NHỮNG THỂ CHẾ TÔN GIÁO – XÃ HỘI VÀ PHONG TỤC DO – THÁI
1. Sinêdriô, Hội đồng Tối cao Do-Thái
Sau khi chế độ quân chủ bị tiêu diệt và nền thống trị ngoại bang đã được thiết lập trên xứ Palestina, trong tay những vị đại diện dân tộc còn lại một quyền bính có tính cách tôn giáo nhiều hơn. Quyền bính đó ở trong tay hàng tư tế và nhất là “Hội đồng Tối cao”.
“Sinêdriô” hay Hội đồng Tối cao Do-thái là một hình thức Thượng nghị viện quý phái có quyền tư pháp, tôn giáo và ở trong một giới hạn, quyền chính trị. Trong văn chương Rabbi thường được gọi là Đại hội hay Toà án.
Hội đồng Tối cao được thành lập và hoạt động dưới thời thống trị của Hy-Lạp theo một hình thức cai trị trong các tỉnh thuộc văn hóa Hy-lạp (x. 1 Mac 11,23; 14,28). Hội đồng Tối cao gồm có 71 nhân viên (x. Xh 24,1; Ds 11,16) chia làm ba hạng : các vị thượng tế (Các thượng tế là những người đã từng giữ chức Thượng tế hoặc những người có thế giá thuộc chi tộc các thượng tế.), kỳ lão và luật sĩ.
Dưới thời Macabê – Hasmônêô và dưới thời Hêrôđê, Hội đồng Tối cao không có thực quyền là bao, nhưng dưới thời các Tổng trấn Rôma, quyền của Hội đồng Tối cao trở nên quan trọng và hữu hiệu vì các Tổng trấn Rôma áp dụng tôn chỉ chung là để cho dân Do-thái hoàn toàn tự do về phương diện tôn giáo và được tự trị trong lãnh vực hành chính một cách khả quan.
Hội đồng Tối cao, dưới sự hướng dẫn của vị Thượng tế, có nhiệm vụ giữ gìn trật tự chung và vì thế có một đội cảnh sát người bản xứ (Mt 27,65 tt). Hội đồng Tối cao có quyền thu một vài thứ thuế và quyền tư pháp. Bất cứ vấn đề tôn giáo hay xã hội nào có liên quan tới luật Do-thái đều thuộc thẩm quyền Hội đồng Tối cao. Chúa Giêsu, các thánh Tông đồ Phêrô, Giacôbê, Gioan, Phaolô và thánh Stêphanô đã phải ra trước Hội đồng Tối cao và bị kết án như những tiên tri giả và những kẻ nói phạm thượng.
Hội đồng Tối cao Do-thái thường họp ở phòng “Đá vuông” ở góc tây nam sân trong của Đền thờ. Trong những trường hợp đặc biệt khẩn cấp cũng có thể họp tại nhà vị Thượng tế, chủ tịch Hội đồng. Dưới thời các Tổng trấn Rôma, những quyết nghị của Hội đồng Tối cao có giá trị hành pháp, trừ quyền xử tử. Hội đồng Tối cao có quyền tuyên án xử tử, nhưng chỉ có quyền thi hành án tử hình sau khi đã được Tổng trấn Rôma chấp thuận.
2. Hàng tư tế
Các vị tư tế, vì chuyên lo việc phụng tự Thiên Chúa nên rất có uy tín. Theo luật Môsê, họ Lêvi được tận hiến cho việc phụng tự. Aaron, hai con ông : Êlêazar và Itamar và con cháu hai ông được tôn làm tư tế chính thức, các chi tộc khác thuộc họ Lêvi được tôn làm trợ tế (Levite). Những trợ tế có nhiệm vụ điều khiển và cử hành những bài hát phụng vụ trong Đền thờ. Sau cuộc lưu đày và trong thời Tân Ước, những trợ tế có ít quyền hành và ảnh hưởng.
