Phụng Vụ Chư Thánh – Theo lịch Phụng Vụ Rôma
Tác giả: ENZO LODI
Nhóm dịch: Linh Mục hạt Xóm Chiếu
THÁNG MƯỜI HAI
Ngày 3.12
THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ
Linh mục (1506-1552)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Phanxicô Xaviê qua đời ngày 3 tháng 12 năm 1552 trên tiểu đảo Thượng Xương, ngoài khơi bờ biển Quảng Đông (Trung Quốc). Ngài được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV phong thánh cùng thời với thánh Ignatiô Loyola, năm 1622, được ghi tên vào lịch Rôma năm 1623 và được tuyên phong là bổn mạng Ấn Độ và các nước Viễn Đông năm 1748. Năm 1927, ngài được Đức Giáo Hoàng Piô XI tuyên phong là bổn mạng các xứ truyền giáo, cùng với thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu.
Ngài tên thật là Francesco de Jassu, gọi là Javier, sinh tại lâu đài Navarre (Tây Ban Nha). Ngài là con thứ sáu trong gia đình. Cha ngài đậu bằng tiến sĩ luật và phục vụ cho vị lãnh chúa người Pháp Jean dAlbert. Mười tám tuổi, ngài sang học tại Paris và trở thành giáo sư triết học và thần học. Mười năm sau, năm 1534, ngài từ bỏ nghề giảng dạy trong Giáo Hội và gia nhập nhóm người sau này sẽ trở thành những vị sáng lập Dòng Tên, cùng với thánh Ignatiô Loyola và Pierre Favre người xứ Savoie. Ngày 15 tháng 8, lễ Đức Mẹ Lên Trời, trước phần mộ của thánh Denis ở Montmartre, Phanxicô Xaviê cùng với Ignati Loyola, Pierre Favre và bốn người bạn tuyên thệ sống nghèo khó và thanh khiết, rồi cùng lên đường đi Đất Thánh để cải hoá dân ngoại. Sau chặng dừng chân ở Venise –tại đây Phanxicô được thụ phong linh mục– vì không thể lên tàu đi Palestina (Venise đang lâm chiến với người Thổ), nên bảy người bạn đi tới Rôma để phục vụ Đức giáo hoàng.
Năm 1541, Xaviê được Ignatiô cử đi truyền giáo ở miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha, thay thế một hội viên đang bị bệnh không thể đi được. Thế là ngày 6 tháng 5 năm 1542, sau một năm hành trình, Phanxicô cập bến Goa (Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha) trong tư cách khâm mạng và đặc sứ của Đức giáo hoàng. Mười một năm truyền giáo rất sôi động đang chờ đợi ngài : dạy gáo lý, rửa tội, chăm sóc bệnh nhân, xét xử… Nhiều cộng đoàn Kitô hữu được thiết lập, cùng với nhiều trường học, chủng viện được mở khắp nơi.
Những lá thư thánh Phanxicô Xaviê viết cho thánh Ignatiô được phổ biến trên báo chí đã làm cả châu Âu phấn khởi trước công cuộc truyền giáo. Chúng ta có thể theo dõi những lộ trình của ngài như sau : từ Goa đến Travancore (nam Ấn Độ), rồi lại trở về Goa, trước khi đi qua Cochin (Kerala), rồi đến Tuticorin (cực nam). Năm 1545, ngài rời Ấn Độ để qua Malacca (Mã Lai), tại đây lần đầu tiên ngài gặp những người Nhật Bản, rồi ngài đi đến quần đảo Moluques (quần đảo của Inđônêxia). Tại đảo này, cho tới hôm nay, chúng ta vẫn còn gặp được những cộng đoàn Kitô giáo phồn thịnh đã từng được chính thánh Phan-xi-cô Xaviê rao giảng Tin Mừng lần đầu tiên.
Khao khát mang đức tin Kitô đến mọi nơi, ngày 15 tháng 8 năm 1549 ngài đi tàu đến Kagoshima (đảo Kyushu), Nhật Bản. Năm 1551, một cộng đoàn Kitô giáo nhỏ bé được lập ở Yamaguchi. Các nhà thông thái Nhật Bản khuyên ngài : “Hãy bắt đầu chinh phục Trung Hoa”. Thế là ngài rời Nhật Bản, quay trở lại Goa để chuẩn bị một phái đoàn đến hoàng đế Trung Hoa. Được sự giới thiệu của một vị phó vương, và nhờ các thương gia châu Âu giúp đỡ, ngài thành công đặt chân lên đảo nhỏ Sơn Trang, nằm ngoài khơi tỉnh Quảng Đông. Mùa đông vừa bắt đầu, nhà truyền giáo vĩ đại bị kiệt lực vì các cơn sốt và đã qua đời ngay lúc ngài sắp sửa đặt chân lên lục địa ở sát bên cạnh. Ngài tắt thở trong khi cầu khẩn Chúa Ba Ngôi, danh thánh Chúa Giêsu và Đức Mẹ, tay cầm một cây nến. Ngài chỉ mới bốn mươi sáu tuổi. Trong mười một năm tám tháng truyền giáo, bằng những phương tiện của thời ấy, ngài đã đi khoảng tám mươi ngàn kilô mét, chỉ với một mục đích duy nhất là rao giảng Tin Mừng và thiết lập Hội Thánh.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời Nguyện của ngày làm nổi bật việc rao giảng của thánh Phanxicô Xaviê, người đã kêu gọi biết bao dân tộc phương Đông đến với Tin Mừng. Trong mười hai năm làm tông đồ, rảo bước trên nhiều đất nước, ngài đã viết lên một trong những trang hùng ca truyền giáo đẹp nhất. Xác tín việc rao giảng Tin Mừng là công việc của Thiên Chúa hơn là của chúng ta, ngài trước tiên lo lắng “gieo trồng” Giáo Hội bằng một hoạt động nhắm tới cái cốt yếu : dạy những chân lý cơ bản của đức tin chúng ta, những giới răn, những kinh nguyện “cổ điển”. . . Ngài giải tội hàng giờ và rửa tội cho vô số người. Ngài tự nhủ, điều quan trọng lúc ban đầu là mở một con đường cho Tin Mừng. Vì thế trong một thư gửi thánh Ignatiô, ngài viết : “Từ khi con tới đây, con không bao giờ dừng chân : con chủ động rảo qua khắp các làng mạc, rửa tội cho tất cả những trẻ em chưa chịu phép rửa. Con cũng đã tái sinh cho vô vàn thơ nhi mà người ta thường nói là chưa biết phân biệt tay phải với tay trái.” Còn các trẻ em đi theo ngài để ngài dạy đọc kinh, ngài không bao giờ xua đuổi : “…bằng cách bắt đầu việc tuyên xưng Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, con dạy cho chúng Kinh Tin Kính, Lạy Cha, và Kính Mừng.”
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng hoạt động tông đồ của thánh Phanxicô Xaviê phát sinh từ đời sống cầu nguyện và mở lòng với Thiên Chúa : “Con cầu nguyện liên ly – ngài viết – để xin Chúa ban cho con nghe được thánh ý Người, với quyết tâm vững vàng thực hiện thánh ý Chúa.” Đứng trước ngưỡng cửa của Trung Hoa, ngài lặp đi lặp lại : “Lạy Chúa Giêsu, Con vua Đavít, xin thương xót con. Xin thương tha tội con.” Và ngài nói tiếp : “Lạy Mẹ Đồng Trinh, Mẹ Thiên Chúa, xin nhớ đến con!”
b. Cũng trong Lời Nguyện của ngày, chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta, “cho mọi người đã được rửa tội, có cùng một lòng nhiệt thành truyền giáo” như thánh Phanxicô Xaviê, để Hội Thánh “khắp nơi được hân hoan đón nhận thêm nhiều con cái.” Lời cầu này của Hội Thánh hình như là âm vang lời ước mà vị thánh truyền giáo đã diễn tả với thánh Ignatiô : “Trong nước này, còn có biết bao người chưa trở thành Kitô hữu, chỉ vì hôm nay không có ai làm cho họ trở thành Kitô hữu.Con rất thường có ý tưởng đến khắp các trường đại học ở châu Âu, và trước tiên là ở Paris, để kêu gào một cách điên dại : “Trời ơi, biết bao linh hồn không được lên thiên đàng, phải sa xuống hoả ngục, vì lỗi của anh em !” Xúc động vì ý tưởng này, nhiều người trong số họ. . .sẽ tự nhủ : “Lạy Chúa, con đây ; Chúa muốn con làm gì ? Xin hãy sai con đi bất cứ đâu, thậm chí tới Ấn Độ.”
c. Ở Paris, thánh Ignatiô đã cố gắng cải hóa chàng sinh viên trẻ tuổi Xaviê bằng các nói đi nói lại với anh : “Con người được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì có ích gì ?” Và thế là Phanxicô Xaviê, không chỉ vì lo cứu rỗi linh hồn mình cho bằng “bị lôi kéo đi khắp các miền xa xăm vì lòng hăng say muốn cứu rỗi mọi người” (Lời Nguyện trên lễ vật), nên đã dấn thân hoàn toàn cho việc rao giảng Tin Mừng, “để giao hòa thế giới, mang theo điều duy nhất là tình yêu” (Xướng đáp Giờ Kinh Sách).
Ngài viết cho một người bạn : “Trong giấc mơ, tôi trông thấy những gì tôi phải chịu vì vinh quang Chúa Giêsu Kitô : trước mắt tôi là những hải đảo hoang vu, những miền đất man rợ báo trước cho tôi cảnh đói khát, chết chóc dưới muôn vàn hình thức…. Lúc đó tôi bắt đầu la lên : Nhiều hơn nữa, lạy Chúa, nhiều hơn nữa !” Vì thế Lời nguyện riêng của Dòng Tên cầu xin Chúa thế này : “Chúa đã đốt lên trong lòng thánh Phanxicô Xaviê ngọn lửa bác ái và nhiệt thành đối với các linh hồn. Không sợ hiểm nguy, nhọc mệt và đau khổ, thánh nhân đã loan báo Tin Mừng cho các nước, để biến họ thành những phần tử của Dân Chúa.” (Kinh Tiền Tụng). Ước gì “lò lửa tình yêu” nơi thánh Phanxicô bị thiêu đốt vì phần rỗi các linh hồn (Lời Nguyện sau hiệp lễ) được nhóm lên nơi mỗi người Kitô hữu, để đến lượt mình, chúng ta có thể “sống chứng nhân cho Tin Mừng, để được sớm đến với Chúa cùng đông đảo các anh em mình” (Lời nguyện trên lễ vật).
* * *
Ngày 4.12
THÁNH JEAN DAMASCÈNE
Linh mục và tiến sĩ Hội Thánh (khoảng 650-750)
Lễ buộc
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ nhớ thánh Jean Damascène được mừng vào ngày Giáo Hội Byzantin cử hành lễ an táng ngài, diễn ra trong tu viện Thánh Sabas, gần Giêrusalem, có lẽ là ngày 4 tháng 12 năm 750. Lễ nhớ này được đưa vào lịch Rôma năm 1890. Trước cuộc cải cách phụng vụ, lễ này được mừng ngày 27 tháng 3, là ngày kỷ niệm Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên phong thánh Jean Damascène làm tiến sĩ Hội Thánh.
Ngài sinh ở Đamas khoảng năm 650, trong một gia đình Ả Rập theo Kitô giáo. Ngài còn có tên là Mansour giống như tên ông nội ngài, một viên chức cao cấp trong triều đình. Khi cha mất, ngài thay cha trông coi công việc tài chính của hoàng cung. Nhưng đến năm 710, ngài lui về sống đời đan tu trong tu viện Thánh Sabas, một loại tu viện-pháo đài nằm giữa Bethlehem và Giêrusalem. Được thụ phong linh mục do giáo chủ Giêrusalem là Đức Gioan V, từ đó ngài chỉ chuyên chăm cầu nguyện, rao giảng và viết các tác phẩm thần học, cho tới khi ngài đột ngột qua đời tại tu viện Thánh Sabas khoảng năm 750, hưởng thọ khoảng một trăm tuổi. Ít năm sau, công đồng bài trừ ảnh tượng (iconoclaste) năm 754 ra vạ tuyệt thông cho ngài, nhưng về sau ngài sẽ được phục hồi ở Công đồng chung thứ bảy, năm 787.
Công lao to lớn của thánh Jean Damascène là đã bảo vệ việc tôn kính ảnh tượng chống lại hoàng đế Byzantin là Lêô III người Isaurien (717-740), là người đã liên minh với phe bài bác ảnh tượng thánh để phát động cuộc tranh luận về Ảnh tượng thánh (726). Ngài cũng đã anh dũng đối đầu với hoàng tử kế vị Lêô III là Constantinô V. Ba Luận văn Hộ giáo (726-730) của ngài là một sự biện hộ hùng hồn cho việc tôn kính ảnh tượng và chứng tỏ cho thế giới Kitô giáo thấy tài năng của một nhà thần học và nhà hộ giáo lỗi lạc. Nhưng tác phẩm chính của thánh nhân là Ngọn Nguồn Tri Thức, một tổng luận thần học đầu tiên. Vào thời Trung cổ, tác phẩm này được dùng làm sách giáo khoa ở phương Đông, còn ở phương Tây, tác phẩm này được dịch sang tiếng la-tinh đã giúp ích rất nhiều cho công việc của thánh Thomas Aquin và các nhà thần học kinh viện.
Thánh Jean Damascène được mệnh danh là Chrysorrhoas (nghĩa là Giòng Sông vàng) vì những thiên khiếu phi thường của ngài về thần học và thi thơ, “óng ánh như vàng, rực chiếu trong lời giảng dạy cũng như trong đời sống của ngài.”
Khoa tranh ảnh thánh vẽ hình thánh nhân được Đức Mẹ chữa lành bàn tay phải mà hoàng đế bài bác ảnh thánh Lêô III – theo truyền thuyết – đã chặt đứt của ngài.
II. Thông điệp và tính thời sự
Lời Nguyện của ngày đề cao thánh Jean Damascène như “bậc thầy lỗi lạc” của đức tin chân chính. Ngài được coi là vị Giáo phụ Hi Lạp cuối cùng và được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tôn phong tiến sĩ Hội Thánh năm 1890. Ngài đã tận hiến đời sống đan tu và linh mục của mình để phục vụ đạo lý chính truyền và bảo vệ đức tin.
a. Sống trong thời đại nhiễu nhương, đặc biệt trong cuộc tranh cãi về Ảnh thánh, ngài đã viết ba khảo luận để bảo vệ việc tôn kính ảnh thánh và giải thích ý nghĩa của việc tôn kính này, dựa trên việc Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô, qua đó Đấng Vô Hình “trở nên hữu hình cho chúng ta.” “Tôi không tôn kính vật thể – ngài viết – nhưng tôi tôn thờ Đấng sáng tạo vật thể, Đấng đã trở nên vật thể vì tôi. . . và cứu tôi nhờ vật thể.” Khi bảo vệ ảnh tượng, thánh Jean Damascène đã cứu nghệ thuật Kitô giáo thời đó đang bị đe doạ cả bởi Hồi giáo lẫn trào lưu Byzantin chống ảnh tượng thánh.
