MỘT VÀI QUY TẮC KHI SOẠN LỜI NGUYỆN CHUNG
I. Lịch sử và tên gọi
Trước nay chúng ta quen gọi những lời gợi ý cầu nguyện sau Tin Mừng hay bài giảng trong thánh lễ là lời nguyện giáo dân, hay lời nguyện chung cho mọi người.
Những lời nguyện này đóng một vai trò quan trọng trong việc canh tân phụng vụ của Công Đồng Vatican II. Để hiểu ý nghĩa sâu xa của lời nguyện này, và để chuẩn bị các lời nguyện này trong cử hành thánh lễ cho đúng quy cách, chúng ta cùng nhau tìm hiểu việc hình thành lời nguyện này và ý muốn canh tân của Hội Thánh.
Thực vậy, khi Công Đồng Vatican II tái lập những lời nguyện này trong cử hành thánh lễ hiện nay, Công Đồng không đưa ra một điều mới lạ, nhưng chỉ làm sống lại cách thực hành đã có từ những thế kỷ đầu của Giáo Hội. ( Pierre TOURNIER, la Prière universelle, trong cuốn Dans vos assemblées sous la direction de J. GELINEAU, volume 2, Desclée, 1989, tr 438..)
Thánh Hip-pô-li-tô trong cuốn Truyền Thống Tông Đồ (Tradition Apostolique / thế kỷ 3) cho biết những lời nguyện này là phần dành riêng cho các tín hữu, những người đã được rửa tội. Vào thời Ngài, những người dự tòng không được tham dự vào lời nguyện giáo dân(Prière des fidèles), họ sẽ ra về sau cử hành Lời Chúa và lời nguyện giáo dân mang đúng nghĩa của từ : là lời nguyện của người giáo dân, của người đã được rửa tội chứ không phải của nguời còn đang trong thời kỳ học đạo; nó thuộc thành phần của cử hành phụng vụ, nó kết thúc phụng vụ Lời Chúa và mở đầu phụng vụ Thánh Thể là phần chỉ dành cho người kitô hữu. Thánh Hip-pô-li-tô viết:
“(Sau khi các dự tòng đã nhận phép thánh tẩy)…Từ nay, họ sẽ cầu nguyện với Dân Chúa, bởi vì họ không cầu nguyện với các tín hữu trước khi nhận phép thánh tẩy. Sau khi đã cầu nguyện rồi, họ trao cho nhau hôn bình an. Kế đó người ta sẽ dâng lễ vật cho giám mục qua vị phó tế, giám mục sẽ dâng lời tạ ơn trên bánh để trở nên Thân Thể Đức Kitô, và trên chén rượu đã được hòa nước để trở nên Máu Ngài đã đổ ra cho tất cả những ai tin vào Ngài…”
(Saint HIPPOLYTE, La Tradition Apostolique, bản dịch của B. BOTTE, Cerf 1968, số 21.)
Có thể nói, thuở ban đầu lời nguyện giáo dân là hành động phụng vụ thuộc về Dân Kitô giáo, là phần đặc trưng nói lên phận vụ cao qúy của người Kitô hữu, nơi đó họ thực hiện chức vụ tư tế của mình mà cầu cho hết mọi người, điều này được Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rô-ma 1975 tái khẳng định. (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rô-ma, ấn bản mẫu thứ hai 1975, số 45).
Để hiểu hành động phụng vụ này trong tiến trình canh tân phụng vụ hiện nay, chúng ta cần tìm hiểu lời nguyện giáo dân đã được sắp xếp thế nào trong thời kỳ đầu của Giáo Hội?
Quả thực, chúng ta biết có nhiều giáo huấn về những lời nguyện cho mọi người trong Tân Ước như 1Tm 2,1:
«Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh»
(Những trích dẫn Kinh Thánh trong bài viết này được rút từ bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng), Vụ., hoặc trong giáo huấn của các giáo phụ như thư thánh giáo hoàng Clê-men-tê I gởi cho giáo đoàn Cô-rin-tô, thánh Giút-ti-nô trong tác phẩm Hộ Giáo ( Apologie ).
Mặc dù vậy, các tài liệu này cũng chỉ cho biết việc thực hành lời nguyện này đã có trong Hội Thánh, nhưng không cho biết cụ thể cách sắp xếp các lời nguyện ra sao; cho đến thế kỷ thứ IV bên Đông phương, chúng ta biết lời nguyện này mang hình thức kinh cầu (litanie) do một phó tế xướng các ý nguyện, sau mỗi ý nguyện cộng đoàn Dân Chúa đáp bằng một công thức cố định dâng lên Chúa Kitô: Kyrie eleison.
Dựa theo những lời nguyện này, chúng ta biết những lời nguyện ban đầu bên Đông Phương được dâng trực tiếp lên Chúa Kitô. Trong khi đó ở bên Tây phương vào thế kỷ thứ V, xuất hiện lời nguyện mà phụng vụ Rô-ma hiện đang duy trì vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh: phó tế xướng lên một ý nguyện, cộng đoàn thinh lặng đôi chút, chủ tế lấy lại ý nguyện vừa được phó tế gợi lên trong lời cầu xin của mình, sau cùng cộng đoàn đáp lại: Amen.