Tận hiến cho Chúa, các vị tư tế phải tách biệt ra khỏi đám đông quần chúng bằng cách ăn ở và y phục. Vị tư tế phải giữ những quy chế về sự tinh sạch theo luật pháp (pureté légale) rất nghiêm khắc. Y phục vị tư tế gồm có một áo bằng vải gai từ cổ xuống tới chân, một dây thắt lưng nhiều màu rộng và dài và một khăn bằng vải gai trắng hình nón.
Đặc biệt là y phục của vị Thượng tế ngoài áo dài, vị đó còn mặc một áo ngoài tựa như áo dòng màu thiên thanh dài tới đầu gối, và ephod, một áo giống như áo lễ kiểu Rôma che trước ngực và sau lưng, trên ngực có tấm bảng quý giá, trên tấm bảng có 12 viên đá ghi tên 12 chi tộc Israel. Phía trước khăn trùm đầu có một bảng nhỏ dài bằng vàng khắc chữ “tận hiến cho Chúa”.
Trong Đền thờ, các tư tế không đi giày. Y phục các tư tế để ở trong Đền thờ. Trong thời kỳ làm việc phụng tự, các tư tế không được uống rượu và các đồ uống có men (Lv 10,8 tt). Vua David đã chia các tư tế làm 24 phiên thay nhau phục vụ trong Đền thánh, mỗi phiên một tuần (1 Ks 24).
Trong Phúc Âm, cũng có nhắc tới các phiên đó (Lc 1,5), nhưng ta không biết rõ có bao nhiêu phiên trong thời Chúa Giêsu. Nhiều tư tế ở ngoài thành Giêrusalem và chỉ đến Giêrusalem khi phải phục vụ ở Đền thờ. Các tư tế có trách nhiệm phục vụ trong Đền thờ và bàn thờ, dâng lễ vật, thay bánh trên bàn thờ, chúc lành cho dân chúng và quản lý tài sản của Đền thờ.
Tân ước và Giuse Flaviô có nói tới vị tư tế “coi Đền thờ” có trách nhiệm giữ gìn trật tự ở nơi thánh. Vị đó có một cộng sự viên là thủ quỹ. Vị Thượng tế đứng đầu hàng tư tế, là trung gian chính giữa Thiên Chúa và dân Ngài, nên được kính trọng và có ảnh hưởng nhiều trong đời sống dân tộc.
Trước thời Hêrôđê đại vương, chức Thượng tế có tính cách cha truyền con nối. Vị Thượng tế đầu tiên là Aaron, rồi tới Elêazar. Các vị Thượng tế tiếp theo đều thuộc chi tộc Elêazar. Với Thượng tế Hêli, chức Thượng tế lại về chi tộc Ithamar (em Elêazar). Đến thời Salômon, Thượng tế Abiathar thuộc chi tộc Ithamar bị cách chức, và Thượng tế Sadoc, thuộc chi tộc Elêazar lên thay. Thời Macabê – Hasmonêô, chức Thượng tế lại về tay họ này (họ Macabê – Hasmonêô là dòng dõi tư tế).
Dưới thời Hêrôđê và người Rôma, chính quyền đặc cách chọn vị Thượng tế và nhiều khi chọn người đút lót nhiều tiền bạc và có thể tin cậy về phương diện chính trị, vì thế nhiệm vụ Thượng tế mất tính cách cha truyền con nối. Từ thời Hêrôđê đến khi Chúa Giêsu chịu Tử nạn, trong khoảng 65 năm có tới 15 vị Thượng tế. Trong các vị đó, có nhiều vị chỉ giữ chức Thượng tế trong vòng một năm hay ngắn hơn. Những Thượng tế bị cất chức cùng với những người trong chi tộc làm thành một giai cấp mà Phúc Âm và Giuse Flaviô gọi là “những Thượng tế”. Phần đông các Thượng tế thuộc phái Sađđucêô (Cv 5,17).