– Trong phần Trình bày về đức tin chính truyền là phần cơ bản của tác phẩm Ngọn Nguồn tri thức, ngài diễn tả một cách cao siêu ý nghĩa của Nhập Thể : “Hoàn toàn, Người (Đức Giêsu Kitô) đồng hóa với tôi hoàn toàn. Hoàn toàn, Người kết hợp với tôi hoàn toàn, để ban cho tôi ơn cứu độ hoàn toàn.” Bằng cách đó, nhân tính được biến đổi bởi thiên tính, và con người nhận được trong Hội Thánh “vinh quang của thân xác” và sự tự do đích thực, nghĩa là được gắn liền với sự dịu hiền của Thiên Chúa tỏ lộ trong Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô.
b. Thiên Chúa, tự bản chất là “Đấng không thể biết”, đã trở nên một cách nào đó “có thể thông dự” trong kinh nghiệm của Hội Thánh nhờ vẻ đẹp của phụng vụ và ảnh tượng thánh. Trong Bài giảng về Chúa Biến Hình, thánh Damascène nhấn mạnh rằng việc Chúa Kitô biến hình, “thân thể phàm nhân của Người chói lọi vẻ rực rỡ thần linh”, mời gọi mọi người trở nên thần hóa, được biến hình trong Người và với Người. Sự biến hình này cũng được thể hiện trong kinh nghiệm phụng vụ mà việc tôn kính ảnh thánh là một phần cốt yếu trong đó.
c. Là nhà thần học và thi sĩ, thánh Gio-an Đa-mát đã làm giàu cho nền phụng vụ Byzantin bằng nhiều soạn tác gọi là các “kinh qui điển”. Đó là các thánh thi ca mừng ý nghĩa thiêng liêng của các ngày lễ phụng vụ. Nổi tiếng nhất là kinh qui điển lễ Phục Sinh: “Dân thánh hỡi, nào hãy hân hoan – Mừng lễ Vượt qua, Vượt qua của Chúa, ! – Đức Ki-tô là Thiên Chúa, Người đã đưa chúng ta – từ cõi chết bước vào sự sống – Trời, đất và địa ngục – Tất cả ngợp ánh sáng!
d. Là văn sĩ viết rất nhiều và đa dạng, thánh Jean Damascène đã dành cho Đức Mẹ rất nhiều bài giảng, khiến ngài trở thành một trong số các tiến sĩ thần học về Đức Mẹ. Chúng ta đặc biệt nhớ tới bài giảng về Giáng sinh, và ba bài khác về Giấc ngủ và Lên Trời của Đức Mẹ. Vai trò của Đức Mẹ được ngài đặt trong toàn thể công trình Cứu chuộc và lệ thuộc vào công trình của Con Mẹ. Sứ mạng của Đức Maria chỉ có thể hiểu được trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và trong ánh sáng của Kinh Thánh. “Hỡi Trinh nữ đầy ơn phước, Đền thờ của Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần đã làm cho Mẹ nên rực rỡ sáng ngời. . . Thiên Chúa Cha là Thánh, đã muốn nhờ Mẹ và trong Mẹ thực hiện mầu nhiệm mà Người đã tiền định trước muôn thế kỷ” (Bài giảng về Giáng sinh, 10).
Phụng vụ Giờ Kinh Sách trích đọc một đoạn trong phần Trình bày đức tin chính truyền :
“Lạy Chúa, xin cho con mạnh dạn nói lời của Chúa… Xin hãy là mục tử của con, để quả tim con không lạc qua bên phải hay bên trái… còn ngươi, hỡi đại hội cao quí của Hội Thánh, hãy đón nhận giáo huấn đức tin không lầm lạc của tôi. Đây chính là giáo huấn do Tổ tiên chúng ta truyền lại, làm nên sức mạnh của Hội Thánh.”
Thiên Chúa đã nghe lời câu nguyện của thánh nhân và làm cho ngài trở thành “một bậc thầy về lòng đạo đức và thánh thiện, một người khôn ngoan được Thiên Chúa linh hứng để soi sáng cho toàn thế giới, một cây đàn huyền của Chúa Thánh Thần. . . “(Phụng vụ phương Đông).
* * *
Ngày 6.12
THÁNH NICOLAS
Giám mục († khoảng 350)
Lễ nhớ
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Tất cả các Giáo Hội phương Đông đều mừng lễ thánh Nicolas, giám mục thành Myre (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), vào ngày 6 tháng 12. Ở Rôma, việc sùng kính ngài đã được chứng thực từ thế kỷ IX, trước khi hài cốt ngài được di dời từ Myre về Bari (miền nam nước Ý), và được đặt trong vương cung thánh đường Thánh Nicolas từ năm1087. Tại Myre, từ thế kỷ IV, đã có một thánh đường được dựng lên trên mộ của ngài.
Có ít vị thánh được biết đến nhiều trên khắp thế giới như thánh Nicolas. Ban đầu ngài được tôn kính ở phương Đông, sau đó lòng sùng kính ngài mở rộng sang phương Tây : Ý (Bari), Tây Ban Nha (Montserrat), Normandie, Lorraine (Saint-Nicolas-de Port), Đức, Anh, Nga, các nước Bắc Âu và châu Mỹ. Ngài là bổn mạng nước Nga và Lorraine. Ngài cũng được nhận làm bổn mạng của các luật sư, các nhà hàng hải, các tù nhân và trẻ em, đặc biệt trong những nước ở phương Bắc mà mỗi dịp lễ của ngài là một ngày hội cho trẻ em (Ông già Nô-en, Santa Claus, Sinter-Klaes, Saint-Nicolas).
Thế nhưng, tuy thánh Nicolas được biết đến nhiều như thế, chúng ta hầu như không biết gì về tiểu sử của ngài, ngoại trừ việc ngài là giám mục thành Myre (nay là Dembrê, trên bờ biển phía nam Thổ Nhĩ Kỳ), vào nửa đầu thế kỷ IV. Theo truyền thống, có thể ngài đã tham dự Công đồng Nicêa (325), là công đồng đã kết án lạc giáo Arius và tuyên bố Ngôi lời “được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha”. Có lẽ ngài mất khoảng năm 350, thọ ngoài sáu mươi tuổi.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Trong Lời Nguyện của ngày, chúng ta xin : “Lạy Chúa, nhờ lời cầu nguyện của thánh Nicolas, xin gìn giũ chúng con khỏi mọi nguy hiểm.”
Lòng sùng mộ dân gian, được nuôi dưỡng bằng nhiều truyền thuyết, đã biến thánh Nicolas thành một trong những vị thánh “phù hộ”, nghĩa là một vị thánh mà người ta mong đợi sự bảo vệ đặc biệt nào đó. Chính vì thế rất nhiều thánh đường được dâng kính ngài ; vương cung thánh đường thánh Nicolas ở Bari đã trở thành trung tâm sùng kính ngài. Nhiều huynh đoàn và hiệp hội chọn ngài làm bổn mạng; và nhiều truyền thuyết kể về ngài như một người có phép chữa bệnh, người bạn của trẻ em và người nghèo hèn. Có bức tranh vẽ ngài đứng với ba đứa trẻ bị ướp muối trong một cái thùng lớn và đã được ngài hồi sinh. Tranh ảnh thánh cũng mô tả ngài với ba túi vàng (ảnh Thánh Nicolas bác ái) : của hồi môn cho ba cô gái nghèo. Có khi ngài được vẽ với một cái mỏ neo để nhắc nhớ ngài là bổn mạng những người đi biển.
Tại các nước Anglo-Saxon, thánh Nicolas có tên là Santa Claus, bạn của những đứa trẻ “ngoan ngoãn”, là những đứa sẽ được quà vào ngày lễ của ngài.
b. Bài đọc 1 của thánh lễ (Kh 3, 14. . .22), Này Ta đừng ngoài cửa và gõ. . .) có thể gợi ý Thánh Nicolas như một người khách bất ngờ, nhưng trước hết hình ảnh này nhắc chúng ta nhớ đến vị thánh như một mục tử không ngừng lo lắng giúp các tín hữu mở cửa lòng mình ra cho Chúa, Đấng đứng ngoài cửa của mỗi tín hữu.
c. Khi ca ngợi lòng bác ái của thánh Nicolas, truyền thống cho thấy ngài gắn bó với một trong những giá trị Tin Mừng cơ bản của Kitô giáo : lòng nhân hậu.
Phụng vụ Giờ Kinh Sách cho chúng ta đọc một bình luận của thánh Auguatin về những lời của Chúa Giêsu : “Phêrô, anh có yêu mến thầy không ?” “Khi hỏi : Anh có yêu mến thầy không ? Hãy chăn các chiên con của thầy, Chúa Giêsu muốn nói : Nếu anh yêu mến thầy, anh đừng nghĩ tới việc nuôi thân mình, nhưng hãy lo nuôi đàn chiên; hãy chăn dắt chúng không phải như là của con, mà là của thầy ; nơi chúng, hãy tìm vinh danh Thầy, không phải vinh danh của con ; uy quyền của thầy, không phải uy quyền của con ; lợi ích của thầy, không phải của con… Thói xấu mà người mục tử chăn dắt đàn chiên Chúa phải xa tránh trên hết, đó là tìm kiếm lợi ích riêng của mình.” Cũng thế, câu Xướng đáp theo sau bài đọc nhấn mạnh sự cao vời của đức ái : “Luật của đức ái thì hoàn hảo.. Cái nhìn của đức ái thì trong sáng… Hoa quả của đức ái thì chân thật.”
Thánh Nicoas, giám mục thành Myre, được mọi người tôn kính cả ở phương Đông cũng như phương Tây. Từ khi thành phố Bari trở thành trung tâm sùng kính ngài, đã thu hút không những đông đảo khách hành hương, mà cả những cuộc gặp gỡ đại kết và đã xuất hiện tại đây một phân khoa thần học chuyên ngành nghiên cứu truyền thống phương Đông : Học viện Thánh Nicolas. Cũng tại thành phố này, Đức Urbain II đã triệu tập năm 1098 một công đồng với mục đích hiệp nhất hai Giáo Hội hy lạp và la tinh.
* * *
Ngày 7.12
THÁNH AMBROISE
Giám mục và tiến sĩ Hội Thánh (khoảng 339-397)
Lễ buộc
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thay vì mừng lễ thánh Ambroise vào ngày mất của ngài (4 tháng 4 năm 397), thường rơi vào các ngày lễ Phục sinh, Giáo Hội mừng vào ngày 7 tháng 12, là ngày kỷ niệm ngài thụ phong giám mục (394). Tại Rôma, từ thế kỷ XI, người ta đã mừng lễ ngài vào ngày này, cũng như trong các Giáo Hội Byzantin và một số nhà thờ chính toà hay tu viện thời Trung cổ. Cùng với thánh Augustin, Hiêrônimô và Grégoire, thánh Ambroise là một trong bốn thánh giáo phụ và tiến sĩ lớn của Giáo Hội la-tinh, và là một trong những vị thánh được yêu mến nhất.
Thánh Ambroise sinh tại Trèves (Augusta Trevirorum) khoảng năm 339, trong một gia đình Kitô giáo thuộc giới quí tộc Rôma, vào thời kỳ cha ngài làm pháp quan của tỉnh Gaules. Khi cha mất, mẹ của ngài về sống tại Rôma cùng với ba người con : hai trai và một gái, Marcellina, cô em gái này sẽ nhận khăn choàng trinh nữ từ tay Đức giáo hoàng Libère. Sau khi hoàn tất các môn văn chương và luật, Ambroise đãhành nghề một cách xuất sắc, đưa ngài tiến mau đến tận Milan, tại đây ngài được bổ nhiệm làm tổng trấn tỉnh Ligurie và Émilia của Rôma.
Năm 374, khi giám mục Auxence thuộc phe lạc giáo Arius qua đời, quan tổng trấn Ambroise tới nhà thờ lớn Milan để giữ trật tự vào dịp bầu tân giám mục. Nhưng, tuy mới chỉ là một dự tòng, chính ngài lại là người được chọn làm giám mục trước sự phấn khởi của toàn dân. Họ la to : “Ambroise giám mục!” Ngài miễn cưỡng chấp nhận, và tám ngày sau, ngài được rửa tội, được truyền chức và tấn phong. Lúc đó ngài khoảng ba mươi tư tuổi. Sau khi trở thành người đứng đầu Giáo Hội ở Milan, thánh Ambroise học tập thừa tác vụ đến độ ngài trở thành một trong những vị mục tử hoàn hảo nhất trong lịch sử Hội Thánh. Việc đầu tiên ngài làm là phân phát tài sản của mình cho người nghèo và chọn một nếp sống khổ hạnh. Rồi, dưới sự hướng dẫn của một cha Simplicien, một linh mục giàu kinh nghiệm, ngài dấn thân miệt mài vào việc học Kinh Thánh và các tác giả Ki-tô giáo. Ngài học nhằm phục vụ trước hết cho việc rao giảng và thi hành tác vụ huấn giáo. Bị lôi cuốn bởi Tin Mừng Luca, ngài đã viết một bình luận về Tin Mừng này, còn truyền lại tới chúng ta ngày nay. Chúng ta cũng còn giữ được một sưu tập các khảo luận của ngài về các nhân vật và chủ đề Kinh Thánh: Abel, Cain, Nôê, Abraham, Isaac, thiên đàng, tạo dựng. . .
Thánh Ambroise không ngừng quan tâm tới việc dạy giáo lý cho dân chúng, nhất là trong việc khai tâm đức tin và chuẩn bị phép rửa. Trong khảo luận Các Mầu Nhiệm và các Bí Tích, thánh giám mục Milan cắt nghĩa cho các tín hữu về các bí tích và phụng vụ. Nhưng ngài không chỉ giới hạn vào việc giảng thuyết. Nhằm giúp các tín hữu tham dự tích cực vào phụng vụ, ngài đã sáng tạo ra nhạc bình dân – thể loại đầu tiên ở phương Tây – và ngài đưa các bài hát xen vào các thánh vịnh. Cũng vậy, ngài soạn ra các thánh thi và các ca vãn, và một số sáng tác của ngài ngày nay vẫn còn được dùng để cầu nguyện hay hát trong phụng vụ thuộc nghi lễ Ambroise ở giáo phận Milan.
Trong một xã hội mà Kitô giáo chưa thấm nhuần hoàn toàn, thánh Ambroise quan tâm canh tân các phong tục với mục đích Kitô hoá chúng ; ngài cống hiến cho phương Tây khảo luận đầu tiên về đạo đức học Kitô giáo (De Officiis), lấy hứng chủ yếu từ Cicéron. Nhiều khảo luận bàn về đề tài trinh khiết, trong đó có một tác phẩm ngài viết cho em gái ngài là Marcellina, lúc đó đã qui tụ được một số chị em thành một cộng đoàn trinh nữ. Một tiểu luận khác ngài viết cho các bà góa.