Nội dung của các lời nguyện này thật phong phú, chúng là những lời cầu cho Giáo Hội, cho các nhà cầm quyền, cho mọi nhu cầu của nhân loại, và đã trở nên lời nguyện chung cổ kính và súc tích nhất của Hội Thánh hiện đang được bảo tồn.
Thế rồi không hiểu vì lý do gì lời nguyện chung dần dần bị sao lãng trong phụng vụ Rô-ma, người ta không thấy dấu vết của nó ngay trong tập Sacramentaire léonien (tập Nghi thức các bí tích của giáo hoàng Lê-ô ) vào giữa thế kỷ thứ VI.
Sự mai một về lời nguyện này kéo dài khá lâu trong phụng vụ Rô-ma, cho đến khi Công Đồng Vatican II tái lập kinh nguyện này lại trong thánh lễ. Quả thực, nội dung kinh nguyện này thật đa dạng, nó là lời nguyện cho tất cả nhu cầu của con người. Giáo Hội mang trong lời cầu của mình toàn thể thao thức của nhân loại, vì thế không có gì liên hệ đến con người lại trở nên xa lạ trong lời cầu của Hội Thánh.
Mặc dù thuở ban đầu kinh nguyện này là phần dành riêng cho các kitô hữu, nhưng khi canh tân phụng vụ, Công Đồng Vatican II không muốn phân biệt đây là kinh dành riêng cho các tín hữu như một thực thể biệt lập với chủ tế; hay biệt lập với kinh nguyện của các anh em dự tòng. Vậy để hiểu ý Công Đồng chúng ta cần nghiên cứu kỹ lại bản văn:
Phải tái lập “lời nguyện chung” ( Oratio communis ) hay “lời nguyện giáo dân” (fidelium ) sau phúc âm và bài giảng, nhất là những ngày chúa nhật và lễ buộc, để khi dân chúng tham dự lời nguyện đó, họ cầu khẩn cho Hội Thánh, cho các nhà cầm quyền, cho những kẻ khốn khổ vì mọi nhu cầu, cho tất cả mọi người, và cho phần rỗi của toàn thế giới Vatican II, (Hiến chế về Phụng vụ, số 53, bàn dịch việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt, 1972).
Như vậy theo số 53 của Hiến Chế về Phụng Vụ, Công Đồng dùng hai cụm từ “Oratio communis” và “ fidelium” bổ túc cho nhau. Cụm từ “Oratio communis – lời nguyện chung” diễn tả đặc tính của lời nguyện này, đó là lời nguyện chung của cộng đoàn phụng vụ, của Hội Thánh chứ không phải lời nguyện riêng tư của ai.
Đó cũng là lời nguyện cho các nhu cầu chung của Hội Thánh và thế giới, như thế người ta cũng có thể gọi đó là lời nguyện phổ quát ( prière universelle ) vì bao gồm mọi của nhu cầu chung của Giáo Hội và nhân loại. Trong khi đó, từ ngữ “fidelium – của giáo dân” diễn tả tính truyền thống của lời nguyện, nó phát xuất từ lời nguyện của giáo dân thời xưa đã bị mai một theo thời gian, và điều này cho thấy lời nguyện chung không phải là một sáng kiến mới được thêm vào trong phụng vụ canh tân của Công Đồng Vatican II.
Chính bản văn của Công Đồng xác định điều đó – restituatur / phải tái lập lời nguyện chung hay lời nguyện giáo dân. Công Đồng dùng từ ngữ “lời nguyện chung” để xác định tên gọi lời kinh cần được tái lập, và để soi sáng cho lời kinh đó phát xuất từ đâu, Công Đồng thêm “seu fidelium – hay là (lời nguyện ) của giáo dân” để cho biết nguồn gốc của lời kinh trong truyền thống cần được phục hồi.
Chúng ta nhận thấy nơi số 53 của Hiến Chế, Công Đồng dùng hai kiểu nói oratio communis và fidelium để bổ túc cho nhau, trong khi đó nơi số 54 liền sau đấy, khi nói về sự thích nghi ngôn ngữ địa phương trong cử hành phụng vụ thì Công Đồng chỉ dùng một cụm từ lời nguyện chung – oratione communi để chỉ kinh nguyện này.
Điều đó cho thấy trong cách hiểu thời nay của Hội Thánh, lời nguyện sau Tin Mừng không chỉ dành cho giáo dân mà là của chung toàn thể cộng đoàn.
Chúng ta cũng lưu ý cách gọi “ lời nguyện giáo dân” theo nghĩa đen của từ có thể gây hiểu lầm, vì cho rằng đây là lời kinh dành cho giáo dân chứ không phải của chủ tế, vì vậy người ta sẽ chú tâm vào việc riêng của giáo dân, còn những việc khác của chủ tế để chủ tế lo.
Một cách nào đó người ta đã tách rời tính duy nhất của cử hành phụng vụ: trong phụng vụ không một cử hành nào mang tính cá nhân riêng lẻ, tất cả thuộc về cộng đoàn và của Giáo Hội, dù rằng mỗi người có phận vụ riêng trong từng hành động phụng vụ.
Dựa theo những phân tích trên, thiết tưởng chúng ta nên coi lại cách gọi, thay vì gọi “ lời nguyện giáo dân” chúng ta nên gọi “lời nguyện chung” hay “ lời nguyện phổ quát” hay “ lời nguyện cho mọi người”. Những cách gọi này vừa diễn tả đầy đủ ý nghĩa của truyền thống, vừa nói lên tính phổ quát của kinh nguyện Kitô giáo trong việc canh tân phụng vụ hiện nay.