Thời Chúa Giêsu, thế giá các vị Thượng tế bị suy giảm nhiều vì các Thượng tế này thuộc phái Sađđucêô. Phái này bị dân chúng ghét và giáo thuyết của họ bị Biệt phái và các Luật sĩ đả kích. Phúc Âm nhắc tới hai Thượng tế Anna và Caipha (Gio 18,13). Anna làm Thượng tế từ năm 6 trước Công nguyên.
Đến năm 15, Anna bị Valêriô Gratô cất chức. Tuy bị cất chức, trong thực tế, Anna vẫn còn uy quyền vì trong số sáu vị Thượng tế kế tiếp thì năm người là con ông và một người là con rể ông. Sau Anna, đến Elêazar (16-17). Năm 18, Valêriô đặt Caipha, con rể Anna làm Thượng tế.
Caipha giữ chức Thượng tế tới năm 36. Chính trong thời kỳ Caipha làm Thượng tế, Chúa Giêsu đã bị kết án và chịu Tử nạn. Sau Caipha là Gionathan (36-37), Theophilê (37-41), Matthia (42-43), Ananô (Anna; 61-67). Ananô bị giết trong cuộc chiến tranh Do Thái năm 67.
Chức Thượng tế không còn tồn tại sau khi Giêrusalem bị tàn phá vào năm 70.
3. Đền thờ và các Hội đường (Sinagoga)
Ý thức sống động về những giây thân ái, nối kết các phần tử của dân Chúa chọn thành một khối, làm cho những người Do-thái quý trọng và tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của những việc phụng tự Chúa cách công khai và có tính cách cộng đồng. Những việc phụng tự chính gồm có dâng lễ vật, cầu nguyện chung và dâng cho Chúa một phần thời giờ bằng cách giữ ngày Sabbat và các ngày lễ khác.
Đời sống tôn giáo làm chúng ta chú trọng đến những nơi thờ phượng : Đền thờ Giêrusalem và các hội đường.
Đền thờ đối với người Do thái là nơi duy nhất để dâng lễ vật lên Thiên Chúa ở mạn đông thành Giêrusalem. Chúa Giêsu đã lui tới Đền thờ do vua Hêrôđê xây. Đền thờ thứ nhất do vua Salomon xây đã bị Nabucodonosor phá hủy năm 587 khi hạ thành Giêrusalem.
Đền thờ thứ hai được xây cất sau thời kỳ lưu đày và khánh thành năm 515 đã bị Hêrôđê phá hủy dần dần để xây lại cho nguy nga hơn. Đền thờ do Hêrôđê xây gồm có ba phần : hành lang, sân Đền thờ và Đền thờ. Những dãy hành lang rất đẹp vây quanh Đền thờ. Đáng kể nhất là dãy hành lang phía nam cũng gọi là hoàng trụ quan và hành lang phía đông cũng gọi là hành lang vua Salomon (Gio 10,23; Cv 3,11).
“Pinnaculum” hay nơi cao của Đền thờ, có lẽ là góc đông nam, chỗ hai dẫy hành lang nói trên gặp nhau. Đền thờ gồm có sân ngoài, tức là sân chư dân, tất cả mọi người đều có thể lui tới, phía trong sân gần Đền thờ có một hàng lan can chỉ giới hạn mà người ngoại giáo không được phép vượt qua.
Ở đó có những tấm bảng viết bằng Hy ngữ và La ngữ cấm người ngoại giáo vào quá giới hạn đã chỉ, nếu vi phạm sẽ bị tử hình. Năm 1871, người ta đã tìm thấy một trong những tấm bảng đó viết bằng Hy ngữ. Qua sân chư dân, lên mấy bậc thang là tới sân trong, chung quanh có tường dày bao bọc.
