : hai tu sỹ, hai nữ tu, ba giáo dân trong đó có Lorenzo Ruiz, và bảy linh mục, trong đó có vị trưởng giáo đoàn, linh mục Antoine Gonzales dòng Đa minh và linh mục Guillaume Courtet người Pháp. Tất cả các ngài đã góp phần vào công cuộc truyền giáo ở Đài Loan, Philippin và quần đảo Nhật bản
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện trong ngày ca ngợi sự “kiên trì” của các thánh Lorenzo và các bạn tử đạo, trong việc phụng vụ Chúa và tha nhân
Vào đầu thế kỷ XVII, một phong trào truyền giáo mạnh mẽ được thực hiện tại châu Á chủ yếu do các tu sỹ Dòng Tên. Chính để đáp ứng phong trào truyền giáo này, thánh Lorenzo Ruiz và các bạn đã quyết định sang Nhật, mặc dầu nước này vào cuối thế kỷ XVI đã có khoảng ba trăm ngàn tín hữu nhưng cũng trục xuất người ngoại quốc và bôi nhọ Kitô giáo. Bị một trận bão đẩy tới Okinawa, Lorenzo và các bạn bị bắt, xét xử và kết án tử hình. Sau khi bị tra tấn mang rợ, cuối cùng các ngài bị hành quyết.
Đáp ca của bài đọc tiểu sử trình bày các vị như thế này : “Mắt huớng về Đức Kitô, các ngài đã đổ máu mình vì Chúa. Cùng chung tâm hồn, chung đức tin, các ngài đã bắt chước Chúa trong cái chết của mình”.
Gương thánh Lorenzo và các bạn nhắc nhở chúng ta rằng “là Kitô hữu, tức là phải dâng chính bản thân mỗi ngày đền đáp ân huệ Đức Giêsu đã đến trong thế gian để mỗi người được sống, sống dồi dào” (Gioan Phaolô II trong Phụng vụ bài đọc). Chính vì thế thánh Lorenzo đã trả lời trước tòa : “Cho dẫu tôi có cả ngàn cuộc sống, tôi cũng dâng hiến tất cả … Điều tôi ao ước chính là được chết vì Chúa”.
* * *
Ngày 29.9
CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN
MICHEL, GABRIEL RAPHAEL
Lễ trọng
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Trước cải tổ phụng vụ vừa rồi, các tổng lãnh thiên thần Michel, Gabriel và Raphael được mừng kính lần lượt vào các ngày 29 tháng chín, 24 tháng 3 và 24 tháng mười, hiện thời cùng mừng chung ngày 29 tháng chín, ngày kỷ niệm lễ cung hiến một đại giáo đường kính thánh Michel ở thế kỷ IV, trong một miền quê Roma nhưng ngày nay không còn. Việc tôn kính các tổng lãnh thiên thần Michel, Gabriel và Raphael đã được Công đồng Latran năm 745 chấp thuận, dưới sự chủ tọa của Đức giáo hoàng Zacharie. Và thế là người ta phân biệt các ngài với các thiên thần chỉ có tên trong các “ngụy thư” được tôn kính ở phương Đông là Uriel, Salathiel, Jébudiel và Barachiel.
Michel (trong tiếng Do thái là Mikael, “ai bằng Thiên Chúa?”) được nhắc đến trong sách Đaniel (10,13.21; 12,1) thư Giuđa (1,9), còn sách Khải Huyền (12,7 …) mô tả cuộc chiến do tổng lãnh thiên thần Michel và các tổng lãnh Thiên thần chống lại con Rồng và các thiên thần của nó.
“Con Mãng xà … mà người ta gọi là ma quỉ hay Satan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ, nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống cùng nó” (12,9).