II. Ý nghĩa của lời nguyện chung
Để hiểu ý nghĩa của lời nguyện chung, chúng ta dựa trên những chỉ dẫn trong Quy Chế Tổng Quát về Sách lễ Rô-ma số 45:
Những ý nguyện thường là:
· Cho các nhu cầu của Hội Thánh;
· Cho các người trong chính quyền và cho toàn thế giới được ơn cứu độ;
· Cho các người đang gặp bất cứ khó khăn nào;
· Cho cộng đoàn địa phương.
Nhưng trong một buổi cử hành đặc biệt nào đó, như là thêm sức, hôn phối, an táng, thì thứ tự ý nguyện có thể dành ưu tiên cho trường hợp đặc biệt đó.
Dựa vào giáo huấn của Công Đồng và những chỉ dẫn của Sách Lễ Rô-ma, chúng ta cùng đào sâu ý nghĩa thần học của các lời nguyện chung:
1. Ý nghĩa lời cầu cho Giáo Hội và Thế Giới:
Lời cầu của Kitô giáo không bị đóng khung trong thế giới cá nhân, nó mở đến mọi nhu cầu của Cộng đoàn Giáo Hội và thế giới, nếu người ta cầu nguyện cho từng cá nhân hay từng trường hợp đặc biệt nào thì điều đó cũng không ngoài lợi ích chung của Giáo hội và cộng đồng nhân loại.
Quan điểm ích kỷ và vụ lợi cá nhân không có chỗ đứng trong lời kinh của Hội Thánh. Hơn nữa, khi cầu nguyện người ta cũng không tách rời Giáo Hội và Thế Giới như hai thực thể biệt lập: Giáo Hội không như một đối tượng hiện hữu kề cận và song hành với Thế Giới, trái lại Giáo Hội mang trong mình khát vọng của nhân loại và “nhập thể” trong Thế Giới này.
Lời cầu nguyện cho Giáo Hội và Thế Giới mang hai chiều kích cơ bản sau đây:
a/ Các nhu cầu của Giáo Hội không nằm ngoài sự thăng tiến của nhân loại và các nhu cầu của Thế Giới không đi ngoài tiến trình viên mãn của Nước Thiên Chúa. Khi nói đến lời nguyện cho các nhu cầu của Giáo Hội và Thế Giới là chúng ta nhắm đến con người như đối tượng trung tâm của ơn cứu độ. Tất cả hành vi cứu độ của Thiên Chúa đối với con người trong không gian và thời gian; hôm qua hôm nay và ngày mai cấu tạo nên lịch sử cứu độ. Lời cầu cho Giáo Hội và Thế Giới là làm cho lịch sử cứu độ này tiến triển trong thánh ý Thiên Chúa, nghĩa là làm cho Nước Chúa trở viên mãn. Khi cầu cho Giáo Hội và Thế Giới là chúng ta mang trong lời nguyện tất cả những gì liên quan đến con người, đến gía trị cứu độ cánh chung và đến sự viên mãn của Nước ấy.
b/ Không thể tách rời nhu cầu của Giáo Hội như những giá trị thiêng thánh, còn nhu cầu của Thế Giới như những giá trị vật chất thực dụng. Chúng ta không thể giữ thái độ nhị nguyên trong lời cầu của chúng ta bằng cách tách rời một bên là trần thế một bên là linh thánh, nhưng cần nối kết cả hai thành một tương quan hiện sinh trong mỗi lời cầu của chúng ta. Điều này có nghĩa là tại mỗi môi trường sống, mỗi Giáo Hội địa phương, hay mỗi thời có những nhu cầu khác nhau, người ta phải biết đọc ra các nhu cầu đó trong từng thời đại và phải biết nối kết chúng trong một tổng thể duy nhất của lịch sử cứu độ. Tính hiện sinh của lời cầu không cho phép chúng ta vay mượn cách máy móc các công thức có sẵn, hoặc cầu nguyện cách chung chung hoặc chỉ nêu lên các ý tưởng mơ hồ.
2. Tính phổ quát của lời nguyện chung
Lời nguyện chung không phải là lời nguyện mà mỗi người muốn tự soạn và áp đặt thế nào cũng được cho cộng đoàn. Người ta không thể nấp bóng việc Giáo Hội cho phép soạn thảo lời nguyện chung, để tự đề cao hay nhắc đến người này người kia như những trường hợp đặc thù chả liên hệ gì đến cộng đoàn.
Tính phổ quát của lời nguyện chung không những liên hệ tới mọi nhu cầu của con người, mà còn đặt con người ở đây, hoàn cảnh này trong tương quan với những anh em khác, nghĩa là trong tính phổ quát của lời nguyện người ta phải lưu ý đến cả hai khía cạnh: mỗi con người (chacun) và tất cả (tous).
Không thể nói đến tập thể hay con người cách chung chung, cũng không thể tách biệt cá nhân với cộng đoàn, vì vậy trước hoàn cảnh của một người hay của một nhóm người cụ thể đang chịu cảnh bất công, điều này phải dẫn lời nguyện của chúng ta đến tất cả những người đang trong cùng cảnh ngộ; nói cách khác, lời nguyện sẽ dẫn chúng ta đi từ hoàn cảnh cụ thể đến sự hiệp thông phổ quát.