Sân trong chia làm ba khu : sân phụ nữ, sân Israel và sân dành cho các tư tế ở đó có bàn thờ toàn thiêu. Một thang 12 bậc dẫn tới nội điện. Nội điện gồm có tiền đường, nơi thánh và nơi cực thánh. Tiền đường, giống như một khải hoàn môn, rộng 50 m, cao 50 m, có một cửa lớn, trên cửa có một phượng hoàng bằng vàng. Qua tiền đường là nơi thánh dài 20 m, rộng 10 m, cao 10 m, ở giữa nơi thánh có bàn thờ dâng hương bằng vàng, hai bên bàn thờ dâng hương về mạn bắc có bàn thờ dâng bánh và phía nam có cây đèn bảy ngọn. Một bức màn lớn ngăn tiền đường và nơi thánh.
Theo luật, chỉ có các tư tế trong khi làm việc phụng tự mới được vào nơi thánh. Trong cùng là nơi Cực Thánh, hình lập phương mỗi bề 10m. Trước lưu đày, nơi Cực Thánh là chỗ để hòm đựng bia Thập giới và gậy ông Aaron nở hoa. Sau lưu đày, thay vì hòm đựng bia Thập giới là một tấm đá, trên tấm đá này, vị Thượng tế đặt bình hương ngày lễ Đền tội. Chỉ có vị Thượng tế được vào nơi Cực Thánh mỗi năm một lần vào ngày lễ Đền tội.
Sau lưu đày, những Hội đường (Sinagoga) đã giúp ích nhiều trong việc duy trì và phát triển đạo Do-thái, nâng đỡ đời sống đạo đức nội tâm cá nhân và gián tiếp giúp việc truyền bá Kitô giáo. Trong thời kỳ lưu đày, những người Do-thái thường hội nhau để cầu nguyện và học giáo lý. Thói quen đó được tiếp tục và phổ biến sau lưu đày vì không thể lên Giêrusalem dự các nghi lễ phụng tự chính thức một cách dễ dàng.
Thời Chúa Giêsu, hầu hết những nơi nào có người theo đạo Do-thái đều có Hội đường. Ngay ở Giêrusalem cũng có nhiều Hội đường cho những người Do thái từ xa về trong các dịp đại lễ. Cả những cộng đồng Do-thái ngoài xứ Palestina cũng có Hội đường.
Theo những khám phá mới của khoa cổ học, Hội đường là một ngôi nhà rộng hình chữ nhật có hai hàng cột chia nhà làm ba gian. Mặt trước Hội đường hướng về Giêrusalem. Hội đường có ba cửa : một cửa chính và hai cửa phụ.
Đồ đạc trong Hội đường gồm có một tủ đựng Sách Thánh, trước tủ có một hay nhiều đèn dầu, một yên sách cho người xướng kinh, cho người đọc Sách Thánh và cho người giải nghĩa Sách Thánh và một số ghế cho các đạo hữu.
Chủ tịch Hội đường trông nom Hội đường và chủ toạ các buổi họp. Vị nầy được trạch cử trong số các bậc kỳ lão của cộng đồng (Cv 13,15). Chủ tịch Hội đường có một tùy viên giúp đỡ ông trong những phiên hội, dạy giáo lý cho trẻ em và thi hành hình phạt bằng roi của tòa án địa phương (Mt 10,17). Thường thường hội vào ngày thứ bảy và các ngày lễ, chương trình gồm có cầu nguyện, đọc Sách Thánh và dạy giáo lý.
Buổi hội bắt đầu bằng kinh “Shema” gồm có ba đoạn Kinh Thánh (Đnl 6,4-9; 11,13-21; Ds 15,37-41) rồi tiếp đến 18 lời chúc tụng diễn tả niềm tôn thờ Chúa và xin cho được thắng thù địch. Sau những lời chúc tụng Chúa, đến giờ đọc những đoạn Sách Thánh trích từ các sách Luật và các sách Tiên tri bằng tiếng Do-thái.
Thời Chúa Giêsu, dân chúng nói tiếng Aram, ít người hiểu tiếng Do-thái, nên sau khi đọc bằng tiếng Do-thái, các đoạn Sách Thánh được dịch ra tiếng Aram. Tiếp đến một bài giảng giải thích những đoạn Sách Thánh vừa đọc. Bất cứ ai có mặt trong phiên hội đều có quyền giảng.