Việc tôn kính thánh Michel được phát triển trên núi Gargan miền Pouilles (Italia) từ thế kỷ XI, đặc biệt sau lần người Lombards chiến thắng Sarrasins trong thế kỷ XII, gần Siponto mà người ta nói là nhờ sự bảo vệ của tổng lãnh thiên thần Michel. Tu viện nổi tiếng trên núi Saint-Michel ở Pháp là một trung tâm phát triển lòng sùng kính thánh Michel và, từ năm 966, sau khi có các tu sỹ Biển đức đến tại đây, nhà dòng trở thành một trong những trung tâm hành hương nổi tiếng nhất.
Gabriel (tiếng Do thái Gabriel, “người của Chúa”, hoặc “Chúa là sức mạnh của tôi”) là tên riêng gọi một thiên thần xuất hiện lần đầu tiên trong sách Đanien (8,16 ; 9,21) trong một sứ vụ thiên thần truyền tin. Trong Tân ước, Gabriel là sứ giả được Chúa sai (Lc 1,19.26) loan báo việc Gioan tẩy giả sinh ra (Lc 1,11 – 20) và báo việc Đức Giêsu sinh ra từ Mẹ đồng trinh (Lc 1,26 – 28 ). Được tôn kính là tổng lãnh thiên thần từ thế kỷ II, thánh Gabriel được Giáo hội Syrie xem là đứng đầu các thiên thần.
Raphael (tiếng Do thái Repael, “Thiên Chúa chữa lành”) là tên một thiên thần chỉ xuất hiện trong sách Tobia (3,17). Raphael đồng hành với Tobia, giúp công việc thành công (5,12s), chửa Tobia cha hết mù, cứu Sara khỏi tay ma quỉ. Raphael là một trong 7 thiên thần đứng trước vinh quang Chúa (12,15), dâng lên Chúa lời cùng của những người thánh thiện cũng như việc lành của họ.
2. Thông điệp và tính thời sự
Các lời nguyện và kinh tiền tụng trong sách lễ minh họa sứ mệnh của các “sứ giả này được sai điw phục vụ điều thiện hảo cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ” (Dt 1,14).
a. Lời nguyện trong ngày nói đến chức năng các thiên thần ở trần gian là bảo vệ con người và, trên trời, luôn phụng sự trước mặt Chúa. cùng với các vị khác, thánh Michel là Đấng bảo vệ dân được Chúa chọn (Đn 10,13.21; 12,1) . Thư Giuđa nói rằng thánh Michel bàn cãi và tranh luận với quỉ về thi hài ông Môsê (1,9).
Chức năng của các thiên thần cũng được minh họa bằng bài giảng của thánh Grégoire Cả trong phụng vụ bài đọc, thánh nhân nói rằng chính tên các Ngài nói lên chức năng của mình : “Các ngài chỉ là thiên thần khi đưa tin. Người ta gọi là thiên thần những vị đưa tin ít quan trọng và tổng lãnh thiên thần các vị báo những biến cố quan trọng hơn”.
b. Lời nguyện trên lễ vật đề cao một khía cạnh khác trong sứ mệnh các thiên thần là trung gian giữa thiên Chúa với loài người. Chính vì các ngài mang lễ hy tế tạ ơn lên trước vinh quanh Thiên Chúa. Vì thế lễ qui Roma giúp chúng ta cầu nguyện: “Xin thiên thần mang lễ vật hiến tế lên trước bàn thờ vinh quang Chúa …”. Truyền thống tin rằng các thiên thần vẫn liên kết với con người trong việc thờ phượng Chúa (xem Kh 8,3 –5).
c. Lời nguyện tạ lễ nhấn mạnh ý nghĩa của thánh thể là lương thực đi đường cho người tín hữu, được tiên báo qua chiếc bánh ngôn sứ Êlia nhận được từ thiên thần và nâng đỡ ông tới núi Hô-rép (1 V 19,5).
Sau hết, lễ các tổng lãnh thiên thần Micael, Gabriel và Raphael nhắc chúng ta rằng phụng vụ trần thế của chúng ta liên kết với phụng vụ các thiên thần cử hành trên trời : “Cùng với muôn vàn thần thánh thờ phụng Chúa trên trời qua Đức Kitô Chúa chúng con, chúng con ca ngợi Chúa dưới trần gian này…” (kinh tiền tụng lễ hôm nay). Chính là trước mặt Chúa Giêsu đó, Đấng chúng ta tuyên xưng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết rằng “các thiên thần thán phục” (kinh tiền tụng 1 lễ Chúa thăng thiên).