Tuy nhiên chúng ta cũng lưu ý nguy cơ đơn giản hoá tính phổ quát của lời nguyện chung, khi chúng ta chỉ dừng lại sự liên đới nhân vị hay những tương quan quốc tế trong các vấn đề nhân sinh. Coi chừng chúng ta sẽ biến lời nguyện thành bản thông tin báo chí với lời kêu gọi liên đới nhân bản; điều đó đi lệch ý nghĩa của lời nguyện chung; trái lại cần đặt các vấn đề con người trong tương quan với mầu nhiệm Chúa Kitô. Chúa Kitô là điểm quy chiếu phổ quát của các vấn đề nhân sinh. Lời nguyện của chúng ta vừa mang giá trị khi tháp nhập vào Ngài, vừa tìm được lời giải đáp thích đáng khi được mầu nhiệm Ngài soi chiếu.
Đàng khác, chúng ta cần đặt tính phổ quát của lời nguyện chung trong tính phổ quát của Hội Thánh (catholicité de lEglise). Mầu nhiệm phổ quát của Giáo Hội bám rễ sâu trong mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đức Kitô. Thực vậy, cộng đoàn phụng vụ họp nhau không phải chỉ để thông tin về các biến cố để rồi cùng chia sẻ các biến cố đó với con người thời đại, trái lại cộng đoàn cử hành mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, để hiện tại hóa mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Ngài.
Việc cử hành này không chỉ báo trước ngày Quang Lâm của Ngài trong vinh quang, nhưng còn là một thực tại hiện hữu (réalité présente), nghĩa là Đức Kitô đã mang trong mình Ngài thân phận của chúng ta hôm nay và
Ngài đã chiến thắng sự yếu đuối của thân phận đó rồi, vì vậy lời nguyện chung phải được đặt trong tương quan mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, để mọi thao thức và nhu cầu của nhân loại được mang ý nghĩa trọn vẹn.
3. Lời nguyện chung là lời cầu của Dân tư tế
Chúng ta đã biết rằng lời nguyện chung có nguồn gốc từ lời nguyện giáo dân trong thời kỳ đầu của Giáo Hội, đó là lời cầu của những người đã chịu phép Thánh Tẩy, của Dân được chọn chứ không phải của những người đang học đạo.
Vì thế cần dành cho người giáo dân vị trí xứng đáng trong khi soạn thảo, lúc cử hành và sự tham dự tích cực vào lời nguyện chung. Không nên biến lời nguyện chung thành lời nguyện riêng của hàng giáo sỹ hay của bất cứ nhóm người nào tách biệt với cộng đoàn Dân Chúa.
Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rô-ma số 45 xác định phẩm chức tư tế của Dân Chúa khi dâng lời nguyện chung. Chức tư tế này được liên kết mật thiết với chức tư tế của Đức Kitô và được bảo đảm bởi bí tích Thánh Tẩy. Qua Thánh tẩy, người kitô hữu được tháp nhập vào Thân Thể Đức Kitô, họ kiến tạo nên một Dân Mới, Dân tư tế của Thiên Chúa. Vì thế khi người kitô hữu họp nhau để cử hành Thánh Thể, chính là lúc Mầu Nhiệm Thân Thể Đức Kitô được thể hiện cách hữu hình để thực hiện chức năng tư tế của Ngài. (Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ, số 7, bản dịch việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt, 1972)
Chúng ta cần gây ý thức nơi Dân Chúa phẩm chức tư tế cao quý này. Khi cộng đoàn phụng vụ tập họp chính là lúc Đức Kitô tập họp chúng ta, để trong Ngài chúng ta dâng lên Chúa Cha lời cầu cho mọi người. Vì vậy khi cộng đoàn phụng vụ cầu nguyện là Chúa Kitô hiện tại hóa chức tư tế thánh thiện của Ngài bởi và trong Thân Thể sống động của Ngài là các kitô hữu.
4. Lời nguyện chung là bản lề giữa phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể
Xét theo vị trí của lời nguyện chung trong cử hành phụng vụ, chúng ta thấy lời nguyện chung mang hai vai trò sau đây: Trước hết có thể coi lời nguyện này nằm trong phụng vụ Lời Chúa, và ở vị trí này tự nó cũng đủ ý nghĩa, tức là không nhất thiết theo sau lời nguyện chung phải có cử hành Thánh Thể.
Trong trường hợp này, lời nguyện chung được coi như phần kết thúc của buổi cử hành phụng vụ Lời Chúa. Trường hợp thứ hai phổ biến hơn khi lời nguyện chung được đặt trong Thánh Lễ, lúc này nó trở nên bản lề giữa Bàn Tiệc Lời Chúa và Bàn Tiệc Thánh Thể.
+ Trong trường hợp thứ nhất, lời nguyện chung như lời đáp trả và nguyện xin của Dân Thiên Chúa sau khi đã nghe Lời Người. Trong phụng vụ Lời Chúa có hai lúc cộng đoàn đáp lại sau khi nghe Lời Chúa: các thánh vịnh sau các bài đọc và các lời nguyện chung sau bài Tin Mừng hay bài giảng.