Diễn giả hoặc đã được chủ tịch Hội đường chọn trước hay tự ý xin giảng. Chúa Giêsu và các Tông đồ đã lợi dụng thủ tục này để rao giảng Tin Mừng cho những người Do-thái ở xứ Palestina và tản mác khắp nơi. Buổi hội kết thúc bằng câu chúc lành lấy ở sách Dân số 6,22-27.
Nếu trong số những người hiện diện có một thầy tư tế thì thầy tư tế đọc lời chúc lành đó. Trong trường hợp không có thầy tư tế thì tất cả mọi người đọc chung.
4. Các ngày lễ
Dân Israel nhận quyền tối cao của Thiên Chúa và dâng Chúa một phần thời giờ bằng cách nghỉ làm việc xác ngày Sabbat và giữ các ngày lễ. Các thầy Rabbi dạy : “Ai không giữ các ngày lễ thì cũng như người thờ thần tượng”. Trong các ngày lễ, người ta dâng nhiều lễ vật, nghỉ làm việc xác và họp nhau nơi Hội đường. Nghỉ các việc xác ngày Sabbat là một đặc điểm phân biệt dân Do-thái với các dân ngoại (Xh 20,10) và theo các luật sĩ, đối với người Do-thái, là một trong những nhiệm vụ căn bản.
Sách Giubilêô chép rằng : Thiên Chúa và các Thiên thần cũng giữ ngày Sabbat. Trong ngày Sabbat phải để tâm trí vào việc ca ngợi Chúa, phải nghỉ hoàn toàn và cấm ngặt không được làm việc gì (Xh 20,8-11), cả đến việc đốt lửa để nấu ăn (Xh 35,3) hay kiếm củi.
Ngày Sabbat bắt đầu từ hoàng hôn chiều thứ sáu tới hoàng hôn chiều hôm sau. Ngày thứ sáu phải sửa soạn tất cả những gì cần thiết cho ngày hôm sau, vì thế gọi là “parasceve” : chuẩn bị ngày lễ (Gio 19,31). Với thời gian và qua lối giải thích của các luật sĩ, việc nghỉ việc xác vào ngày Sabbat trở nên rất phiền toái. Những điều phải giữ trở nên tỉ mỉ, khắt khe và nặng nhọc. Sách Mishna kể 39 thứ việc không được làm ngày Sabbat.
Tuy vậy, trong một vài trường hợp, ví dụ : trước một việc bổn phận quan trọng hay cấp bách người ta có thể làm mà không lỗi luật, được làm các việc phụng tự, tránh cái chết, hay kéo bò sa hố lên.
Đạo luật quá khắt khe nầy đã làm cho nhiều người tìm cách trốn luật mà không phải tội. Trong các ngày lễ đáng chú ý có : ngày đầu tháng, các lễ hành hương (lễ Vượt qua, lễ Năm mươi và lễ Lều trại), lễ Sám hối, lễ Cung hiến Đền thờ và lễ Số mệnh.
A. Ngày đầu tháng :
Ngày đầu mỗi tháng được coi là thời giờ thánh.
Trong Đền thờ người ta dâng nhiều lễ vật và trong mỗi gia đình có tổ chức yến tiệc. Ngày đầu tháng bảy đánh dấu đầu năm dân sự, hôm đó phải kiêng việc xác.
B. Các ngày lễ hành hương :
Mỗi năm, người Do-thái mừng lễ “Vượt qua”, lễ Năm mươi và lễ Lều Trại : đó là những lễ hành hương (Xh 23,14-17; Lv 23). Trong các dịp lễ nầy, người Do-thái phải lên Đền thờ Giêrusalem và theo các tài liệu thường có một số rất đông về dự lễ ở Giêrusalem.