* * *
Ngày 30.9
Thánh jérôme (Hiêrônimô)
Linh mục, tiến sĩ Hội thánh
(kh. 340 – 419 hoặc 420)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Jérôme qua đời tại Bethléem ngày 30 tháng chín năm 419 hoặc 420. Lễ kính Ngài đã khá phổ biến ở Gaule trong thế kỷ VIII, sau đó lan khắp phương Tây (thế kỷ IX – X).
Eusebius Hieronimus Sophronius sinh khoảng năm 340 tại Stridon, gần trên giới Dalmatie, trong một gia đình Kitô giáo, sung túc. Đến Roma, Jérôme theo học trường của nhà tu từ nổi tiếng Donatius và vì rất mê say văn chương cổ điển, Jérôme đã tạo cho mình một thư viện phong phú. Được Đức giáo hoàng Libère (352-366) rửa tội cho, Jérôme lưu lại Trèves ít lâu, sau đó tới Aquilée ; tại đây Jérôme có ấn tượng về lòng đạo đức của các giáo sĩ thành phố. Khoảng năm 372, Jérôme sang phương Đông, đến Antiochia thì ngã bệnh. Trong bức thư (nổi tiếng) gữi Eustochium, Jérôme kể lại trường hợp lương tâm Kitô giáo của ông bị mê hoặc theo văn chương đời, vì, trong một thị kiến, thiên Chúa xét xử đã nói với Jérôme rằng : “ Người là đệ tử Cicéron, chứ không phải môn đệ Kitô…”. Lúc bấy giờ Jérôme rút vào hoang mạc Chalcis (Syrie), nơi đây có nhiều nhà khổ tu ; tại đây ông học tiếng Hébreu. Sau đó ông trở lại Antiochia, thụ phong linh mục, rồi đến Constantinople (380-381), tiếp tục học khoa chú giải với thánh Apollinaire de Laodicée và thánh Grégoire de Naziance, dịch các bài giảng của Origène từ tiếng hy lạp và cuốn Chronique của Eusèbe de Césarée. Năm 382, Jérôme tháp tùng Paulin dAntioche và Epiphane de Salamine dự công đồng chung Roma. Jérôme được đánh giá là chuyên viên giỏi. Ngài ở lại Roma, được chỉ định làm cố vấn cho Đức giáo hoàng Damase ; Đức Damase giao cho Ngài xem lại bản văn la tinh các sách Phúc âm và Thánh vịnh. Đồng thời, Ngài làm linh hướng cho nhiều phu nhân trong giới quí tộc như Marcella, Paula, Eustochium …
Sau khi Đức giáo hoàng Damase qua đời, Ngài trở thành nạn nhân của một nhóm tố cáo Ngài qúa cứng rắn trong các yêu sách về dòng khổ tu và quá mới mẽ trong các công trình về Kinh Thánh. Thánh nhân từ giả Roma, xuống tàu trở lại phương Đông. Ngài đi viếng Palestine, thăm Ai-cập và hoang mạc Nitrie (Hạ Ai Cập), vùng có nhiều thầy khổ tu sinh sống. Tại Alexandria, Ngài tham vấn nhà thần học trứ danh là Didyme Mù. Sau hết, Ngài đến Bethléem và ở đây cho đến khi qua đời. Tại đây thánh nhân có thể toàn tâm toàn ý hoàn tất bản dịch kinh thánh từ tiếng Hy lạp (bản Septuaginta) và từ Hébreu (phần lớn Cựu Ước). Trong các tác phẩm lịch sử của thánh nhân, ngoài các tác phẩm khác, có thể kể De viris illustribus (Những con người lừng danh) là bản tổng kết quí báu bốn thế kỷ văn chương Kitô giáo. Cũng cần nhắc đến lượng thư từ đồ sộ Ngài viết, từ mẫu giấy nhỏ đến cả thiên luận thuyết quan trọng, hiện giờ chúng ta còn lưu giữ được trên một trăm hai mươi thư.