Viết đã giỏi, ngài còn là nhà hùng biện lỗi lạc ; chính nhờ ngài mà chàng thanh niên Augustin ở Tagaste đã hoàn tất hành trình hoán cải của mình. Cuối đời, bị suy yếu và biết giờ chết sắp tới, ngài đọc cho người ta viết bình luận về thánh vịnh 43 (44). Ở câu 24, ngài nói : “Thật khó khăn khi phải kéo lê lâu dài một thân xác mà bóng tử thần đã che phủ. Lạy Chúa, xin đứng lên. Tại sao Người vẫn ngủ ? Người sẽ xua đuổi con mãi sao ?” Sự vĩ đại và thánh thiện của thánh Ambroise được diễn tả trong tiếng kêu la cuối cùng này, mà Chúa đã nghe vào một ngày thứ sáu tuần thánh, 4 tháng 4 năm 397.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Ca Nhập lễ nhắc lại những lời của sách 1 Samuel 2, 35 : Ta sẽ làm xuất hiện cho ta một tư tế trung thành, nó sẽ hành động theo lòng Ta mong muốn… Cũng vậy, Lời Nguyện của ngày nói : “Lạy Chúa, xin làm xuất hiện trong Hội Thánh Chúa những con người như lòng Chúa mong muốn.” Là độc giả trung thành của Tin Mừng Luca, thánh Ambroise đã biết bắt chước trong thừa tác vụ giám mục của ngài mẫu gương của người Mục Tử Nhân Lành và trở nên một “tư tế trung thành” theo lòng Chúa Giêsu. Chúa Giêsu luôn ở tâm điểm của mọi tư tưởng và hoạt động mục vu của ngài : “Chúng ta có mọi sự trong Đức Kitô, mọi sự đều thuộc quyền Đức Kitô, và Đức Kitô là tất cả cho chúng ta. Nếu bạn muốn chữa lành vết thương, Người chính là thầy thuốc. Nếu bạn bị nóng sốt, người chính là suối mát. Nếu bạn sợ chết, Người chính là sự sống. Nếu bạn muốn lên trời, Người chính là đường đi. Nếu bạn tìm của nuôi thân, người chính là lương thực” (PL 44, 671).
Thánh Ambroise cũng nhìn thấy Đức Kitô là “Lang quân” của sách Diễm Ca, đi tìm “Hôn thê”, hình ảnh của linh hồn và của Hội Thánh. Chính trong sự trinh khiết thánh hiến mà cuộc “hôn nhân mầu nhiệm” giữa linh hồn và Ngôi lời được thể hiện trọn vẹn.
b. Thánh Ambroise đã cai quản Giáo Hội ngài “với sức mạnh và sự khôn ngoan” (Lời Nguyện). Trong một thời kỳ khó khăn mà Giáo Hội phải tìm cách khẳng định sự độc lập của mình đối với quyền lực chính trị, đồng thời trong vai trò của ngài là người nắm giữ công lý và sự thật, vị giám mục Milan đã chu toàn đầy đủ sứ mạng của mình.
– Năm 386, khi hoàng hậu Justine giao quyền cai quản thánh đường Milan cho một giám mục thuộc phái Arius, thánh Ambroise đã cho giáo dân vào chiếm thánh đường. Hoàng hậu phải nhượng bộ.
– Khi Maxime cướp chính quyền, thánh Ambroise đã bảo vệ các quyền của nhà vua trẻ Valentinien II.
– Khi hoàng đế Théodose tàn sát dân chúng Thessalonique để báo thù, thánh Ambroise đã nhắc nhở tới luật pháp và buộc hoàng đế sám hối công khai một cách nghiêm khắc.
c. Ca Hiệp lễ trích Tin Mừng Gioan 10, 11 : Người mục tử tốt lành hiến mạng sống mình vì đàn chiên, và Lời Nguyện sau hiệp lễ khích lệ chúng ta “học đòi gương sáng của thánh Ambroise.”
Ngài rao giảng bằng gương sáng còn nhiều hơn bằng lời nói. Ngài phân phát tất cả tài sản mình cho người nghèo, và không ngần ngại đổi những bình thánh của nhà thờ để chuộc các tù nhân. Ngài viết trong Khảo luận về ông Nabóth : “Không phải bạn lấy của cải mình phân phát cho người nghèo, mà chỉ là bạn trả lại cho họ phần của họ mà thôi. Bởi vì bạn đã một mình chiếm đoạt những cái được ban cho mọi người để sử dụng. Đất đai thuộc về mọi người chứ không thuộc về người giàu… Như thế bạn trả nợ của bạn, chứ không phải bạn ban phát một cách hào phóng đâu”(Nabóth, 55).
d. “Ánh sáng đức tin soi chiếu thánh Ambroise” (Lời Nguyện trên lễ vật) đã biến ngài trở nên một mục tử và một vị tiến sĩ đáng cảm phục. Là người dạy giáo lý cho Paulin de Nole và Augustin, ngài không ngừng quan tâm cống hiến cho các tín hữu một giáo huấn tinh tuyền, trung thực với giáo lý của Hội Thánh “không bao giờ lay chuyển, vì được xây trên tảng đá của thánh Tông đồ” (Thư gửi Constance). Câu nói sau đây của ngài đã trở thành điển ngữ : “Ở đâu có Phêrô, ở đó có Hội Thánh” (Về Thánh vịnh 40).
Nguồn mạch tuôn trào thông điệp Kitô giáo chính là Lời Thiên Chúa : “Hãy nghe lời của Đức Kitô, để tiếng của Người vang xa. Hãy hứng lấy nước của Đức Kitô… Hãy thu gom nước của Người từ khắp mọi chân trời, và hãy làm lan rộng khắp nơi những đám mây, biểu tượng của các ngôn sứ. Ai hứng được nước trên núi cũng làm cho nước tràn ra như một đám mây.” Là bậc thầy về khoa ăn nói, thậm chí rất quyến rũ, ngài đã cho giám mục Constance những lời khuyên quí giá : “Các bài giảng của đức cha phải phong phú, tinh tuyền và trong sáng… Đức cha hãy đổ vào tai các thính giả của mình nhiều sự dịu ngọt, thu hút giáo dân của mình bằng vẻ đẹp của lời nói, và giáo dân sẽ sẵn sàng theo đức cha bất cứ đến đâu… Các lời của đức cha phải chứa đầy sự khôn ngoan… Các bài giảng của đức cha phải dễ hiểu, và ý nghĩa phải rõ ràng” (Thư gửi Constance, trong Giờ Kinh Sách).
Thánh Augustin ca ngợi tài hùng biện của thánh Ambroise : “Tôi đứng đó : tâm trí bị cuốn hút theo lời của ngài. Thú thật tôi chẳng quan tâm gì, thậm chí coi thường nội dung, nhưng sức quyến rũ của lời ngài nói làm tôi mê hoặc” (Tuyên xưng 5, 13).
Các ảnh thánh đôi khi vẽ thánh Ambroise tay cầm roi, nhưng thực sự ngài đầy nhân tính : “Hãy cho tôi được cảm thông mỗi khi tôi chứng kiến sự sa ngã của một tội nhân, ngài viết thế. Chúng ta thà tỏ ra tốt lành và gánh lấy sự buồn phiền cho mình, còn hơn tỏ ra vô nhân đạo.”
Ngày 8.12
ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
Lễ trọng
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Từ đầu thế kỷ VIII, ở phương Đông, người ta đã cử hành – vào ngày 9 tháng 12 – lễ Thánh Anna thụ thai Mẹ Thiên Chúa, nghĩa là việc Đức Maria tượng thai trong lòng bà thánh Anna. Sau đó lễ này được phổ biến sang miền Nam nước Ý, rồi sang Ai Len và Anh, với tên gọi là Lễ Đức Mẹ Đồng Trinh Maria được thụ thai. Mục tiêu ban đầu của lễ này là mừng cuộc thụ thai của thánh Anna, mà theo sách ngụy thư Tiền Tin Mừng theo thánh Giacôbê, cuộc thụ thai này xảy ra sau một thời gian dài bà Anna không có con, và đã được một thiên thần báo tin như một dấu hiệu của tình thương Chúa. Ở Napôli, vào thế kỷ IX, lễ này đươc ghi trên một lịch bằng đá cẩm thạch, mừng vào ngày 9 tháng 12, và đến năm 1050, trong Công đồng Verceil, Đức Giáo Hoàng Lêô IX khuyên nhủ các tín hữu mừng việc Đức Mẹ Được Thụ Thai, giống như phong tục của Giáo Hội Byzance.
Vào đầu thế kỷ XII, tu sĩ người Anh Eadmer, học trò của thánh Anselme Cantobéry, tuyên bố ông tin là Đức Mẹ được thụ thai (thụ động) vô nhiễm (tránh khỏi nguyên tội), và viết một khảo luận đầu tiên về đề tài này. Thánh Bênađô, ngược lại, vào dịp đầu tiên mừng lễ này ở Lyon (khoảng 1140), đã cảnh giác mọi người về điều mới mẻ này, và dạy rằng Đức Mẹ chỉ được thánh hóa sau khi được thụ thai, chứ không phải ngay khi còn trong lòng mẹ (Ep. 174). Dưới ảnh hưởng của ngài, các nhà thần học lớn của thế kỷ XII và XIII (Phêrô Lombard, Alexandre Halès, thánh Bônaventura, thánh Albert Cả, thánh Thomas Aquinô) cũng đi theo giáo huấn này ; các nhà thần học này chưa tìm được cách nào để hoà hợp việc Đức Mẹ được miễn tội nguyên tổ với tính phổ quát của tội nguyên tổ và nhu cầu đón nhận ơn cứu chuộc đối với mọi người.
Người tìm ra giải pháp cho những vấn nạn này chính là các nhà thần học dòng Phanxicô – đặc biệt là Duns Scotus (1308). Họ tạo ra khái niệm tiền cứu chuộc. Việc Đức Mẹ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ là hình thức hoàn hảo nhất của việc Cứu Chuộc ; vì thế, theo các nhà thần học này, việc Đức Kitô cứu chuộc Mẹ của Người bằng cách này là thích hợp.
Công đồng Bâle năm 1439 ủng hộ phe chủ trương Đức Mẹ Đầu Thai Vô Nhiễm. Nhiều vị giáo hoàng cũng lên tiếng ủng hộ sự tin tưởng này và ngày 8 tháng 12 năm 1854, Đức Pi-ô IX đã tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội : “Đức Trinh Nữ Maria, ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai, do một đặc ân và ân sủng độc nhất vô nhị của Thiên Chúa toàn năng, nhờ những công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, đã được gìn giữ sạch mọi vết nhơ của tôi nguyên tổ” (Sắc Chỉ Ineffabilis).
II. Thông điệp và tính thời sự
Các bản văn phụng vụ có từ thời Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố Bản kinh Phụng vụ. Những bản văn này giúp chúng ta nắm được tầm quan trọng của tín điều do Sắc chỉ Ineffabilis công bố.
a. Lời Nguyện của ngày lấy lại một công thức phụng vụ được soạn năm 1477, dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixte IV, là một tổng hợp hầu như giống nguyên văn câu định nghĩa tín điều : “Thiên Chúa đã dọn sẵn một cung điện xứng đáng cho Con Chúa giáng trần khi làm cho Đức Trinh Nữ Maria khỏi mắc nguyên tội ngay từ trong lòng mẹ. Chúa cũng gìn giữ Đức Trinh Nữ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, nhờ công nghiệp Con Chúa sẽ chịu chết sau này.”
Sự tiến triển lịch sử của chân lý đức tin này đã có đầy đủ ý nghĩa trong các bài giảng của các Giáo phụ phương Đông, gắn liền với lễ Sinh Nhật Đức Mẹ (ví dụ, bài giảng của thánh Jean Damascène ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ).
Việc Đức Maria được thụ thai bởi một bà mẹ son sẻ (xem Tiền Tin Mừng theo thánh Giacôbê) nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa, báo trước việc Đức Kitô được thụ thai bởi một bà mẹ đồng trinh nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Như thế lòng đạo đức bình dân đã đi từ việc sùng kính sự kiện thánh Anna thụ thai – nhấn mạnh về bà mẹ chứ không phải về Đức Maria – để chuyển sang sự kiện Đức Maria, “người đầu tiên được cứu độ”, được thụ thai trong lòng mẹ ngài.
Kinh Tiền tụng mới – trích thư Ep 5, 27 và lấy ý từ Công đồng Vaticanô II (MK và PV) – là một tổng hợp nội dung thần học của tín điều. Như thế có sự nhấn mạnh trước tiên đến chiều kích Kitô học của tín điều, bằng cách khai triển mối quan hệ giữa việc được khỏi tội nguyên tổ, đầy ân sủng, và làm mẹ Thiên Chúa, vì Đức Maria đã được kêu gọi để trở thành người mẹ xứng đáng với Con của mình. Kinh Tiền Tụng cũng nhấn mạnh một chiều kích giáo hội học của ngày lễ trọng này: “Nơi Người (Đức Maria), Chúa đã cho thấy trước hình ảnh Hội Thánh, vị hôn thê không nếp nhăn, không tì vết, đẹp rực rỡ.” Một chiều kích thứ ba – cứu chuộc học – cũng nổi bật, nói lên mối liên quan giữa sự cứu chuộc được thực hiện bởi “Con Chiên vô tì tích xoá tội chúng ta”, và sự trong trắng của Đức Maria. Ngay từ thế kỷ II, Meliton de Sardes đã có trực giác về điều này : “Chính Người, Con Chiên bị giết, chính Người là con chiên vô tì tích, đã sinh ra bởi Đức Maria.” (Bài giảng lễ Phục Sinh). Sau cùng, chiều kích cánh chung học cũng được nhấn mạnh qua việc nhắc tới ơn gọi của Đức Maria: “Được chọn giữa toàn thể nữ giới, Người chuyển cầu nêu gương thánh thiện cho toàn thể Dân Chúa.”
b. Lời Nguyện trên lễ vật nhấn mạnh “ơn quan phòng của Thiên Chúa đã gìn giữ Đức Maria khỏi mọi tội lỗi”. Đây là một lời nhắc nhở về ân sủng vô điều kiện của Thiên Chúa : “nhờ công nghiệp do cái chết của Chúa Kitô”, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ Người khỏi mọi vết nhơ tội lỗi (Lời Nguyện của ngày).
c. Lời Nguyện hiệp lễ cầu khẩn Chúa : xin Người “chữa lành nơi chúng ta mọi vết thương của tội nguyên tổ” mà Đức Mẹ đã được giữ gìn không mắc phải.
Theo Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, tội nguyên tổ là một chân lý nền tảng của đức tin : “Phải nhận biết Đức Kitô như là nguồn mạch của ân sủng để có thể nhận biết Ađam như là nguồn mạch của tội lỗi” (số 388). “Giáo lý về tội nguyên tổ là “phản diện” của Tin Mừng công bố rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ mọi người, rằng mọi người cần được cứu độ và ơn cứu độ được ban cho mọi người nhờ ân sủng của Đức Kitô. Mang tinh thần của Chúa Kitô, Hội Thánh biết rõ người ta không thể đụng đến mặc khải về tội nguyên tổ mà không đụng đến mầu nhiệm Chúa Kitô.” (số 339).
– “Đây là cuộc Tạo dựng mới – Hội Thánh hát trong Giờ Kinh Sách – nơi Người, hỡi Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm, ân sủng nguyên thuỷ nở hoa. Trái đất của chúng con không còn bị chúc dữ. . .” (Thánh Thi). Điệp ca của kinh Benedictus ca ngợi vai trò của Evà mới : “Ta sẽ đặt sự thù nghịch giữa mi và người đàn bà, giữa dòng dõi mi và dòng dõi của Người ; Người sẽ đạp dập đầu mi.”
* * *
Ngày 11.12
THÁNH DAMASE I
Giáo hoàng (khoảng 305-384)
Lễ nhớ
I . Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ nhớ thánh Damase được cử hành vào ngày giỗ của ngài – ngài qua đời ngày 11 tháng 12 năm 384. Lễ nhớ này từ lâu đã gắn liền với vương cung thánh đường của ngài ở đường Ardeatine, Rôma, nơi an táng ngài. Lễ này cũng gắn liền với một vương cung thánh đường khác, Saint-Laurent-in-Damaso – mà vị thánh giáo hoàng này đã cho xây dựng trên ngôi nhà của cha ngài và được dâng kính thánh tử đạo Lôrensô. Di hài của ngài an nghỉ tại đây. Lễ nhớ này đã được nhắc đến trong sách Bí tích của người Francs từ thế kỳ VIII, nhưng đến thế kỷ XI mới được đưa vào sách nghi lễ Rôma.