Theo Quy Chế Tổng Quát về Sách lễ Rô-ma, các thánh vịnh được sắp xếp sao cho phù hợp với các bài đọc, vì thế việc lựa chọn thánh vịnh tùy thuộc các bài đọc. (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, ấn bản mẫu thứ hai 1975, số 36); và như vậy, lời đáp của cộng đoàn sau khi nghe Sách Thánh được trích từ Thánh vịnh hay các bản văn Kinh Thánh, đó không phải là bản văn được sáng tạo.
Trong khi đó, lời nguyện chung là phần được soạn thảo cho các nhu cầu của mọi người, cho từng hoàn cảnh của mỗi cộng đoàn địa phương, và là một trong những phần được dự liệu để chúng ta sáng tác theo nhu cầu hiện tại. Chúng ta cũng cần lưu ý: trong một thánh lễ có thể có nhiều thánh vịnh khi có nhiều bài đọc, sau mỗi bài đọc là một thánh vịnh, ví dụ phụng vụ Lời Chúa Đêm Phục Sinh; trái lại chúng ta chỉ có một lần đọc lời nguyện chung sau Tin Mừng hay bài giảng.
Lời nguyện chung này là lời đáp lại Chúa nói bằng chính ngôn ngữ của thời đại chúng ta, bằng việc cầu cho Giáo Hội và Thế Giới hôm nay trong ánh sáng của Lời Chúa và mầu nhiệm được cử hành trong ngày hôm đó.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng, lời nguyện chung không phải chỉ là những công thức để đáp lại Lời Chúa được lắng nghe trong cử hành phụng vụ mà thôi; nhưng chính Lời Chúa còn biến đổi các thực tại của nhân loại qua những con người tham dự phụng vụ. Không bao giờ chúng ta được phép đóng khung Lời Chúa chỉ trong phụng vụ; lời nguyện chung là cụ thể hóa các nhu cầu con người dưới ánh sáng Lời Chúa, nhưng Thiên Chúa cũng đòi chúng ta cộng tác, để công trình cứu độ của Người được tỏ hiện trong thế giới hôm nay.
+ Trong trường hợp thứ hai, lời nguyện chung là bản lề giữa phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể. Trong cử hành Thánh Lễ, lời nguyện chung vừa kết thúc phụng vụ Lời Chúa, vừa dẫn cộng đoàn vào hiến lễ của Đức Kitô trong phụng vụ Thánh Thể. Là điểm tới và điểm dẫn nhập, lời nguyện chung vừa là tiếng nài van cho mọi nhu cầu con người vừa là lời cầu của Hội Thánh được liên kết với lời cầu của Đức Kitô trong hiến lễ thập giá.
Chúng ta cũng thấy mối tương quan chặt chẽ giữa lời nguyện chung và các lời chuyển cầu trong kinh Tạ Ơn. Khi các lời nguyện chung được thay đổi theo từng hoàn cảnh của cử hành phụng vụ, thì các lời chuyển cầu trong kinh Tạ Ơn luôn cố định. Các lời nguyện chung diễn tả sự liên đới của Giáo Hội với mọi nhu cầu con người, trong khi đó các lời cầu trong kinh Tạ Ơn biểu lộ sự hiệp thông các thánh của toàn thể Giáo Hội.
Các lời nguyện chung chuẩn bị chúng ta bước vào cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, còn các lời cầu trong kinh Tạ Ơn là đỉnh cao hoàn tất các lời nguyện xin đi trước của chúng ta. Mặc dù cố định, trong mọi lời cầu của kinh Tạ Ơn đều nhắc đến người sống và kẻ chết, đến sự hiệp thông của Giáo Hội lữ hành với các phẩm trật trong Hội Thánh, và đến sự hiệp thông giữa Giáo Hội thiên quốc, lữ hành và thanh luyện.
Chúng ta cũng biết Vinh tụng ca kết thúc kinh Tạ Ơn và lời chuyển cầu: Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời. Cộng đoàn thưa: Amen.
Vinh tụng ca này là điểm quy chiếu cho bất cứ kinh nguyện kitô giáo nào, và lời nguyện chung cũng phải hướng về điểm quy chiếu đó: Chúa Cha là nguồn mạch và cùng đích của tất cả phụng vụ kitô giáo, đồng thời lời cầu nguyện của chúng ta thật sự có hiệu lực và đẹp lòng Chúa Cha khi được liên kết với Đức Kitô, và hơn nữa, chúng ta không thể nào cầu nguyện cho xứng hợp nếu Thánh Thần không nâng đỡ và tác động trong chúng ta tâm tình của những người con Thiên Chúa.
III. Áp Dụng thực hành
Để lời nguyện chung được soạn thảo và cử hành theo đúng quy cách, chúng ta cùng nhau tìm hiểu những chỉ dẫn của Giáo Hội.
1. Những điều cần phải giữ:
a/ Thừa tác viên:
Các thừa tác viên của lời nguyện chung là chủ tế, người xướng ý nguyện và cộng đoàn phụng vụ. Thông thường vị chủ tế sẽ mời gọi mọi người cầu nguyện và ngài sẽ đọc lời nguyện kết thúc trong lời nguyện chung.(Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rô-ma, ấn bản mẫu thứ hai 1975, số 47).