Jérôme cũng là một nhà bút chiến dữ dội và đáng gờm. Năm 383, Ngài từng phản bác Helpidius phủ nhận sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria. Sau đó, Ngài tấn công Vigilance để bênh vực việc tôn kính các vị tử đạo và một số tập quán trong đời tu dòng. Trong cuộc tranh luận lâu dài về Origène (393-402), thánh Jérôme chống lại Rufin và Jean, giám mục Jérusalem. Những năm cuối đời Ngài gặp nhiều chuyện buồn : các đồ đệ và bạn hữu qua đời ; quân man di xâm chiếm, đốt phá các tu viện. Cuối cùng Ngài qua đời ở Bethléem, thọ tám mươi tuổi. Bethléem là nơi Ngài từng lao động trí tuệ và đền tội suốt ba mươi lăm năm cuối đời.
Thánh Jérôme là một trong những vị thánh thường được nhiều ảnh tượng công giáo ghi khắc, khi là một hối nhân nơi hoang mạc (Lorenzo Lotto, Louvre; Rubens, Dresde; Van Dyck, Dresde; L.Giordano, Madrid …), khi là một tiến sỹ Hội thánh hay một hồng y, đôi khi có thêm một con sư tử mà Ngài từng nhổ cái gai ở chân cho (Durer, Petit Palais, Paris).
2. Thông điệp và tính thời sự
Ba lời nguyện trong thánh lễ nhấn mạnh các công phúc của thánh Jérôme, một trong các tiến sỹ lớn của Giáo hội phương Tây
a. Lời nguyện trong ngày đệ đạt lên Chúa là Đấng đã ban cho thánh Jérôme “được thưởng thức hương vị của thánh kinh và sống tinh thần Kinh Thánh một cách mãnh liệt”. Công trình lớn của Ngài là duyệt xét có phê phán bộ Kinh Thánh đã dịch sang tiếng La tinh (Bản Vulgata) và giải thích trong bộ chú giải. Bản Vulgata dựa trên những bản dịch La tinh cổ (Vetus Itala), nhưng cũng dựa trên các bản gốc bằng tiếng Do thái và Hy lạp. Bản này được xem là bản dịch chính thức của Giáo hội công giáo và sẽ được công nhận là bản đích thực có giá trị, do công đồng Trente năm 1546.
Phụng vụ bài đọc nhắc lại câu nói trứ danh của thánh Jérôme : “Kẻ nào không nhận thức đúng thánh kinh thì cũng không nhận thức đúng quyền năng và sự khôn ngoan Thiên Chúa : không hề biết thánh kinh, tức không biết Đức Kitô” (chú giải sách Isaia, lời dẫn).
b. Lời nguyện trên lễ vật thúc giục chúng ta đón nhận lời Chúa noi gương thánh Jérôme , để “chúng ta được mau mắn dâng lễ hy sinh cứu rỗi”. Quả thực bàn tiệc lời Chúa đi trước bàn tiệc thánh thể (xem PV51). Thánh Jérôme trọn đời miệt mài với thánh kinh. Trong bài giảng về thánh vịnh 41, thánh nhân nhắc nhở các tân tòng : “Giờ đây anh em đã mặc lấy Đức Kitô, anh em đi theo sự hướng dẫn của chúng tôi, giống như những chú cá nhỏ bơi theo mồi, anh em hãy để lời Chúa cứu anh em khỏi các đợt sóng thế gian này”. Lời Chúa đó khi “được đọc và giải thích dưới ánh sáng của Chúa thánh thần Đấng đã soi rọi hầu viết ra nó (MK 12) là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi, xuyên thấu tận đáy tâm hồn … (DT 4,12).
* * *