Thánh Damase sinh tại Rôma khoảng năm 305. Ngài là con của một viên công chứng ở Latêranô, thuộc gốc Tây Ban Nha. Đắc cử giáo hoàng sau khi Đức Libère qua đời (366), mà ngài đã ở bên cạnh vị giáo hoàng này trong cuộc lưu đày, một phe bất mãn đã đặt một phản giáo hoàng là Ursinus chống lại ngài gần như suốt đời.
Ngài gặp nhiều khó khăn lớn trong mười năm đầu tiên làm giáo hoàng. Bị xách nhiễu bởi phe phản giáo hoàng, ngài cũng bị lưu đày ít năm ở Gaule. Trong một thời kỳ lạc giáo nổi lên khắp nơi, ngài phải đối diện cùng một lúc với những phái Arius, Novatien, Donatiste, Luciférien, Apollinariste… Nhiều công đồng được triệu tập, trong đó quan trọng nhất là công đồng ở Constantinople (381) : trong công đồng này, các giáo lý của phái Arius, vốn đã bị kết án ở công đồng Nicêa (325), nay bị kết án một lần nữa qua việc tuyên ngôn của Công đồng về sự ngang hàng giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.
Vào dịp Thượng Hội Đồng ở Rô-ma (382), Đức giáo hoàng Damase triệu thánh Hiêrônimô tới Rô-ma, bổ nhiệm làm thư ký riêng của ngài và giao phó cho việc dịch lại bản Kinh Thánh bằng tiếng la tinh. Bản dịch mới này được viết ở Bethlehem từ năm 309 đến 405, sau này được gọi là bản Phổ Thông (Vulgate). Cũng trong Thượng Hội Đồng này, thánh Damase vì lo lắng cho việc khẳng định quyền tài phán của giáo hoàng đối với Hội Thánh toàn cầu, nên đã lập ra những tiêu chuẩn gọi là “tiêu chuẩn Phêrô”. Đó la : Giáo Hội Rôma có quyền tối thượng trong toàn Giáo Hội. Vì thế, chính kẻ lạc giáo Priscillien, vốn bị công đồng Saragosa kết án năm 380, cũng đã gọi giáo hoàng là senior et primus, anh cả và người đứng đầu trong toàn Giáo Hội. Các quyền của Toà Thánh cũng sẽ được nhắc lại trong một lá thư ngài viết cho các giám mục xứ Gaule năm 374.
Thánh Damase qua đời tại Rô-ma, hưởng thọ 80 tuổi, sau mười tám năm làm giáo hoàng. Là con người hòa giải, ngài đã tìm cách thiết lập và giữ gìn hoà bình trong Hội Thánh, trung thành với truyền thống và với các công đồng mà ngài nhắc nhở cho những phần tử chống đối. Là người cổ võ việc tôn kính các tử đạo và là người say mê Kinh Thánh, ngài còn chú tâm đưa mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi vào trong phụng vụ qua việc kết thúc bốn thánh vịnh bằng kinh Sáng Danh.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời Nguyện đầu lễ lấy ý từ Sách Bí Tích Vêrôna, làm nổi bật một trong những công lao to lớn nhất của thánh Damase, người đã “phục hưng việc tôn kính các thánh tử đạo và biết cổ võ việc tôn kính này bằng cả tấm lòng yêu mến.” Lòng sùng kính của ngài đối với các vị nhân chứng đức tin đã đổ máu vào thời các cuộc bách đạo đã được mọi tín hữu biết đến từ trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng. Là nhà khảo cổ học, ngài đã phục hồi các ngôi mộ của các tử đạo, biến đổi các hang toại đạo thành các điện thờ và làm cho các tín hữu dễ dàng đến với các nơi này. Ngoài ra, là nhà văn học và thi sĩ, ngài đã viết các bài thánh thi, các bài thơ và văn bia đặt trên các mộ tử đạo để bảo tồn và lưu truyền cho chúng ta việc tưởng nhớ các thánh tử đạo.
b. Lòng tôn sùng các thánh tử đạo mà chúng ta được mời gọi dự phần đã được mô tả bởi Khảo luận của thánh Augustin chống Fauste mà chúng ta đọc trong giờ Kinh Sách : “Cộng đồng Kitô giáo tập hợp để cử hành trọng thể lễ kính nhớ các thánh tử đảo, để khích lệ họ noi gương các ngài, cũng như để được hiệp thông với công nghiệp của các ngài và được cứu giúp nhờ lời cầu nguyện của các ngài. Thế nhưng, mặc dù chúng ta tôn kính các ngài, nhưng chúng ta không dựng bàn thờ cho một thánh tử đạo nào…Thực vậy, điều chúng ta dâng, chúng ta dâng lên cho Thiên Chúa là Đấng đã đội triều thiên cho các thánh, để chính những nơi này khích lệ chúng ta ngày một thêm sốt sáng hơn trong việc gia tăng lòng yêu mến đối với các ngài, là những người mà chúng ta có thể bắt chước, và đối với Thiên Chúa, Đấng ban ơn trợ giúp để chúng ta có thể bắt chước các thánh.”
Ngày 12.12
THÁNH JEANNE-FRANCOISE DE CHANTAL
Tu sĩ (1572-1641)
Lễ nhớ
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Jeanne-Francoise Frémiot de Chantal là vị đồng sáng lập Dòng Thăm Viếng, được Đức Giáo Hoàng Clément XIII phong thánh năm 1767 và được ghi tên trong lịch phụng vụ Rôma năm 1769. Ngài qua đời ngày 13 tháng 12 năm 1641 tại Moulins, Auvergne, và lễ nhớ ngài được mừng vào ngày 12 tháng 12.
Ngài sinh ở Dijon năm 1572 trong một gia đình có chân trong nghị viện. Cha ngài là chủ tịch Nghị viện Bourgogne. Năm 1592, ngài lập gia đình với nam tước De Chantal ; hai vợ chồng có được bốn người con thì ông nam tước mất trong một tai nạn khi đi săn. Trở thành goá bụa ở tuổi 29, Jeanne-Francoise dấn thân hoàn toàn cho việc giáo dục con cái và các hoạt động bác ái. Năm 1604, sau một thời kỳ khủng hoảng thiêng liêng, bà gặp thánh Francois de Sales ở Dijon, nhân dịp thánh nhân giảng mùa Chay tại đây. Vị thánh giám mục này sớm phát hiện ra những đức tính phi thường của bà, và bà trở thành con thiêng liêng của thánh nhân, hai người thắt chặt một tình bạn chân thành và sâu xa. Dưới sự hướng dẫn thiêng liêng của thánh Francois de Sales, Jeanne de Chantal tiến bộ rất nhanh trên đường thánh thiện. Đời sống thiêng liêng của thánh nữ lúc ấy đi theo hướng chiêm niệm và các kinh nghiệm thần bí của ngài đã giúp cho vị linh hướng viết ra quyển Khảo luận về Tình yêu Thiên Chúa.
Năm 1607, thánh Francois de Sales cùng với thánh Jeanne-Francoise de Chantal sáng lập một Dòng không lũy cấm, chấp nhận cả các phụ nữ lớn tuổi hay có sức khoẻ yếu mà các Dòng khác không chấp nhận: đó là Hội Dòng Đức Mẹ Thăm Viếng, được thành lập ngày 6 tháng 6 tại Annecy (Haute-Savoie), nhưng chỉ trở thành thực tế vào tháng 6 năm 1610, sau khi bà Chantal từ biệt cha và các con của bà.
Năm 1615, Dòng Thăm Viếng bị buộc phải chấp nhận luật luỹ cấm, mặc dù thánh Francois de Sales không thích. Thực ra thánh nhân muốn có một nếp sống kết hợp để sự chiêm niệm không cản trở các tu sĩ tuyên khấn được ra khỏi nhà để thăm viếng bệnh nhân. Dòng được chính thức thành lập năm 1618, và sẽ được Đức giáo hoàng phê chuẩn năm 1626, với luỹ cấm và lời khấn trọng thể. Năm 1622, cha linh hướng của Mẹ Chantal qua đời tại Lyon, và Mẹ mất đi sự nâng đỡ của ngài. Từ đó, Mẹ dốc toàn tâm toàn lực vào việc thiết lập các nhà dòng mới ở Pháp, cũng như xuất bản các tác phẩm của thánh Francois de Sales : một tác phẩm mãi mãi trở thành một trong những mẫu mực đẹp nhất của kho văn chương tôn giáo và văn xuôi tiếng Pháp tiền cổ điển.
Bị thử thách bởi những thời kỳ khô khan thiêng liêng, Đấng Sáng Lập Dòng Thăm Viếng đã qua đời tại Moulin ngày 13 tháng 12 năm 1641, hưởng thọ 69 tuổi. Dòng Thăm Viếng ngày nay có nhà mẹ đặt ở Annecy, và có 160 tu viện trên khoảng 30 quốc gia.
II . Thông điệp và tính thời sự
Phụng vụ ca mừng “sự thánh thiện cao vời” mà thánh Jeane-Francoise đã đạt tới “qua những bậc sống khác nhau của đời ngài” (Lời Nguyện Đầu lễ). Là người vợ, người mẹ, góa phụ, nữ tu : ngài không ngừng quảng đại hiến mình cho Thiên Chúa. Cũng trong lời nguyện này, chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta, nhờ lời chuyển cầu của thánh nữ, được biết trung thành đáp lại ơn gọi của chúng ta. Thực vậy, đời sống anh hùng của thánh nữ là một mẫu gương sáng chói về sự tận tuỵ và trung thành. Như ngài đã nói vào cuối đời : “Tôi giống như những người tôi tớ hèn mọn trong mùa gặt ; người cha gia đình bảo : “Hãy đến đây, đến kia, cày xới khu ruộng này, hãy đến khu ruộng kia.” Cũng vậy, Cha chúng ta bảo : “Hãy đến lập dòng ở Lyon, lập dòng ở Grenoble, hãy trở về để đi Bourges ; hãy đi Paris và trở về Dijon..” Chính vì thế, trong nhiều năm, tôi cứ chỉ chạy đi chạy về, khi thì ở cánh đồng này, lúc ở cánh đồng khác của người cha gia đình yêu dấu này.”
Giờ Kinh Sách trích một bài trong Hồi ký của cháu gái ngài là Françoise-Madeleine de Chaugy viết về ngài. Mẹ sáng lập dòng cắt nghĩa cho các chị em về “việc tử đạo vì tình yêu” như sau : “Hãy tuyệt đối vâng phục Thiên Chúa, và các chị em sẽ cảm nhận được Người… Từ lúc chúng ta phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa cho tới giờ chết của chúng ta, nhưng hành vi này dành cho những tâm hồn quảng đại và biết trung thành với tình yêu mà không hối tiếc… vì tình yêu thì mạnh như sự chết, và những người tử đạo vì tình yêu thì phải chịu đau khổ gấp ngàn lần trong việc giữ mạng sống mình để thi hành ý Chúa, hơn là phải chết ngàn lần để làm chứng đức tin, tình yêu và lòng trung thành của họ.”
Câu Xướng đáp tiếp theo bài đọc cho chúng ta chìa khóa của đời sống đáng cảm phục của Mẹ thánh: “Người đã bắt được tôi trước, và với hết sức lực tôi muốn bắt được Người.” Bằng cách đó, thánh nữ Chantal đã luôn trung thành với sự hướng dẫn của cha linh hướng ngài là thánh Francois de Sales: “Làm tất cả vì tình yêu, không làm điều gì vì miễn cưỡng.”
* * *
Ngày 13.12
Thánh LUCIA
Trinh nữ và tử đạo († khoảng 304)
Lễ nhớ bắt buộc
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lòng sùng kính thánh nữ Lucia, tử đạo tại Syracusa (Sicilia), đã được chứng thực từ thế kỷ IV, và lễ nhớ ngài được ghi trong sách Tử đạo của thánh Hiêrônimô là vào ngày 13 tháng 12. Khoảng giữa thế kỷ VI, người ta vẽ hình thánh nữ trong cuộc rước các trinh nữ ở nhà thờ Saint-Apollinaire-le-Neuf ở Ravenne, và một bi chí được tìm thấy ở Syracusa trong hang toại đạo thánh Lucia có nguồn gốc từ thế kỷ V cho thấy hàng chữ “ngày lễ kính Bà Lucia”. Được tôn kính ở Rôma từ thế kỷ VI, tên của thánh Lucia được ghi vào lễ qui Rôma cùng với tên của các thánh Agata, A-nê và Cécilia.
Lòng sùng kính thánh Lucia được phổ biến khắp phương Tây và lan rộng tới cả các vùng Bắc Âu, tại đây lễ ngài được cử hành vào ngày đông chí, như muốn nói lên ánh sáng mặt trời ngài đem đến giữa đêm dài của các nước vùng Bắc Âu. Thực ra, tên Lucia bắt nguồn từ tiếng la tinh lux, có nghĩa là ánh sáng.
Chắc là thánh Lucia chịu tử đạo ở Syracusa, thành phố quê hương của ngài, vào khoảng năm 304, trong cuộc bách đạo của hoàng đế Diocletian (†305). Nhưng những câu chuyện nổi tiếng về cuộc tử đạo của ngài (thế kỷ V hay VI) đều mang dáng dấp những truyền thuyết. Sau đây là một vài chi tiết:
Ngài thuộc dòng họ quí tộc ở Syracusa, đã hứa hôn, nhưng Lucia tỏ lộ ước muốn hiến mình hoàn toàn cho Thiên Chúa và đòi phần thừa kế di sản của mình để phân phát cho người nghèo. Người được hứa hôn với ngài tức giận đã tố cáo ngài với quan tổng trấn Syracusa là Paschasius, ông này kết án tống ngài vào chuồng sư tử. Nhưng khi người ta muốn lôi ngài tới đó, ngài chống trả quyết liệt : người ta nhổ răng, xẻo ngực ngài ; người ta gọi các thày pháp tới, đưa những con bò tới… nhưng không gì có thể khuất phục nổi ngài. Theo một câu truyện, Lucia còn tự móc mắt mình gửi cho người hứa hôn, nhưng Đức Mẹ đã làm cho mọc ra hai con mắt đẹp hơn gấp bội. Sau cùng, người ta lấy gươm đâm vào cổ ngài, nhưng trước khi chết, ngài còn có thể rước Mình Thánh Chúa.
Di hài của ngài lúc đầu được tôn kính ở Syracusa, sau được dời về Constantinople rồi về Venise. Ở Napôli, người ta sùng kính cặp mắt ngài.
Các tranh ảnh vẽ cuộc tử nạn của ngài rất phong phú : Lucia đứng trước Paschasius, hay bưng chiếc đĩa để cặp mắt của ngài hay cầm cặp mắt ngài trong các ngón tay. Ngoài rất nhiều tranh ảnh khác, có các bức hoạ của Di Niccolo (New York), Zurbaran (Chartres), Furini (Rôma), Luini (Milan), Lotto (Jesi), Tiepolo (Venise), Caravage (Syracusa).