Phụ nữ, trẻ em dưới 12 tuổi và những người tàn tật được miễn (Lc 2,41).
a) Lễ “Vượt qua”
Đối với người Israel, lễ Vượt qua là một đại lễ vì là lễ kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi nước Ai-cập. Sách Giubilêô dạy : “Ai không giữ ngày lễ “Vượt qua” sẽ bị tiêu diệt” (49,8). Lễ “Vượt qua” bắt đầu mừng vào chiều ngày 14 Nisan (Tháng Nisan là tháng đầu năm Do thái vào khoảng trung tuần tháng ba tới trung tuần tháng tư dương lịch. Lễ bắt đầu từ chiều hôm 14 đến 21 Nisan) và kéo dài 8 hôm. Trong thời gian đó cấm không được dùng bánh có men, vì thế lễ “Vượt qua” cũng gọi là lễ “Bánh không men” (Dies Azimorum) (Xh 12,15 tt; Mt 26,17; Cv 20,6).
Ngày 14 Nisan – ngày thứ nhất tuần ăn bánh không men (Mc 14,12) – sau hoàng hôn, bắt đầu tiệc “Vượt qua” trọng thể và kéo dài tới nửa đêm. Các người dự tiệc nằm tựa trên các ghế dài xung quanh bàn. Nghi thức bữa tiệc đã được ghi một cách rõ ràng trong sách Mishna Mishna (là sách ghi lại những lời dạy, những tập truyền của tiền nhân).
Khi mọi người đã an tọa, gia trưởng lấy một ly rượu đọc lời chúc tụng và trao cho những người dự tiệc, những người nầy uống rượu, ăn bánh không men và rau đắng chấm trong một thứ nước dùng có màu gạch gọi là haroshet.
Sau khi gia trưởng đã giải thích ý nghĩa của cuộc lễ, nhắc tới những ân huệ của Chúa với kỷ niệm được giải phóng khỏi Ai-cập, bắt đầu ăn thịt chiên với rau đắng và bánh không men. Con chiên này đã được giết ở sân Đền thờ, xâu vào hai thanh củi để nướng và không được làm gẫy một chiếc xương nào. Đang khi ăn, uống ly rượu thứ hai và đọc phần thứ nhất ca khúc Hallel gồm các Thánh vịnh 112 và 113,1-8. Sau đó uống ly rượu thứ ba và đọc phần thứ hai ca khúc Hallel gồm các Thánh vịnh 114 – 117. Bữa tiệc có tính cách tôn giáo này kết thúc sau khi uống ly rượu thứ tư. Trước và trong bữa tiệc có rửa tay theo nghi lễ.
Ngày 15 và 21 Nisan phải kiêng việc xác. Ngày 16 phải dâng một bó lúa để tạ ơn Chúa về mùa màng đã thu hoạch và để nhận chủ quyền của Chúa trên mọi sản phẩm của trái đất. Dịp lễ Vượt qua thường đọc Diệu Ca vì có nói đến mùa xuân và ca ngợi tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Ngài, mà sự giải phóng ra khỏi xứ Ai-cập là biểu hiện lòng yêu thương đó.
b) Lễ Năm mươi
Lễ Năm mươi đối với người
Do-thái cũng rất quan trọng. Lễ Năm mươi cũng gọi là lễ “hoa quả đầu mùa” hay lễ 7 tuần vì mừng vào cuối tuần
thứ bảy sau ngày dâng bó lúa vào dịp lễ Vượt qua. Trong dịp lễ, người ta dâng trong Đền thờ bánh đầu mùa làm bằng những hạt miến mới và dâng nhiều lễ vật, hôm đó phải kiêng việc xác.