Vị chủ tế làm công việc này vì Ngài đóng vai trò chủ tọa cộng đoàn phụng vụ, do đó không nên dành phần riêng của vị chủ tọa cho người khác. Cần có một phó tế, và khi không có phó tế thì một người tín hữu đã được chuẩn bị trước sẽ xướng các ý nguyện.
Chúng ta nên biết rằng việc xướng các ý nguyện thuộc về chức năng của phó tế trong cử hành phụng vụ, điều này được Giáo Hội trong những thế kỷ đầu rất trân trọng, ngày nay nếu Giáo Hội cho phép người tín hữu xướng các ý nguyện điều đó không có nghĩa là phó tế và người tín hữu đều làm một việc như nhau.
Vì vậy không thể để người tín hữu nào đó dành việc của vị phó tế, khi vị này đang hiện diện và có khả năng giúp cộng đoàn. Tuy nhiên, do nhu cầu mục vụ mà không có phó tế, nếu mỗi ý nguyện được chuẩn bị cho một đối tượng nào đó của cộng đoàn, thì người ta cũng có thể để mỗi ý nguyện được xướng lên bởi một người khác.
Nhưng thông thường nếu không là trường hợp đặc biệt, thì nên để một người xướng các ý nguyện và sau mỗi ý nguyện được nêu lên, toàn thể cộng đoàn sẽ đáp lại bằng một điệp khúc chung hay giữ thinh lặng.
b/ Lời nguyện chung được dâng lên cho ai ?
Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rô-ma không xác định rõ về điểm này, tuy nhiên theo truyền thống cổ kính trong Giáo Hội, thì lời nguyện của vị chủ tế thường quy hướng về Chúa Cha bởi Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.
Trong khi đó những ý nguyện nêu lên thường là lời kêu xin trực tiếp lên Chúa Kitô: Kyrie eleison – Lạy Chúa, xin thương xót chúng con. Trong thực tế, chúng ta cũng có thể dâng các ý nguyện lên Chúa Cha, nhưng phải luôn luôn ăn khớp giữa các ý nguyện và câu đáp cùng dâng lên Chúa Cha. Phải tránh hết sức ý nguyện thì dâng lên Chúa Cha, còn lời đáp lại dâng lên Chúa Kitô hay ngược lại.
Tóm lại, lời nguyện kết thúc của chủ tế thường được quy hướng về Chúa Cha, còn các ý nguyện có thể dâng lên Chúa Cha hay Chúa Kitô, miễn sao câu xướng và lời đáp phải hợp với vị đó, còn lời mở đầu thì dẫn sao để người xướng có thể hướng các ý nguyện cho thống nhất . Phải tránh thần hóa Đức Maria hay các thánh như là những vị tự quyền có thể ban ơn cho ta. Những kiểu nói: xin Đức Mẹ ban cho chúng con… xin thánh Quan Thầy ban cho…không nên xử dụng trong việc soạn các ý nguyện chung, nhưng chúng ta có thể nêu lên những nhân đức cao qúy của các Ngài, gương đời sống trung kiên, lời chuyển cầu hiệu lực, để rồi nài xin Chúa Kitô hay Chúa Cha ban cho chúng ta các ơn lành qua lời cầu bầu của các ngài.
c/ Các hình thức của lời nguyện chung:
+ Hình thức thông thường gồm: lời dẫn nhập của chủ tế, các ý nguyện với câu đáp chung cho từng ý nguyện, và lời cầu kết thúc của chủ tế. Chúng ta đừng lẫn lộn cấu trúc và nội dung của lời dẫn, ý nguyện và lời cầu kết thúc.
Lời dẫn thường là tư tưởng chính của cử hành hôm đó, ví dụ nhân dịp lễ quan thày, lễ khánh thành nhà thờ, lễ kỹ niệm hôn phối…rồi từ tư tưởng chính đó xin Chúa Cha hay Chúa Kitô lắng nghe các lời nguyện xin sau đây…Còn các ý nguyện ( intentiones ) phải phân biệt với lời cầu kết thúc (oratio), nghĩa là trong các ý nguyện người ta chỉ nêu lên các nhu cầu, rồi xin Chúa ban ơn, hoặc dẫn chứng một câu Kinh Thánh, một lý do dịp lễ, một ý nguyện cần thiết rồi mời gọi cộng đoàn cầu nguyện bằng một câu đáp chung, phù hợp với các ý nguyện nêu lên.
Câu đáp này có thể thay đổi sao cho phong phú, chứ không nhất thiết lúc nào cũng “ Xin Chúa nhậm lời chúng con!”. Còn lời cầu của chủ tế thường bắt đầu bằng việc kêu cầu danh Thiên Chúa, chẳng hạn: Lạy Thiên Chúa là Cha; Lạy Cha rất nhân từ; Lạy Chúa là Đấng vô thuỷ vô chung…, vì thế nếu trong các ý nguyện đi trước mà chúng ta cũng kêu cầu các danh Thiên Chúa rồi nêu lên ý xin, có thể sẽ làm lu mờ lời cầu kết thúc của chủ tế, hoặc sẽ biến ý nguyện thành lời cầu nguyện, và như vậy sẽ đi lệch ý nghĩa của lời nguyện chung.
+ Hình thức long trọng theo mẫu các lời cầu của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh gồm: lời kêu mời để dẫn vào ý nguyện, cộng đoàn thinh lặng và lời cầu của vị chủ tế. Trong hình thức long trọng này, mỗi ý nguyện đều gồm ba động tác: lời dẫn, thinh lặng và lời cầu của chủ tế.