II. Thông điệp và tính thời sự
Trong Lời Nguyện thánh lễ, chúng ta xin Chúa “đốt cháy lòng sốt mến của chúng ta nhờ lời chuyển cầu của thánh Lucia” khi chúng ta kính nhớ cuộc tử đạo của ngài. Cuộc tử nạn của trinh nữ thành Syracusa đã nuôi dưỡng sâu xa lòng đạo đức của các Kitô hữu qua nhiều thế kỷ. Đứng trước toà án, thánh Lucia tuyên bố : “Bây giờ tôi không còn gì để hi sinh, tôi dâng hiến bản thân tôi làm của lễ sống cho Thiên Chúa tối cao… Thánh Tông đồ đã nói : “Những ai sống trong sạch và đạo đức thì là đền thờ của Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần cư ngụ trong họ.” Thân xác chỉ bị ô uế nếu tâm hồn chiều theo… Nếu ông bắt tôi vi phạm ngược với ý tôi, thì sự trinh khiết của tôi sẽ mang lại cho tôi triều thiên đáng giá gấp hai.” Thánh Thomas Aquinô trích lại những lời sau cùng này và nói : “Không phải ngài nhận được hai hào quang của sự trinh khiết, nhưng ngài sẽ nhận được hai phần thưởng : một do sự trinh khiết mà ngài đã giữ đươc, và một do sự sỉ nhục mà ngài đã chịu.” (Summa theologiae, Suppl., q. 96, a. 5, ad 4).
Điệp ca của kinh Benedictus nhấn mạnh sự hiến mình hoàn toàn của thánh Lucia : “. . . Tôi hiến mình hoàn toàn cho Người.” Và điệp ca của kinh Magnificat cũng như bài đọc I thánh lễ làm nổi bật hình ảnh “vị hôn thê của Đức Kitô” : “Hỡi vị hôn thê của Đức Kitô, nàng giữ gìn được sự sống mình bằng sự kiên trì… “ (điệp ca). “Tôi đã dẫn anh chị em tới gặp Tân Lang duy nhất : anh chị em là vị hôn thê trinh trong và thánh thiện mà tôi đã giới thiệu với Đức Kitô” (2 Cr 11, 2). Hình ảnh Tân Lang cũng được lặp lại trong Tin Mừng thánh lễ : Kìa Tân Lang đã tới ! Hãy ra đón Người.
Bài đọc Giờ Kinh Sách trích từ Khảo luận của thánh Ambroise về sự trinh khiết, ca ngợi nhân đức Kitô giáo này, nhờ đó mà “vẻ kiều diễm của thân xác được chiếu sáng bởi ánh rực rỡ của tâm hồn.” Nhưng nếu sự trinh khiết là nguồn ánh sáng, thì trên hết nó là ước muốn nồng cháy được gặp Tân Lang : “Hãy suy gẫm không ngừng về Đức Kitô và mong chờ Người đến trong mọi lúc… Vì thế hãy ôm ấp Đấng mà bạn đã tìm kiếm ; hãy đến gần Người và bạn sẽ nhận được ánh sáng.” Và làm thế nào để giữ được Người ? “Người chỉ được trói buộc bằng các sợi dây tình yêu, bằng tình cảm của linh hồn.”
Lễ thánh nữ Lucia luôn rơi vào mùa Vọng, nên thích hợp tuyệt vời với phụng vụ của mùa này : “Con mở lòng con ra, lạy Chúa, để nghe lời ánh sáng của Ngài” (Xướng đáp của Kinh Sách). Tâm hồn và thân xác con kêu vang lên tới Thiên Chúa hằng sống (Tv 83, trong thánh lễ).
* * *
Ngày 14.12
THÁNH JEAN DE LA CROIX
Linh mục và tiến sĩ Hội Thánh (1542-1591)
Lễ buộc
I . Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Gioan Thánh Giá qua đời ngày 14 tháng 12 năm 1591, được phong chân phước năm 1675 và phong thánh năm 1726. Ngài được Đức Giáo Hoàng Piô XI tuyên phong tiến sĩ Hội Thánh năm 1926.
Thánh Gioan Thánh Giá tên thật là Juan de Yepes, sinh năm 1542 tại Fontiveros, miền Cổ-Castille (Tây Ban Nha), là con thứ ba của một gia đình quí tộc nghèo. Mẹ ngài là bà Catalina, người Do Thái, và cha ngài là ông Gonzales de Yepes, thuộc dòng dõi quí tộc.
Mồ côi cha từ năm lên 10, Juan học nghề dệt với mẹ, sau đó đi làm nghề săn sóc bệnh nhân ở Medina del Campo. Từ năm 1559 đến 1563, ngài học ở trường trung học của các cha Dòng Tên ở Medina, và năm 1563, khi 21 tuổi, ngài vào Dòng Carmel với tên gọi Gioan Thánh Máthias. Từ 1564 đến 1567, ngài theo học ở đại học Salamanque, là đại học quan trọng nhất của thế giới Kitô giáo thời bấy giờ. Ngài học Kinh Thánh, các Giáo Phụ và thần học kinh viện. Sau khi thụ phong linh mục (1567), ngài gặp Têrêxa Avila và cộng tác với thánh nữ trong việc cải cách dòng Carmel cho tới khi thánh nữ Têrêxa Avila qua đời năm 1582. Được thánh nữ dẫn đưa vào việc canh tân theo ý muốn của thánh nữ cho các nữ tu cũng như các thầy dòng, Thầy Gioan, từ đây gọi là Gioan Thánh Giá, lên đường đi Duruelo, tại đây khai sinh một cộng đoàn mới của các tu sĩ Carmel cải cách (sau này cũng gọi là các tu sĩ Carmel nguyên thuỷ, các tu sĩ không mang giày), khấn hứa tuân giữ luật dòng nguyên thuỷ. Đây là một sự trở về nguồn : suy niệm Kinh Thánh, cầu nguyện chiêm niệm, giữ thinh lặng, sống bác ái và phục vụ Giáo Hội. . .
Từ năm 1569 đến 1572, Gioan Thánh Giá dấn thân cho việc đào tạo các tu sĩ Carmel cải cách, và năm 1571, ngài theo thánh nữ Têrêxa đi lập nhà dòng Alba ở Torme. Từ 1572 đến 1577, ngài làm tuyên uý và cha giải tội cho tu viện Nhập Thể ở Avila, nơi thánh Têrêxa được chọn làm tu viện trưởng. Nhưng Dòng Carmel – phái theo luật rộng – âm mưu quyết liệt chống lại thánh Gioan Thánh Giá và các tu sĩ cải cách. Đêm ngày 2 tháng 12 năm 1577, Gioan bị cưỡng bức ra khỏi tu viện Nhập thể và bị nhốt vào xà lim trong tu viện của phái theo luật rộng ở Toledo.
Bị coi như kẻ phản loạn, bị nhục mạ và đánh đập, Thầy Gioan vẫn giữ được sự thanh thản tâm hồn và đã sáng tác những vần thơ thần bí có bề sâu và vẻ đẹp hiếm có : “Người Yêu tôi, Người ẩn ở đâu ?/ Nếu các bạn may phước gặp được Người / Người mà hồn tôi yêu mến / Hãy nói với Người rằng tôi đau khổ và hao mòn, rằng tôi đang chết. . . “ Nhưng 9 tháng sau (tháng 8 năm 1578), Thầy Gioan trốn thoát được và hay tin cuộc cải cách đã được chấp nhận. Thực vậy, năm 1580, Đức giáo hoàng Grégoire XIII đã thiết lập các tu sĩ không mang giày thành một Tỉnh Dòng độc lập.
Từ 1578 đến 1588, Thầy Gioan làm bề trên ở Andalousie, tu viện phó của tu viện Calvario ở miền nam Tây Ban Nha, giám đốc trường đại học ở Baeza và năm 1581, ngài dự Tổng tu nghị ở Alcala, tại tu nghị này, các tu sĩ cải cách được thiết lập thành một tỉnh riêng, sau đó ngài trở về Avila (tháng 11, 1581), tại đây ngài được gặp Mẹ Têrêxa Avila lần cuối, vì ngày 4 tháng 10 năm 1582, Mẹ Têrêxa qua đời.
Từ 1588 đến 1591, Thầy Gioan Thánh Giá được bổ nhiệm làm thành viên Ban Tham Vấn, thuộc tòa án trọng tài trông coi việc thi hành cuộc cải cách, nhưng Tổng tu nghị Madrid (1591) không giao phó trách nhiệm nào cho ngài. Từ đó ngài bị gạt ra ngoài ngay trong nội bộ công cuộc cải cách mà ngài là người phát động. Ngài bị chính những người trong dòng bỏ rơi, thậm chí bị bách hại, vu khống. Từ Madrid, ngày 6 tháng 7 năm 1591, ngài viết cho Mẹ Marie Nhập thể, tu viện trưởng của các tu sĩ Carmel không mang giày ở Segovia: “Con không cần phải buồn vì những điều xảy đến cho cha, vì nó cũng chẳng gây đau buồn gì cho cha cả… con không cần nghĩ ngợi về điều gì khác, ngoài điều chính yếu này : chính Thiên Chúa sắp đặt mọi sự. Ở đâu không có tình yêu, con hãy mang tình yêu đến đó, và con sẽ đón nhận được tình yêu.” Ngày 10 tháng 8, ngài lui về ẩn dật trong cảnh cô tịch tại Penuela, và bị bệnh sốt kéo dài cho tới cuối đời. Người ta đưa ngài đến tu viện Ubeda để chữa trị, ngài tỏ ra kiệt lực, đau đớn nơi thể xác và tinh thần, nhưng luôn tràn đầy tình thương và an bình. Đêm 13 rạng 14 tháng 12, Thầy Gioan Thánh Giá qua đời thọ 49 tuổi. Ngài xin người ta đọc cho ngài sách Diễm Ca, rồi tắt thở với cây thánh giá trong tay, miệng thì thầm :
“Trong tay Ngài, con phó thác linh hồn con.”
Thế là lời ước mà ngài diễn tả trong các bài thơ của ngài được thể hiện : “Oi lửa tình yêu, lửa bừng cháy, /. . . Hoàn tất đi, nếu người muốn ; / Cắt đứt đi đợt tấn công dịu dàng này !” (bài thơ Ngọn lửa bừng cháy). “Ôi đêm tối, ta thích mi hơn là bình minh ! / Ôi đêm tối có sức kết hợp / Người Yêu với người được yêu, / biến đổi người được yêu thành Người Yêu ! / . . . Mặt cúi xuống trên Người, / tất cả tan biến hết, tôi trao hiến cho Người” (bài thơ Đêm Tối).
Sản phẩm văn chương của thánh Gioan Thánh Giá gồm những bài thơ và những khảo luận thần bí.
a. Các bài thơ phần lớn được Thầy Gioan sáng tác trong tù ở Toledo, diễn tả hành trình kinh nghiệm thần bí của ngài, trong đó ngài ca ngợi sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa bằng văn phong trữ tình siêu phàm. Những bài thơ này làm ngài trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Thế Kỷ vàng của Tây Ban Nha. Hãy nhớ lại câu thơ : “Giữa đêm tối, hỡi người yêu, Người ẩn nấp ở đâu ? Và Ôi lửa tình yêu, lửa bừng cháy !
b. Những tác phẩm thần bí lớn của thánh Gioan Thánh Giá chỉ là những bình luận về các bài thơ của ngài. Cả hai tác phẩm Lên Núi Carmel và Đêm Tối đều bình luận về cùng một bài thơ : Giữa màn đêm tối. Quyển Ca Khúc Thiêng Liêng cắt nghĩa bài thơ : Hỡi người yêu, người ẩn nấp ở đâu ? Và cuối cùng, cuốn Ngọn Lửa Tình Yêu Bừng Cháy bình luận bốn đoạn thơ của bài Ôi lửa tình yêu, lửa bừng cháy, “Bài ca của linh hồn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa”.
Nhờ những khảo luận tột đỉnh này của kho văn chương Kitô giáo, thánh Gioan Thánh Giá được coi là vị “Tiến sĩ thần bí” tuyệt hảo.
II. Thông điệp và tính thời sự
Các lời nguyện của phụng vụ nhấn mạnh một đề tài trọng tâm của đời sống và của linh đạo thánh Gioan Thánh Giá : “lòng yêu mến thánh giá” (Lời Nguyện đầu lễ); “những mầu nhiệm cuộc khổ nạn đấng Cứu Thế” (Lời Nguyện trên lễ vật( và “mầu nhiệm thánh giá” (sau Hiệp lễ). Lời Nguyện đầu lễ cũng nhấn mạnh một khía cạnh đặc biệt của lòng yêu mến thánh giá : “sự bỏ mình hoàn toàn”.
– Chúng ta đọc trong quyển Lên Núi Carmel : “Để tâm hồn tới được sự biến đổi siêu nhiên, rõ ràng nó phải đi vào bóng tối (của đức tin) và gạt bỏ tất cả những gì thuộc bản tính cảm giác và lý trí của nó” (ch. IV, 2). Về tình yêu thập giá, vị Tiến sĩ thần bí diễn giải học thuyết của mình như sau trong cuốn Ca khúc Thiêng liêng (36, 35) : “Tâm hồn nào thực sự khao khát khôn ngoan thì cũng thực sự khao khát đi vào sâu hơn nữa trong chiều sâu của thập giá, là đường sự sống ; nhưng ít người vào được chỗ này. Mọi người đều muốn vào trong chiều sâu của sự khôn ngoan, sự giàu có và hoan lạc của Thiên Chúa, nhưng ít người muốn vào trong chiều sâu của đau khổ và những đớn đau mà Con Thiên Chúa đã phải chịu : có thể nói nhiều người muốn đạt tới đích mà không phải sử dụng con đường và phương tiện dẫn tới đó.”
– Lời Nguyện sau hiệp lễ kết thúc bằng lời cầu xin Chúa ban cho chúng ta “luôn luôn sống kết hợp với Đức Kitô, và hoạt động trong Hội Thánh vì phần rỗi anh chị em chúng ta.”
Về sự kết hợp thần linh hay kết hợp với Đức Kitô, thánh Gioan Thánh Giá giải thích ý tưởng ngài như sau : “Trạng thái kết hợp thần linh của linh hồn hệ tại sự biến đổi hoàn toàn ý riêng mình thành ý Chúa, sao cho trong ý riêng của mình không còn điều gì chống lại ý Chúa, nhưng mọi động cơ thúc đẩy ý muốn con người phải hoàn toàn và tuyệt đối là ý Chúa.” (Lên Núi Carmel I, II, 2). “Bởi đó linh hồn này được thanh tẩy, an bình, kiện cường, quân bình, khiến cho nó có thể tràn đầy sự kết hợp này một cách ổn định, mà sự kết hợp này không là gì khác hơn là cuộc hôn nhân giữa linh hồn với Con Thiên Chúa” (Đêm Tối 2, 24, 3). Sự lột xác tuyệt đối này vì thế là một phương tiện cần thiết để đạt tới tình trạng chiêm niệm, đạt tới sự kết hợp cá nhân với Chúa Kitô, Lang Quân của linh hồn. “Nhưng người ta không thể đạt một sự kết hợp như thế nếu không có một sự thanh tịnh to lớn, và sự thanh tịnh này chỉ có được khi có sự cởi bỏ mọi tạo vật và sự hãm mình sống động” (Đêm Tối 2, 24, 4). Điều này được thực hiện trong đức tin (đêm tối), là yếu tố đóng vai trò hàng đầu, nhưng tình yêu là động năng cơ bản và là mục tiêu của hành trình thần bí này.