Theo truyền thuyết các thầy Rabbi, lễ Năm mươi là lễ kỷ niệm ngày Thiên Chúa đã ban Luật trên núi Sinai; Rabbi Elêazar (270 sau Công nguyên) đã tuyên bố: “Lễ Năm mươi là ngày mà Luật đã được ban”. Trong dịp lễ này người đọc truyện bà Ruth vì câu chuyện kể lại trong sách xẩy ra vào mùa gặt.
c) Lễ Lều trại
Từ 15 đến 22 tháng 7 (Tishri – khoảng tháng 9, 10 dương lịch) người Do-thái mừng lễ Lều Trại. Trong thời gian đó, người Israel ở trong lều hay những nhà làm bằng cành và lá cây (Gio 7,2). Lễ này có tính cách bình dân và vui vẻ (Lv 23,34).
Lễ này có mục đích tạ ơn Chúa đã phù hộ cho dân trong sa mạc và tạ ơn Chúa vì những thu hoạch hằng năm. Phải kiêng việc xác ngày đầu và ngày cuối lễ. Ban tối ngày thứ nhất, người ta đốt đèn ở sân phụ nữ và múa theo nhịp hát các Thánh vịnh 119 – 133. Trong bảy ngày, vào dịp tế lễ ban mai, vị tư tế xuống hồ Siloê múc nước rồi đổ trên bàn thờ cùng với rượu để kỷ niệm phép lạ Chúa đã làm cho nước chảy từ phiến đá ra. Khi dâng lễ vật, người ta hát Thánh vịnh 117. Trong dịp này, người ta đọc sách Giảng viên nói về đời chóng qua, mà nhà lá là tiêu biểu.
C. Các ngày lễ khác
a) Lễ Đền tội
Mồng mười tháng bảy (Tishri) có lễ Đền tội. Lễ nầy có tính cách sám hối và kiêng việc xác. Người Israel phải ăn chay và trong Đền thờ vị Thượng tế dâng nhiều lễ vật để xin Chúa tha tội. Vào dịp này, vị Thượng tế vào nơi Cực Thánh xông hương và lấy máu bò và dê rẩy trên hòm bia.
Nghi lễ đó có mục đích tái lập sự hợp nhất giữa Thiên Chúa và dân Ngài mà tội lỗi đã làm gián đoạn hay thương tổn. Rồi vị Thượng tế giơ tay trên đầu một con dê, xưng các tội của dân và đuổi nó ra sa mạc.
b) Lễ Cung hiến Đền thờ : Ngày 25 tháng 9
(Kisleu – tháng 11, 12 dương lịch) có lễ Cung hiến Đền thờ (Encaenia) kỷ niệm việc Giuđa Macabê đã tu bổ và tẩy uế Đền thờ năm 164 trước Công nguyên, sau khi đã bị Antiôcô Epiphanê làm nhơ bẩn (1 Mac 4,52 tt; 2 Mac 10,1-8), cũng gọi là lễ ánh sáng vì trong 8 ngày liên tiếp người ta chưng đèn ở Đền thờ và các nhà tư nhân.
c) Lễ khác
Còn một lễ nữa là lễ Số mệnh (Purim) vào trung tuần tháng Adar (tháng 2, 3 dương lịch), kỷ niệm cuộc chiến thắng của người Do-thái xứ Ba-tư (x. Esther 8 – 10).
5. Đời sống đạo đức cá nhân
a) Cầu nguyện
Những người Israel ngoan đạo quý trọng sự cầu nguyện. Văn chương Do-thái đồng thanh ca tụng sự cần thiết và quý giá của sự cầu nguyện. Theo gương và lời khuyên của tác giả cuốn “Luật Cộng đồng” (“Luật Cộng đồng” là một trong các cảo bản tìm thấy ở Qumran, phía tây bắc Biển Chết), người ta phải luôn luôn dâng lên Thiên Chúa lời nguyện ca ngợi Chúa. Những người Do-thái có thói quen cầu nguyện mỗi ngày ba lần : sáng, trưa và tối (Đnl 6,11.14).