+ Hình thức kinh cầu ( litanie ) là cách cầu nguyện phổ thông mà Giáo Hội thường dùng trong những thế kỷ đầu. Đó là những lời kêu cầu ngắn về những phẩm tính của Thiên Chúa hay những lời tôn vinh về lòng thương xót của Đức Kitô; sau mỗi lời kêu cầu là lời đáp với một công thức cố định ngắn chẳng hạn: Kyrie eleison. Hình thức kinh cầu cũng gồm ba phần: lời dẫn, các ý nguyện dưới dạng kinh cầu và lời nguyện kết của chủ tế.
2. Soạn thảo lời nguyện chung
a/ Giai đoạn chuẩn bị:
Có ba nguồn tư liệu để giúp ta có tư tưởng soạn lời nguyện chung: Lời Chúa của buổi cử hành phụng vụ hôm đó, các biến cố đang xảy ra trong Giáo Hội và Thế giới, và đời sống hiện tại của cộng đoàn.
b/ Giai đoạn soạn thảo:
Trước hết cần nắm vững các nguyên tắc nêu trong phần trên ( những điều cần phải giữ ); kế đến phải biết rằng các ý nguyện được soạn để đọc cho người khác nghe chứ họ không có bản văn trong tay, do đó các câu văn cần ngắn, súc tích, dễ hiểu, cần tránh tối đa các mệnh đề phụ, vì hai mệnh đề độc lập vẫn dễ cho người nghe hơn là một mệnh đề phức hợp. Hơn nữa, khi soạn lời nguyện chung cần lưu ý những điểm sau đây:
– Đừng cầu nguyện chung chung cũng đừng chơi chữ bóng bảy;
– Đừng lên lớp dạy đời và đừng biến ý nguyện thành các diễn văn;
– Tránh cho các bài học luân lý và các ý tưởng trừu tượng;
– Tránh đề cao cá nhân mà quên đi chiều kích phổ quát của ý nguyện;
– Tránh thái độ ươn lười chỉ biết dùng những bản văn có sẵn cách máy móc;
– Không nên khoán trắng cho một người soạn ý nguyện nhưng biết cộng tác và cùng làm việc chung;
– Không nên soạn qúa nhiều ý nguyện mà chỉ là những công thức cứng nhắc, cần lưu ý đến hoàn cảnh cụ thể của cộng đoàn và của buổi lễ đặc biệt hôm đó.
– Biết nối kết giữa lời tạ ơn với lời kêu xin;
– Biết tạo ra những điểm dừng trong ý nguyện, bởi vì một ý nguyện không có chấm phảy, người ta phải đọc một hơi mới hết ý, thì làm sao có thể nội tâm hóa người nghe.
– Biết tham khảo và gợi hứng từ các lời cầu được soạn trong Kinh Sáng và Kinh Chiều của Phụng vụ Giờ Kinh.
c/ Giai đoạn thực thi:
– Phải luôn ý thức lời nguyện chung là để cầu nguyện và để giúp người khác cầu nguyện, do đó người đọc các ý nguyện cần phải chuẩn bị trước, đọc sao cho rõ ràng, chậm rãi, cung giọng của lời cầu chứ không phải của nhà hùng biện hay thuyết giảng. Cần tránh hết sức làm cho xong chuyện, hay đến phút chót mới chỉ người này người kia lên đọc. Khi đọc không nên vội vàng, khi lời đáp của cộng đoàn chưa dứt đừng đọc ý nguyện tiếp theo.
– Người xướng các ý nguyện phải lưu ý đến cách đọc để làm sao cộng đoàn có thể bắt vào được lời đáp. Có khi người đọc chỉ biết đọc mà chẳng lưu tâm gì đến cộng đoàn sẽ phải đáp lại lời xướng của mình, do đó nhiều khi người xướng một cung, cộng đoàn đáp một nẻo. Cũng có thể thay vì đọc lời đáp, cộng đoàn sẽ hát lời đáp đó, trong trường hợp này âm nhạc sẽ đóng vai trò trung gian để giúp cộng đoàn hát cho nhịp nhàng.
– Đang khi cầu nguyện phải tuyệt đối tránh đi đi lại lại trên cung thánh, nghĩa là nếu phó tế hay bất cứ người nào được chỉ định đọc các ý nguyện, thì cần phải đến vị trí của mình sẽ đọc ý nguyện trước khi chủ tế đọc lời dẫn. Nếu có nhiều người đọc các ý nguyện thì cũng phải đến sẵn ở vị trí của mình, trong trường hợp này cũng không nên thay đổi vị trí của từng người khi đến phiên mình đọc. Những người đọc các ý nguyện chỉ được phép đi xuống sau khi chủ tế đọc xong lời nguyện kết thúc. Một nguyên tắc căn bản của cử hành phụng vụ là: đang khi người nào đó đọc lời nguyện thì những người khác không được phép di chuyển trên cung thánh.