Về việc cứu rỗi anh chị em mình, thánh Tiến sĩ thích trích dẫn câu của thánh Denis lAréopagite : “Công trình thần linh nhất trong các công trình thần linh chính là cộng tác với Thiên Chúa vì phần rỗi các linh hồn.” Và ngài cũng nói : “Lòng thương xót đối với tha nhân tăng trưởng trong linh hồn tỷ lệ với mức độ kết hợp bằng tình yêu của linh hồn với Thiên Chúa. Linh hồn càng yêu mến, nó càng ao ước cho Thiên Chúa được mọi người yêu mến và kính thờ ; và lòng ao ước này càng nồng cháy, linh hồn càng làm hết sức mình vì mục đích này, bằng lời cầu nguyện cũng như bằng những việc làm trong khả năng của mình.”
* * *
Ngày 21.12
THÁNH PHÊRÔ CANISIUS
Linh mục và tiến sĩ Hội Thánh (1521-1597)
Lễ nhớ
I . Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Phêrô Canisius qua đời tại Fribourg (Thuỵ Sĩ) ngày 21 tháng 12 năm 1597, được Đức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh và tuyên phong tiến sĩ Hội Thánh năm 1925. Ngài được ghi tên vào lịch Rôma năm 1926, và được gọi là “vị tông đồ thứ hai của nước Đức” đứng sau thánh Bonifatius.
Ngài tên thật là Phêrô Kanijs – phiên âm sang tiếng la tinh là Canisius – sinh tại Nimègue (Hà Lan) năm 1521 ; cha là thị trưởng của thành phố. Năm 1526, ngài đến Cologne học ngành luật, thần học và linh đạo Kitô giáo. Là bạn của các tu sĩ dòng Chartreux và phái nghiêm ngặt dòng Phanxicô ở vùng sông Rhin, cuối cùng ngài theo cha Phêrô Favre, một trong những môn đệ đầu tiên của thánh Ignatiô Loyola. Thế là ngài vào Dòng Tên ngày 8 tháng 5 năm 1543, lúc đó ngài 23 tuổi.
Trở thành giáo sư triết học, ngài cũng dấn thân vào việc xuất bản các tác phẩm của thánh Cyrile thành Alexandria và của thánh giáo hoàng Lêô Cả. Năm 1543, ngài đã xuất bản một bản dịch tiếng Đức của Tauler. Chịu chức phó tế năm 1544, ngài thụ phong linh mục năm 1546, và năm 1547, ngài được mời dự Công đồng Trentô với tư cách nhà thần học của giám mục giáo phận Augsbourg. Khi công đồng bị gián đoạn, thánh Ignatiô sai môn đệ của mình sang Sicilia, tại đây ngài dạy tu từ học ở Messina. Năm 1549, thánh Canisius khấn dòng tại Rôma và khi đi sang Bologna, ngài đậu tiến sĩ thần học. Trở về Đức, ngài tổ chức đại học Ingolstadt và dấn thân vào việc phục hưng và canh tân Kitô giáo trong tất cả các vùng thuộc dân tộc Đức đang bị cuộc ly khai Tin Lành đe doạ. Được bổ nhiệm giám tỉnh của Dòng Tên ở Đức và miền Thượng Đức, ngài mở các học viện và chủng viện ở Ingolstadt, Praha, Innsbruck, Trèves, Mayence, Dillingen, Spire và Wurzbourg. Tất cả các trung tâm này sẽ là những cái nôi của cuộc Cải Cách công giáo.
Năm 1561, thánh Phêrô Canisius được Bề Trên Tổng Quyền Dòng Tên là thánh Phanxicô Borgia giao nhiệm vụ phi bác tác phẩm hộ giáo tin lành mang tên Các Thể kỷ của Magdebourg. Ngài cũng cổ võ cho tác phẩm Conessio augustiniana (câu trả lời công giáo cho bản Tuyên tín Augsbourg) và xuất bản tác phẩm Lịch Sử các Giáo Hoàng của Panvinio, cũng như phổ biến thư từ của các vị truyền giáo, nhất là từ Ấn Độ và Nhật Bản.
Thánh Canisius cũng làm cố vấn cho các ông vua công giáo như hoàng đế Ferdinand I, và tìm cách hoà giải các xung đột giữa các ông vua này với giáo hoàng; được cử giữ chức kinh lược miền Thượng và Hạ Đức (1565-1566), ngài thành công trong việc ngăn cản một cuộc chiến tranh tôn giáo mới. Từ năm 1569, được nghỉ chức giám tỉnh, ngài chỉ lo việc bảo vệ đức tin công giáo ở Trung Âu. Chính trong thời kỳ này ngài soạn cuốn Giáo lý (bốn trăm ấn bản trong vòng một trăm năm, bằng mười hai thứ tiếng). Sau khi trình bày nội dung cơ bản của giáo lý công giáo trong tác phẩm Summa doctrinae christianae (1555), ngài tóm lược tác phẩm này thành những sách giáo lý (đặc biệt Sách Giáo Lý Nhỏ năm 1556) là cuốn sách thành công lớn đến nỗi trong nhiều thế kỷ, người Đức đã dùng tên ngài là Kanisi để chỉ về sách giáo lý. Ngài cũng bênh vực việc tôn sùng Đức Mẹ, gắn bó với niềm tin vào sự Trung gian phổ quát của Đức Trinh Nữ Maria. Được sai đi Fribourg (Thuỵ Sĩ) năm 1581, ngài lập Học viện Thánh Micae, và sống ở đây cho tới cuối đời. Tại đây ngài thu thập truyện các thánh của nước này và dấn thân hoạt động tông đồ và bác ái bằng cách làm cả các công việc khiêm hạ nhất. Ngài mất năm 1597, hưởng thọ 76 tuổi.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời Nguyện của ngày nhấn mạnh một số nét đặc trưng của thánh Phêrô Canisius, như “người bảo vệ đức tin công giáo, được trang bị bằng lòng can đảm và kiến thức.” Hoạt động văn học của ngài đạt thành công vang dội và lâu bền, nhắm vào việc bảo vệ và nhất là phổ biến sự hiểu biết giáo lý Kitô giáo Trong cuốn Summa doctrinae, lấy nguồn chủ yếu từ Kinh Thánh và Truyền thống, ngài trích dẫn trên một ngàn đoạn Kinh Thánh và hàng trăm bản văn của các Giáo Phụ.
Là giáo sư, nhà truyền giáo, văn sĩ, ngài chiến đấu trên mọi mặt trận cho cuộc Cải Cách công giáo nhất là ở Đức, Áo, Thuỵ Sĩ… Các sách giáo lý của ngài rất thực tế và đi vào cái cốt yếu:
“Bổn phận Ki-tô hữu là gì ? Tránh điều ác, nghĩa là tội lỗi, và làm điều thiện, nghĩa là những gì đức công bằng đòi hỏi.” “Bánh hằng ngày của chúng ta là những gì cần thiết và có ích cho đời sống của thân xác và linh hồn : của ăn và áo mặc, Lời Thiên Chúa, các bí tích của Hội Thánh.” Tâm điểm của tất cả là Đức Kitô, như lời ngài khuyên nhủ các thanh thiếu niên : “Được hiệp nhất bằng lòng bác ái, chúng ta hãy cắm chặt linh hồn chúng ta trong Đức Kitô, hãy tự do đi theo Đức Kitô, hãy cầu xin Thần Khí Đức Kitô, hãy hiệp nhất với Chúa Giêsu bằng cái chết và những đau khổ của chúng ta, và chúng ta hãy cùng chiếm hữu Người trong hạnh phúc vĩnh cửu.”
b. Giờ Kinh Sách cho chúng ta suy gẫm một kinh nguyện của thánh Canisius, trong đó ngài bộc lộ những kinh nghiệm thần bí và đời sống thiêng liêng phong phú của ngài : “Lạy Chúa, Ngài đã giao phó nước Đức cho con… vì nó con muốn sống và chết. Chính Ngài đã truyền cho con uống từ nguồn trái tim rộng mở của Ngài. Phần con, con khao khát muốn thấy trào vọt lên những sóng nước đức tin, đức cậy, đức mến. Con khao khát sự nghèo khó, trong sạch, vâng lời, con xin Chúa thanh tẩy con hoàn toàn. Cũng thế, sau khi con đã dám chạm đến Trái tim rất dịu dàng của Chúa và nhận chìm cơn khát của con trong Trái tim Chúa, Chúa hứa cho con một chiếc áo… đó là sự an bình, tình yêu và sự kiên trì. Được trang bị chiếc áo này cho phần rỗi của mình, con tin tưởng con sẽ không thất bại, nhưng sẽ thành công trong mọi sự vì vinh quang của Ngài.”
* * *
Ngày 23.12
THÁNH JEAN DE KENTY
Linh mục (1390-1473)
Lễ nhớ
I . Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Jean de Kenty qua đời vào đêm Giáng Sinh 1473, được phong thánh năm 1767 và được ghi tên vào lịch Rôma năm 1770. Ngài được chọn làm bổn mạng chính của Ba Lan.
Thánh Jean Kenty tên thật là Jean Wacienga, sinh năm 1390 tại Mêlec, một làng nhỏ của xã Kenty, gần Cracovie (Ba Lan). Hầu như cả đời ngài sống tại đại học Cracovie, do vua Casimir III sáng lập năm 1364 và được vua Ladislas II trùng tu năm 1400. Lúc đầu ngài dạy văn chương tại đây, sau đó ngài làm khoa trưởng phân khoa triết học (1432) và giáo sư thần học (1443). Được kết nạp vào kinh sĩ đoàn ở Saint-Florian, ngài cũng thực thi tác vụ quản xứ của giáo xứ Olkuxz, ở không xa Cracovie.
Vào một thời kỳ hết sức khó khăn, nhất là đối với người nghèo, thánh Jean de Kenty dành một phần thời gian để tiếp đón những người túng thiếu. Đối mặt với lạc giáo Jan Hus († 1415), ngài phản ứng kiên quyết chống lại sự lầm lạc, nhưng luôn tôn trọng các đối thủ.
Trong tinh thần sám hối, thánh Jean Kenty bốn lần đi hành hương mộ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô ở Rôma, và một lần hành hương Giêrusalem. Ngài qua đời lúc 83 tuổi ; hài cốt ngài được an nghỉ trong nhà thờ Thánh Anna ở Cracovie.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời Nguyện của ngày mời gọi chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta “tiến bộ trong sự hiểu biết mầu nhiệm Thiên Chúa theo gương thánh Gioan Kenty.”
Điều đã giúp vị đại thánh này toả sáng một cách phi thường cũng chính là nền văn hóa phong phú mà ngài đã đạt được bằng sức cố gắng kiên trì : “Tôi viết xong thì trời cũng vừa sáng, ngài viết ở lề của một bản thảo ; sao chép lại bản mẫu này thật là khó.” Các cố gắng của ngài đi đôi với lòng tin tưởng vào Thiên Chúa : “Lạy Chúa, xin đến giúp con”, ngài thường nói. Và để tăng thêm can đảm cho mình, ngài thường lặp đi lặp lại mỗi khi gặp khó khăn : “Giống như Chúa Giêsu trên thánh giá.” Mỗi đầu trang sách, ngài thích đề hàng chữ : “Nhân danh Chúa”, và ở cuối : “Ngợi khen Chúa”. Ngài cũng có một lòng sùng kính dịu dàng đối với Đức Mẹ.
b. Giờ Kinh Sách trích tông thư phong thánh của Đức giáo hoàng Clément XIII, nhấn mạnh những nhân đức của thánh Gioan Kenty : “Trong khi giảng dạy, ngài cố gắng làm việc để cắt nghĩa cho dân chúng về nền đạo đức thánh thiện nhất, và ngài xác nhận lời giảng dạy này bằng gương sáng của ngài về lòng khiêm nhường, trong sạch, thương xót, hãm mình… Đức khiêm nhường của ngài tỏ ra rất tự nhiên.” Chính trong kinh nguyện và chiêm niệm mà ngài tìm được sức mạnh và ánh sáng cho mình: “Trong ngày, sau khi làm xong phận sự, ngài đi thẳng vào nhà thờ. Và ở đó, trước Chúa Kitô ẩn mình trong Thánh Thể, ngài ở lại lâu giờ để chiêm ngắm và cầu nguyện. Chỉ có Chúa xâm chiếm hoàn toàn quả tim ngài, chỉ có Chúa ở trên đôi môi ngài.”
c. Câu Xướng đáp tiếp theo bài đọc nói lên đức bác ái của thánh nhân : “Hãy mở cửa lòng con cho người nghèo : họ là anh em con … – Chia sẻ cơm bánh cho người đói, đó là việc ăn chay đẹp lòng Chúa.” Truyền thống thích nhắc đến thánh Gioan Kenty là người lấy áo quần, giày dép và cả phần ăn của mình ban cho người nghèo. Chắc hẳn việc chia sẻ phần ăn này đã dẫn đến việc thiết lập một tập tục trong các tu viện là dành một phần ăn cho người nghèo, với châm ngôn : “Người nghèo đến là Chúa Kitô đến.”
Không thể chịu được cảnh thấy ai chịu đau khổ, thánh Gioan Kenty cho viết trên các tường nhà của ngài những câu nhắc nhở về đòi hỏi bác ái huynh đệ, ví dụ như : “Con hãy tránh xúc phạm, vì đền bù xúc phạm sẽ khó hơn.” Thế nên, nếu chẳng may ngài làm tổn thương một ai bằng lời nói, dù chỉ là vô tình, thì trước khi bước lên bàn thờ, ngài khiêm nhường xin tha thứ. Cũng vậy, ngài khuyên dạy các môn đệ ngài : “Hãy chiến đấu chống lại mọi ý kiến sai lạc, nhưng khí giới của các con phải là lòng kiên nhẫn, dịu dàng và bác ái.”
* * *
Ngày 26.12
THÁNH STÊPHANÔ
Tử đạo tiên khởi
Lễ kính
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ kính thánh Stêphanô (tiếng Hi Lạp stephanos=triều thiên) đã được chứng thực là mừng vào ngày 26 tháng 12 bởi sách tử đạo của Nicômêđi (316), sách bài đọc của Giêrusalem (415/417), và sách tử đạo của Syria (411). Đến thế kỷ V, lễ này được truyền sang phương Tây. Tuần bát nhật của lễ đã được mừng từ thế kỷ VIII trong Giáo Hội Rôma, và Giáo Hội này đã đưa câu tưởng nhớ vị thánh tử đạo vào trong lễ qui Rôma : “Xin thương nhận chúng con vào cộng đoàn các thánh tông đồ và tử đạo, thánh Gioan Tẩy Giả, thánh Stêphanô…” Giáo Hội cũng đã dâng kính ngài ngôi thánh đường cổ nhất trên đường Via Latina, vào thời thánh giáo hoàng Lêô Cả. Ở Rôma, có đến ba chục ngôi thánh đường dâng kính vị thánh tử đạo tiên khởi này.
Theo một truyền thống của thế kỷ V, thánh Stêphanô bị ném đá ở ngoài thành Giêrusalem, tại cổng phía bắc thành Đamás. Giám mục Juvénal của Giêrusalem đã cho xây ngay trên nơi thánh Stêphanô tử đạo một vương cung thánh đường, và hài cốt của ngài được đưa về đây vào năm 439. Về sau, hoàng hậu Eudoxie († 460) cho xây dựng lại và mở rộng vương cung thánh đường này để trở thành ngôi đền thờ lớn nhất tại Giêrusalem, với một tu viện lớn rất kiên cố.
Các cuộc khai quật khảo cổ học năm 1882 đã phát hiện những di tích của vương cung thánh đường Byzantin của hoàng hậu Eudoxie, từng bị người Ba Tư phá huỷ năm 614. Tại khu đất này ngày nay là những toà nhà của Trường Kinh Thánh và Khảo Cổ học Pháp.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Ngày lễ kính thánh Stêphanô, chúng ta cầu xin Chúa dạy chúng ta “lòng yêu mến kẻ thù, theo gương thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi, là người đã biết cầu xin ơn tha thứ cho chính những kẻ giết mình” (Lời Nguyện đầu lễ).
– Tường thuật cuộc tử đạo của thánh Stêphanô mà chúng ta đọc trong thánh lễ (Cv 6, 8 -7,60) nhấn mạnh sự giống nhau giữa cái chết của Stêphanô người môn đệ với cuộc hi sinh tột đỉnh của người Thầy mình là Đức Giêsu. Là chứng nhân trung thành của Chúa Kitô, ngài không tìm điều gì khác hơn là sống phù hợp với đời sống của Đấng Cứu Thế. Vì thế, lời cầu nguyện của ngài : Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ, làm dội lại âm vang lời cầu xin của Chúa Giê-su : Lạy Cha, xin tha cho họ… Cũng thế, lời cầu nguyện của thánh tử đạo tiên khởi : Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận hồn con, gợi lại lời cầu của Chúa Giêsu : Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.
b. Lời Nguyện hiệp lễ làm nổi bật mối tương quan giữa sinh nhật của Chúa Giêsu, Đấng cứu chuộc chúng ta, với ngày lễ kính thánh Stêphanô, người làm cho chúng ta hoan hỉ vui mừng. Qua cái chết của ngài, vị tử đạo tiên khởi bước vào sự sống đời đời, vì cửa trời từng bị đóng chặt kể từ tội của con người đầu tiên là Ađam, nay được mở ra nhờ cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu, Ađam mới. Chính thế mà thánh Stêphanô, tràn đầy Thánh Thần, đã tuyên bố trước mặt các địch thủ : Này tôi đang thấy trởi mở ra : Con Người đứng bên phải Thiên Chúa (Bài đọc 1). Khi phó thác thần khí mình cho Chúa, thánh tử đạo tiên khởi Stêphanô bước vào sự sống vĩnh cửu và đón nhận phần thưởng của kẻ chiến thắng (xem Ca Nhập lễ).
c. Thánh Stêphanô, con người đầy ân sủng và quyền năng Thiên Chúa (Cv 6, 8), và hiến mình phục vụ Hội Thánh Giêrusalem, cũng là người tham gia vào việc loan báo Tin Mừng. Đây chính là điều khích động sự căm thù của đối phương, dẫn đến việc ngài bị bắt và chịu tử hình.
– Trong bài giảng ngày lễ thánh Stêphanô, Đức cha Fulgence de Ruspe ca ngợi đức ái, vì chính đức ái “đã đưa Chúa Kitô xuống trần gian, chính đức ái đã đưa thánh Stêphanô lên trời… Vì tình yêu Thiên Chúa, ngài đã không lùi bước trước sự thù nghịch của người Do Thái; vì tình yêu đồng loại, ngài đã cầu xin cho những kẻ ném đá ngài… Được mạnh mẽ nhờ đức ái, ngài đã chinh phục được Saolô…Vì thế, thưa anh chị em, bởi Đức Kitô đã bắt thang bác ái cho người Kitô hữu chúng ta lên trời, nên anh em hãy can đảm sống trung thành với đức ái tinh tuyền, hãy thực thi đức ái với nhau, và hãy lên trời bằng con đường đức ái” (Kinh Sách).
– Cũng vậy, Thánh thi của Giờ Kinh Sách ca ngợi cùng một nhân đức ấy : “Cao cả thay người thí mạng sống mình, / nhưng người biết tha thứ còn cao cả hơn thế ; / tốt lành thay người biết yêu kẻ thù, / nhưng người thí mạng vì kẻ làm hại mình / còn tốt lành hơn thế.” Chính Đức Kitô, là Thầy và Chúa chúng ta, đã nêu gương cho chúng ta.
* * *
Ngày 27.12
THÁNH GIOAN
Tông đồ và tác giả Tin mừng († cuối thế kỷ I)
Lễ kính
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Cùng với lễ kính thánh Giacôbê Tiền, anh của ngài, lễ kính thánh Gioan Tông đồ đã được ghi nhận là mừng vào ngày 27 tháng 12 trong lịch Nicômêđia (thế kỷ IV), Sách Nguyện Syrie, lịch Carthagô, và cả các lịch của phương Tây : ở Palestin, thế kỷ VI, mừng ngày 29 tháng 12, và ở Armênia, ngày 28. Ở phương Tây, lễ này đã được ghi nhận từ thế kỷ VI và VII ; sách Bí tích Vêrôna ở thế kỷ VI đưa ra hai mẫu cử hành.
Theo các sách Tin Mừng, Gioan (tiếng Hi Lạp : ioannès, bởi tiếng Do Thái yohanân = Thiên Chúa ban ơn) là con ông Giêbêđê, làm ngư phủ ở Bếtsaiđa (Mc 1, 20), và bà Salômê, một trong những phụ nữ đã đi theo Chúa Giêsu (Mc 15, 40 và Mt 27, 56). Có lẽ ngài từng thuộc phái Quá Khích. Sau khi làm môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Ga 1, 39), người giới thiệu Đức Giêsu như là Chiên Thiên Chúa, ngài đi theo Chúa Giêsu cùng với Anđrê, anh của Phêrô, và còn trở thành một môn đệ được Chúa Giêsu yêu cách đặc biệt. Hơn nữa, ngài được chia sẻ những bí ẩn thâm sâu nhất của Chúa Giêsu; chúng ta biết điều này khi ngài tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, bởi đó ngài có biệt danh là Epistethios, người được Chúa thương mến (xem Ga 13, 23). Ngài có mặt vào những giờ phút quan trọng nhất của cuộc đời Thầy mình : khi Chúa Giêsu cho con gái ông Giairô sống lại, lúc Chúa Biến hình, trong giờ Chúa hấp hối ở Giếtsêmani, và lúc Chúa chịu đóng đinh thập giá. Sau đó ngài tham dự Công đồng Giêrusalem, và trong danh sách các tông đồ (Cv 1, 13), ngài đứng ngay sau thánh Phêrô.
Thánh Gioan đi rao giảng Tin Mừng ở Samaria cùng với thánh Phêrô (Cv 8, 14) và ở cùng với thánh Phêrô khi người què được chữa lành ở cửa Đền thờ (Ga 3, 13). Thánh Phaolô gọi ngài là trụ cột của Hội Thánh (Ga 2, 9). Theo truyền thống, có thể lúc đầu ngài sống ở Antiochia, rồi ở Êphêsô, tại đây người ta còn kính viếng mộ ngài. Sau đó có lẽ ngài đến Rôma, tại đây, theo Tertullien, có thể ngài bị hành hình bằng đổ dầu sôi lên người ở gần Cửa La tinh, và sự kiện này là nguồn gốc cho một lễ mừng ngài vào ngày 6 tháng 5, đã được nhắc đến từ năm 780 và nhắc nhớ việc cung hiến một thánh đường dâng kính thánh Gioan. Sau cùng, theo truyền thống, ngài bị phát vãng sang đảo Patmos thuộc quần đảo Dodecanese (Hy Lạp), tại đây ngài viết sách Khải Huyền. Ngài qua đời lúc tuổi rất cao, có thể vào cuối thế kỷ I, dưới thời Dominitien (81-96) hay thời Trajan (98-117).
Với chút dè dặt, người ta cho rằng ngài là tác giả của Tin Mừng thứ bốn, của ba Thư thánh Gioan, và sách Khải Huyền. Khoảng năm 175, thánh Irênê viết : “Gioan, tông đồ của Chúa, người đã tựa vào ngực Chúa, cũng đã viết một sách Tin Mừng trong thời gian ngài cư trú tại Êphêsô” (Adv. Haer., III, I, 1).
Các tranh ảnh vẽ về thánh Gioan Tông đồ rất phong phú, thường dưới dạng một thanh niên trẻ trung, hay họa hiếm hơn, dưới dạng một cụ già đang viết sách Khải Huyền hay sách Tin Mừng, bên cạnh là một con phượng hoàng. Các giai thoại cuộc đời ngài được trình bày trên những ô kính của các nhà thờ Chartres, Bourges, Saint-Chapelle, cũng như trên những bức phù điêu của Giotto (Santa Croce) hay của F. Lippi (Santa Maria Novella) ở Florence.
II. Thông điệp và tính thời sự
Phụng vụ (Các giờ kinh và thánh lễ) vẽ lên một chân dung khá đầy đủ về tính cách và thông điệp của thánh tông đồ “người tựa đầu vào ngực Chúa… và rao truyền lời sự sống trên khắp mặt đất” (Ca Nhập lễ).
a. Lời Nguyện của ngày và Lời Nguyện sau hiệp lễ ca ngợi thánh Gioan như là người loan báo mầu nhiệm Nhập thể : “Lạy Chúa, Chúa đã tỏ lộ cho chúng con mầu nhiệm của Ngôi Lời Chúa”, “xin Ngôi Lời làm người mà thánh Gioan đã công bố cho chúng con …”
Cũng vậy, hai ngày sau lễ Giáng Sinh, lễ thánh Gioan Tông Đồ đưa chúng ta trở lại với mầu nhiệm Giáng Sinh : Ngôi Lời đã làm người, và đã cư ngụ giữa chúng ta. Tất cả chúng ta được dự phần vào sự viên mãn của Người (Ca hiệp lễ, trích Ga 1, 14.16).
– Giờ Kinh Sách cho chúng ta đọc một bình luận của thánh Augustin về một đoạn trong Thư thứ nhất của Gioan, cũng được đọc trong bài đọc I của thánh lễ : Phải, sự sống đã tỏ hiện, chúng tôi đã chiêm ngưỡng sự sống ấy, và chúng tôi làm chứng…. (Ga 1, 2). “Như thế, chính sự sống đã tỏ lộ trong xác phàm – thánh Augustin bình luận – . . . Ngôi Lời đã mặc lấy xác thể, một xác thể mà chúng ta có thể nhìn thấy, để được chữa lành nơi chúng ta những gì có thể nhìn thấy Ngôi Lời.”
b. Tin Mừng của thánh lễ (Ga 20, 2-8) nhắc chúng ta nhớ thánh Gioan cũng là chứng nhân và sứ giả của mầu nhiệm Vượt qua, nghĩa là của Chúa Giêsu phục sinh. Sau khi đã là chứng nhân của biến cố Biến Hình, ngài đi ra ngôi mộ trống cùng với thánh Phêrô, ngài thấy và ngài tin (xem Ga 20, 8). Ngài là người môn đệ đầu tiên tin Chúa phục sinh, và ở bên bờ hồ, chính ngài nhận ra Chúa phục sinh và nói với Phêrô : Thầy đó! (Ga 21, 7 – Điệp ca Giờ Kinh Sáng).
c. Người môn đệ mà Chúa Giêsu thương mến và đã sống trong sự thân mật với Chúa Kitô, đã cảm nghiệm và khám phá ra Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4, 8). Thực vậy, trong Tin Mừng của ngài, thánh tông đồ được thương mến đã nhấn mạnh rằng chính lòng mến là điều mang lại ý nghĩa cho công cuộc và đặc biệt cho cuộc khổ nạn của Chúa Kitô : Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Cha, Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13, 1). Lòng mến cũng là khởi điểm cho sứ mạng của thánh Phêrô : Simon, con ông Gioan, anh có mến thầy không ? – Thưa thầy có, thầy biết con mến thầy. Chính khi Phêrô tuyên xưng lòng mến này, Chúa Giêsu đã trao phó cho ngài sứ mạng mục tử tối cao : Hãy chăm sóc các chiên con của thầy… Hãy chăn dắt các chiên mẹ của thầy… Hãy chăn dắt các chiên mẹ của thầy (Ga 21, 15).
Thánh Gioan cũng là người được Chúa Giêsu từ trên thánh giá trao phó Mẹ của Người (xem điệp ca 3 Kinh Sáng). Theo truyền thống, việc thánh Gioan đưa Đức Maria về nhà làm mẹ mình là hình ảnh của mọi tín hữu được Đức Maria thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng.
* * *
Ngày 28.12
CÁC THÁNH ANH HÀI, tử đạo
Lễ kính
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Các Giáo Hội phương Đông và phương Tây mừng kính Các Thánh Anh Hài trong những ngày tiếp theo lễ Giáng Sinh. Lễ này đã được chứng thực lần đầu tiên bởi thánh Phêrô Kim Ngôn ở phương Tây vào nửa đầu thế kỷ V, sau đó bởi lịch Carthagô và sách Tử Đạo của thánh Hiêrônimô.
Tường thuật về cuộc thảm sát các thánh Anh Hài theo lệnh vua Hêrôđê Cả được viết trong Tin Mừng Mátthêu (2, 16-18). Theo sách Tin Mừng này, vua Hêrôđê Cả vì muốn khử trừ Chúa Giêsu mà Ba Vua đã loan báo là vị “Vua dân Do Thái”, nên đã nổi cơn cuồng nộ và sai lính đi giết tất cả trẻ dưới hai tuổi ở Bethlehem và trong khắp vùng (2, 16).
Thánh Mátthêu trình bày cuộc sát hại này như là để ứng nghiệm một sấm ngôn của ngôn sứ Giêrêmia : Tại Rama nổi lên tiếng kêu la than khóc : đó là tiếng của bà Rachel than khóc các con mình và không để ai an ủi, vì con bà không còn nữa (2, 18).
Cuộc tử đạo của các thánh Anh Hài là một chủ đề quen thuộc của khoa tranh ảnh thánh Kitô giáo: trên cửa và cung hợp xướng Nhà Thờ Đức Bà (Paris); các tấm thảm về Cuộc Đời Đức Mẹ ở Beaune (Bờ Biển Vàng); các phù điêu của Giotto (Padua), của Tintoret (Venise), của Rubens (Munich), Poussin (Paris, Petit Palais) . . .