– Người xướng các ý nguyện sẽ đứng ở đâu ? Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rô-ma số 272: “ Tại giảng đài sẽ đọc các bài đọc, thánh vịnh đáp ca và bài công bố Tin Mừng Phục Sinh. Cũng tại đó có thể giảng và đọc lời nguyện cho mọi người, tức là lời nguyện các tín hữu ”. Vậy khi chỉ có một người xướng các ý nguyện, thì người đó có thể đứng tại giảng đài để dẫn ý cho cộng đoàn. Tuy nhiên, cũng Quy Chế Tổng Quát số 132: “ Sau lời nói mở đầu của linh mục, thầy phó tế sẽ xướng các ý nguyện của lời nguyện cho mọi người ở giảng đài hoặc ở một nơi khác thuận tiện”. Giáo Hội không bắt buộc bất cứ ai hễ đọc lời nguyện chung thì phải lên giảng đài, vấn đề quan trọng là ý nguyện được lắng nghe rõ ràng và giúp cộng đoàn cầu nguyện đích thực, do đó không nên qúa quan trọng chỗ đứng của những người đọc các ý nguyện, cần sắp cho họ một vị trí nào đó thuận tiện hoặc ở cung thánh hoặc ngoài cung thánh.
– Không nên sáng tạo liều lĩnh khi phối hợp lời nguyện chung với các lời chuyển cầu trong kinh Tạ Ơn. Không bao giờ được thêm bớt hay thay đổi những gì không được dự liệu trong kinh Tạ Ơn, trong đó các lời chuyển cầu giữ một vị trí quan trọng. Cũng không nên đem lời nguyện chung vào sau phần hiệp lễ, vì lúc này dành riêng để thinh lặng cám ơn hay cộng đoàn hát bài thánh ca ngợi khen về ơn Bí Tích vừa lãnh nhận. Chỗ nào việc đó. Lời nguyện chung là lời cầu cho mọi nhu cầu của Giáo Hội và thế giới, nó xứng đáng đứng trong phần phụng vụ Lời Chúa; còn giây phút thinh lặng hay hát thánh ca sau hiệp lễ là để tạ ơn vì Lương Thực Thần Linh vừa lãnh nhận. Không nên lẫn lộn cả hai.
IV. Lời Kết:
Trong việc canh tân phụng vụ của Công Đồng Vativan II, việc tái lập lời nguyện chung trong cử hành thánh lễ cho thấy Giáo Hội quan tâm đến thế giới và con người. Trong hiến lễ của Đức Kitô, Ngài đã mang tất cả thân phận nhân loại, chỉ trừ tội lỗi, để rồi đem cho thân phận ấy chiến thắng cuối cùng bởi sự Phục Sinh của Ngài. Trong lời nguyện chung, Giáo Hội cũng mang trong mình thao thức của nhân loại để dâng lên Thiên Chúa Cha xin Người thánh hóa và ban ơn cho nhân loại. Lời nguyện chung vừa biểu lộ đức tin của Hội Thánh, vừa bày tỏ sự liên đới của Dân Chúa trong ý định cứu độ của Thiên Chúa với thế giới và con người hôm nay.
Lm. Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ
Tài liệu tham khảo
1/ Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng vụ, bản La- tinh và bản dịch Pháp ngữ trong G. ALBERIGO, Les Conciles oecuméniques – Les Decrets, de Trente à Vatican II, tome 2**, Cerf 1994. Bản dịch Việt ngữ trong Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt, Thánh Công Đồng chung Vaticanô II, 1972.
2/ Hội Đồng thực thi Hiến chế về Phụng vụ, Huấn thị Inter OEcumenici, ngày 26 tháng 09 năm 1964, bản dịch Pháp ngữ trong Bernard MARLIANGEAS, La Liturgie – Constitution conciliaire et directives dapplications de la réforme liturgique, Ed. du Centurion, 1965. Bản dịch Anh ngữ trong International Commission on English in the Liturgy, Documents on the Liturgy 1963-1979 – Conciliar, Papal and Curial texts, The Liturgical Press, 1982.
3/ CONSILIUM, The universal Prayer or Prayer of the faithful, 1st ed. pro manuscripto, 13 january 1965; 2nd ed. 17 april 1966: Vatican Polyglot Press, 1966. Bản dịch Anh ngữ trong International Commission on English in the Liturgy, Documents on the Liturgy 1963-1979 – Conciliar, Papal and Curial texts, The Liturgical Press, 1982.
4/ Sách Lễ Rô-ma, ấn bản mẫu La-tinh thứ hai 1975, Quy chế tổng quát, bản dịch Việt ngữ trong Sách Lễ Rô-ma Việt ngữ 1992.
5/ Jean-Louis ANGUÉ, Le devenir de la prière universelle, trong tạp chí phụng vụ La Maison-Dieu, số 192, Cerf 1992, tr 45 – 60
6/ Paul DE CLERCK, lIntelligence de la liturgie, Cerf 1995.
7/ Paul DE CLERCK, Les prières dintercession. Les rapports entre Orient et Occident, trong tạp chí phụng vụ La Maison-Dieu, số 183/184, Cerf 1990, tr 171 – 189
8/ Robert CABIÉ, la Prière universelle, trong lEucharistie, vol. 2 dans lEglise en prière, sous la direction de A.G.MARTIMORT, Desclée 1983, tr 86-92 .
9/ Henri DENIS, la Prière universelle, trong tạp chí phụng vụ La Maison-Dieu, số 84, Cerf 1965, tr 140 – 165.
10/ Saint HIPPOLYTE, La Tradition apostolique, bản dịch Pháp ngữ của B. BOTTE, Cerf 1968.