II. Thông điệp và tính thời sự
Khi ca mừng các hài nhi bị Hêrôđê sát hại như là những anh hùng tử đạo, phụng vụ giúp chúng ta thấu hiểu bản chất của chứng tá tột đỉnh này. Cũng giống như phép Rửa, chứng tá này trước hết là một ơn ban không của Thiên Chúa cho những trẻ sơ sinh.
a. Lời Nguyện của ngày, các thánh Anh Hài đã loan báo vinh quang Chúa “chỉ bằng cái chết của các em”. Lời tung hô của Tin Mừng cũng nhấn mạnh cùng một khía cạnh của mầu nhiệm này: “Chúa là Đấng các thánh anh hài tử đạo làm chứng.” và Điệp ca 2 của Kinh Sáng thêm : “Các em làm chứng cho Thiên Chúa bằng cái chết của mình, các em ca khen Thiên Chúa dù chưa biết nói thành lời.” Như thế, khi làm sáng tỏ bản chất cuộc sát hại các thánh Anh Hài, phụng vụ tạo ý nghĩa cho vô số các cuộc tử đạo còn đang tiếp diễn trên thế giới qua dòng lịch sử.
b. Thiên Chúa có đáp lời cho cuộc tử đạo của các hài nhi không ? Thánh thi Giờ Kinh Sách hát lên : “Tại sao Người mãi lặng thinh, / ôi Thiên Chúa bí ẩn, / Khi các hài nhi ngã gục dưới lưỡi gươm ? (đoạn 1). Chính trong cái chết của các ngài, các thánh anh hài tử đạo của Bêthlehem đã được cứu thoát bởi Đấng vừa sinh ra, Đấng mà một ngày kia sẽ trao hiến “cả thân mình cho đao phủ” (đoạn 2) và ban ơn tha thứ “cho cánh tay vấy máu” (đoạn 3). Các thánh Anh Hài chỉ là những “hoa quả đầu mùa dâng lên cho Thiên Chúa và Chiên Con” (điệp ca Giờ Kinh Sách và ca hiệp lễ). Cho dù “không thể tuyên xưng danh Con Thiên Chúa, các ngài đã được vinh quang nhờ ơn sủng cuộc sinh ra của Người” (Lời Nguyện sau hiệp lễ). Thiên Chúa là nguồn cứu độ cả cho những ai không có khả năng nhận biết Người (xem Lời Nguyện trên lễ vật).
c. Thánh Quodvultdeus, giám mục Carthagô († 453), đã kêu lên : “Hỡi Hêrôđê, ông sát hại những thân xác yếu đuối này vì nỗi sợ đã giết chết quả tim ông … Những hài nhi bé nhỏ này chết vì Chúa Kitô mà không biết, và những trẻ thơ còn chưa biết nói, thì Chúa Kitô đã biến các em thành những chứng nhân của Người… Đây Đấng Giải phóng đã thực hiện sự giải phóng, và Đấng Cứu Độ đã mang đến ơn cứu độ.” Vì thế, việc tử đạo cũng giống như phép Rửa, trước hết là hoa quả của ân sủng, nghĩa là một tặng phẩm ban không mà Thiên Chúa dành cho những hài nhi chưa có khả năng hiểu biết, nhưng là đối tượng của tình yêu và ơn cứu độ của Người. Thế nên vị thánh giám mục Carthagô đã bình luận : “Cao cả thay quà tặng của ân sủng ! Các ngài được ơn cứu độ chỉ là nhờ ân sủng Thiên Chúa ban không, vì thế các hài nhi bị giết vì Đức Kitô đi theo Con Chiên rất tinh tuyền ; các ngài không ngừng ca hát : Vinh danh Người, lạy Chúa !” (Giờ Kinh Sách và điệp ca của kinh Benedictus).
* * *
Ngày 29.12
THÁNH THOMAS BECKET
Giám mục và tử đạo (1117 hay 1118-1170)
Lễ nhớ
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Thomas Becket, giám mục Cantorbéry, bị sát hại ngày 29 tháng 12 năm 1170 trong nhà thờ chính toà của ngài. Ngài được phong thánh ngay từ năm 1173, và việc tôn kính ngài mau chóng lan rộng khắp cả phương Tây. Lễ nhớ ngài được cử hành ở Rôma từ thế kỷ XII, trong tuần bát nhật Giáng Sinh.
Thánh Thomas Becket sinh tại Luân Đôn năm 1117 hay 1118, trong một gia đình gốc Normandie. Là sinh viên ở Paris cho tới năm 1139, ngài trở về quê hương và làm giáo sĩ cũa Tổng giám mục Cantorbéry. Nhờ đó, ngài có cơ hội sang Ý : ở Rôma, rồi ở Bologna. Sau đó ngài đến Auxerre (Bourgogne) theo học khoa luật. Năm 1154, ngài trở thành tổng phó tế và đại pháp quan của vương quốc nhờ được sự sủng ái của vua Henry II, vua nước Anh (1154-1189), trong khi vị vua này theo đuổi một chính sách nhằm củng cố quyền lực của nền quân chủ. Để thực hiện điều này, vua loại trừ lực lượng chống đối của các lãnh chúa và tổ chức guồng máy hành chinh bằng việc bổ nhiệm các quan chức triều đình.
Yêu thích sự vui vẻ, đời sống ở triều đình và săn bắn, là nhà quản trị và luật gia tài giỏi, thánh Thomas Becket được cả sự quí mến của nhà vua lẫn sự ủng hộ của dân chúng. Là một chiến binh, tuy cũng là giáo sĩ, ngài tham gia cuộc chiến chống lại vua Louis VII nước Pháp, và đã chiến đấu anh dũng trong cuộc vây hãm thành Toulouse.
Được bầu làm tổng giám mục Cantorbéry và giáo chủ nước Anh tháng 5 năm 1162, thánh Becket được thụ phong linh mục ngày 2 tháng 6 và ngày hôm sau thụ phong giám mục. Thực thi sứ mạng một cách nghiêm túc, ngài dấn thân trước hết vào việc bảo vệ quyền lợi của Giáo Hội mà vua Henry II đang muốn hạn chế. Thế nên, theo sau việc ban hành Hiến pháp Clarendon (1164), theo đó nền tư pháp của Giáo Hội phải lệ thuộc nền tư pháp của nhà vua, thánh Béckét tuy đơn độc nhưng đã kiên quyết chống lại nhà vua. Thế là vua Henry II triệu tập một đại hội ở Northampton (tháng 10 năm 1164) kết án vị đại pháp quan của vương quốc. Ngài lưu vong sang Pháp, lúc đầu ngài đến cư ngụ tại tu viện Xi-tô ở Pontigny (Yonne), sau đó ngài đến ở Sens. Trong cuộc lưu vong của ngài, thánh Becket sống một nếp sống đơn sơ khắc khổ, nhưng vẫn không nao núng theo đuổi việc bảo vệ quyền giáo chủ nước Anh của ngài vì lợi ích của Hội Thánh. Những giám mục và giáo sĩ không ủng hộ ngài đều bị ngài ra vạ tuyệt thông.
Tháng 12 năm 1170, vị đại pháp quan trở về nước Anh theo sau một chiến dịch muốn hoà giải nhà vua với tổng giám mục. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục. “Không một ai đủ can đảm loại trừ tên linh mục này cho ta sao ?” vua Henry thốt lên. Thế là bốn hiệp sĩ thân cận của nhà vua quyết định khử trừ vị đại pháp quan từng thách thức nhà vua của mình. Chiều ngày 29 tháng 12 năm 1170, khi các giáo sĩ và tu sĩ đi theo vị tổng giám mục của họ vào nhà thờ chính toà Cantorbéry, các hiệp sĩ cố gắng dùng vũ lực lôi ngài ra ngoài. Thánh Thomas Becket lấy hết sức đẩy họ ra, nhưng họ rút gươm chém vị mục tử anh hùng, và sau nhát chém thứ ba, ngài gục ngã trước bàn thờ Đức Mẹ.
Trọng tội này tạo một chấn động vô cùng to lớn. Vua Henry II bị Đức giáo hoàng Innôcentê II ra hình phạt sám hối công khai, và năm 1172, vua phải rút lại Hiến pháp Clarendon. Thi hài vị giám mục được an táng tại chính nơi ngài chịu tử đạo, và mộ ngài trở thành trung tâm hành hương lớn nhất của nước Anh.
Cuộc tử đạo của thánh Thomas Becket tạo cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn chương và kịch phẩm. Nổi tiếng là vở kịch : Thảm sát trong Nhà thờ lớn (1935) của nhà soạn kịch người anh T.S. Eliot : một kịch bản thần bí về cái chết của thánh Thomas Becket, với dàn hợp xướng theo truyền thống Hi Lạp.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời Nguyện của ngày nhấn mạnh đặc biệt tâm hồn cao cả và lòng yêu công lý đã dẫn thánh Thomas Becket tới chỗ hi sinh mạng sống mình. Ngài nói với các giáo sĩ đứng quanh ngài : “Sự lo sợ cái chết không thể làm chúng ta quay lưng lại với công lý.” Và với những người khuyên ngài rời bỏ chức vụ để cứu lấy mạng sống, ngài đáp : “Chúng ta đến đây là để chịu đau khổ… và chúng ta sẽ chiến thắng kẻ thù bằng sự đau khổ hơn là bằng sự chiến đấu.” Luôn lo lắng để có một thái độ nhất quán, ngài nhắc nhở giám mục Gilbert : “Vận động viên chỉ được nhận triều thiên nếu họ chiến đấu theo qui luật.”
b. Lá thư thánh Thomas Becket viết cho giám mục Gilbert (xem Giờ Kinh Sách) làm nổi bật đặc biệt lòng trung thành của ngài với Chúa Kitô, với sứ mạng giám mục và với Hội Thánh Rôma. “Chiến đấu theo qui luật,” thực vậy, đó là “thực sự đi theo vết chân của Đấng mà Thiên Chúa đã đặt làm thượng tế đời đời và là Đấng đã tự hiến mình cho Chúa Cha trên bàn thờ thập giá vì chúng ta.” Mọi giám mục phải giảng dạy và nuôi dưỡng đàn chiên trong lòng trung thành với Chúa Kitô.
c) Hội Thánh Chúa Kitô được xây dựng trên thánh Phêrô. “Cho dù con số các giám mục đông bao nhiêu – thánh Thomas Becket còn nhắc nhở – nhưng không ai nghi ngờ việc Giáo Hội Rôma đứng đầu tất cả các Giáo Hội, và là nguồn mạch của giáo lý công giáo… Cho dù kẻ tưới người trồng là ai, nhưng Thiên Chúa chỉ cho mọc lên những gì được trồng trong lòng tin của thánh Phêrô và phù hợp với giáo lý của ngài.” (Giờ Kinh Sách).
Gieo trồng Hội Thánh “trong lòng tin của thánh Phêrô” cũng có thể đòi hỏi hi sinh chính mạng sống mình. Vị thánh giám mục Cantorbéry nêu cho chúng ta một tấm gương sáng lạn, qua lời mà T.S. Eliot đặt nơi miệng ngài : “Tôi là một linh mục, được cứu rổi nhờ máu Chúa Kitô sẵn sàng chịu đau khổ cùng với máu của tôi. Đó là dấu chỉ của Hội Thánh, luôn luôn là dấu chỉ của máu : máu trả nợ máu. Máu của Người đổ ra để chuộc mạng sống tôi, máu của tôi đổ ra để trả giá cái chết của Người.” (Vở kịch Thảm Sát trong Nhà Thờ Lớn).
* * *
Ngày 31.12
THÁNH SYLVESTRE
Giáo hoàng († 335)
Lễ nhớ
I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Sylvestre, vị giáo hoàng thứ 33, qua đời ngày 31 tháng 12 năm 315, được an táng tại nghĩa trang Priscilla ở Rôma ; lễ nhớ ngài đã được ghi trong lịch cổ xưa nhất, đó là lịch Depositio episcoporum năm 354, và được các sách bí tích Rô-ma ghi nhận là mừng vào ngày 31 tháng 12. Trong các Giáo Hội Syria, Hi Lạp và Armênia, lễ thánh Sylvestre được mừng ngày 2 tháng 1.
Người ta không biết gì nhiều về đời sống của ngài trước khi ngài đắc cử giáo hoàng năm 314. Khi kế vị thánh giáo hoàng Miltiade (311-314), ngài đang là một linh mục ở Rôma. Trong triều đại giáo hoàng rất dài của ngài (314-335), lịch sử Hội Thánh được đánh dấu bằng sự phát triển của Kitô giáo tiếp theo sau nền hoà bình do vua Constantinô mang lại. Tuy ngài vắng mặt trong các công đồng đầu tiên, nhưng ngài đã gửi các đại biểu tham dự. Đặc biệt, tại công đồng Arles (314) kết án phái Donatus, ngài gửi bốn đại biểu. Tại công đồng Nicêa (325), được triệu tập để kết án lạc giáo Arius và tuyên bố tín điều về thiên tính của Chúa Kitô, ngài cũng cử đại biểu tham dự.
Rất nhiều truyền thuyết đã góp phần làm cho thánh Sylvestre nổi tiếng và được sùng kính, làm cho Hội Thánh mãi mãi ghi nhớ về ngài, đặc biệt qua một bức tranh ghép mà Đức giáo hoàng Lêô III đặt vẽ ở thánh đường Latêranô. Ở trung tâm của bức tranh là Chúa Kitô có các tông đồ bao quanh ; một bên người ta có thể chiêm ngưỡng cảnh Chúa Kitô một tay trao chìa khóa cho thánh Sylvestre, tay kia trao cờ hiệu cho hoàng đế Constantinô. Chuyện giáo hoàng Sylvestre rửa tội cho hoàng đế và chuyện Quà tặng của Constantinô chỉ là truyền thuyết. Quà tặng này là một sự gán ghép giả mạo trong những Sắc Chỉ giả mạo, theo đó hoàng đế dâng tặng thành phố Rôma và lãnh thổ của hoàng đế cho giáo hoàng Sylvestre I và các vị kế nhiệm ngài.
Thánh Sylvestre là vị thánh đầu tiên không tử đạo được Giáo Hội Rôma sùng kính, giống như thánh Martin thành Tours được sùng kính ở Gaule.
II. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời Nguyện của ngày có vẻ như ám chỉ đến ý nghĩa của ngày cuối năm, trùng với ngày thánh giáo hoàng qua đời, vì đêm lễ thánh Sylvestre cũng là lúc kết thúc một năm dân sự: “Lạy Chúa, xin đến cứu dân Chúa ; nhờ lời cầu nguyện của thánh giáo hoàng Suylvestre, xin nâng đỡ dân Chúa : xin dẫn đưa dân trên đường đời chóng qua này, để đạt tới đời sống vĩnh cửu.”
b. Phụng vụ Giờ Kinh Sách, trong một đoạn trích từ Lịch Sử Giáo Hội của Eusèbe de Césarée († 338), nhắc đến triều đại giáo hoàng rất dài của thánh Sylvestre, một thời kỳ bình an và phát triển của Hội Thánh, sau hai thế kỷ bị bách đạo : ”Từ đây, một ngày rực rỡ và trong vắt dọi chiếu các Giáo Hội của Chúa Kitô trên khắp thế giới bằng những tia sáng từ trời… Tất cả những nơi đã từng bị quân vô đạo tàn phá cách đây không lâu, nay chúng ta có thể thấy bắt đầu hồi sinh sau một thời gian dài tan hoang chết chóc.”
Chắc hẳn uy quyền của Đức giáo hoàng đã bị lu mờ trước uy quyền của hoàng đế Constantinô. Tuy nhiên, thánh Sylvestre I đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức Kitô giáo của Rôma, thành phố đã trở thành thủ đô của Kitô giáo. Ngài là người xây dựng những vương cung thánh đường đầu tiên tại Rôma : Thánh Gioan Lateranô, Thánh Phêrô ở Vaticanô, và thánh Phaolô trên đường Ostia. Chính sử gia Eusèbe đã viết trong cuốn Giáo sử : “Chúng ta đã có thể chứng kiến một quang cảnh mà ai ai cũng đều khao khát mong đợi : những lễ cung hiến được tổ chức trong mỗi thành phố, những cuộc thánh hiến các thánh đường vừa được xây dựng” (Giờ Kinh Sách).
Chớ gì lời chuyển cầu của thánh giáo hoàng Sylvestre mà chúng ta đặc biệt cầu xin vào ngày cuối năm, luôn hỗ trợ dân thánh Chúa “trên đường đời chóng qua này, để đạt tới đời sống vĩnh cửu” (Lời Nguyện của ngày).