Mọi người phải đọc sáng chiều kinh Shema. Các luật sĩ còn dạy phải đọc mỗi ngày 18 lời chúc tụng Chúa. Khi ăn cơm cũng thường quen đọc một vài lời nguyện và chúc tụng.
b) Chay tịnh
Một đặc điểm của lòng đạo đức Do-thái là chay tịnh. Trong nhiều trường hợp, chay tịnh là một luật bắt buộc. Ngày lễ Đền tội, mọi người phải giữ chay nghiêm nhặt từ chiều ngày mồng 9 đến chiều ngày mồng 10 tháng bảy để xin ơn tha tội. Khi trời đại hạn hay khi tổ quốc phải tai ương, họ ăn chay để cầu mưa hay xin Chúa cho qua khỏi tai ương. Mỗi tuần hai lần người Do-thái ăn chay. Theo quan niệm của sách IV Esdra, ngoài việc chắc được ơn tha thứ các tội lỗi, chay tịnh còn làm Chúa đoái thương đến kẻ tội lỗi và mở trí để hiểu biết các sự mầu nhiệm (IV Esd 5,20.31; 6,35).
c) Lời khấn
Luật còn dạy phải thi hành các lời khấn (vota). Lời khấn có thể là một lời hứa sẽ làm một việc thiện hay dâng Chúa một của gì (Đnl 23,22). Một thiên trong sách Mishna (Nedarim) thu thập những tập truyền của các tiến sĩ Do-thái về lời khấn. Thường thường khi muốn dâng Chúa của gì, người ta nói “Qorban”, nghĩa là “của dâng”, đôi khi người ta nói trại là “Qonam”. Các Rabbi cũng chỉ định rõ ràng trong trường hợp nào người ta được miễn không phải giữ lời khấn (khấn vì vô ý, vì sợ hay không thể thi hành được ). Họ cũng dạy những cách thực hành để khỏi phải giữ lời khấn với Chúa mà không phạm luật.
d) Phép cắt bì
Nhưng cử chỉ tôn giáo căn bản và rất mực quan trọng như Cựu Ước đã nói rõ là phép cắt bì. Phép cắt bì là dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa và Abraham (x. St 17; Xh 12,44.48; Lv 12,3).
Ở đây ta đứng trước một thủ tục miền Cận đông có trước lời giao ước với Chúa và thủ tục này nơi dân Irael có thêm ý nghĩa tôn giáo; theo quan niệm trong Thánh Kinh, một hiệp ước được phê chuẩn bằng máu. Những phần tử ưu tú vẫn hiểu rằng người ta phải lo cắt bì trong tâm khảm (Đnl 30,6; 10,16; St 4,4; 6,10; 10,25).
Những tác phẩm đạo Do-thái đều đồng thanh nhấn mạnh giá trị của phép cắt bì trong thế giới hiện tại cũng như trong thế giới mai ngày. Đặc tính là con cháu Abraham mà phép cắt bì là biểu hiệu, bảo đảm cho tất cả những người Israel trong thế giới mai ngày.
Trẻ sơ sinh phải cắt bì ngày thứ tám, dù ngày đó là ngày Sabbat (St 17,12; Gio 7,22; 1342); trong dịp này, người ta đặt tên cho con trẻ và đọc lời chúc tụng. Thường thường nghi lễ đó được cử hành ở nhà do người cha dùng con dao bằng đá; sau này, nghi lễ đó được giao cho một người chuyên môn (moel). Các nô lệ và tân tòng cũng phải chịu phép cắt bì. Cắt bì cho các trẻ sơ sinh để chỉ rằng con trẻ đó đã sinh lại cách thiêng liêng qua sự tận hiến cho Chúa.
e) Sự tinh sạch theo luật pháp (pureté légale) :
Sự tinh sạch theo luật pháp là một trong những điều mà dân Do-thái lo lắng hơn cả, và được nhiều người coi như là căn bản của sự hoàn thiện và đời sống luân lý. Ô uế theo luật pháp là một điểm xấu của cơ thể do một số hành động (ví dụ chạm tới xác chết) hay do những trạng thái đặc biệt của cơ thể (ví dụ bệnh phong cùi).
Những hành động hay những trạng thái đặc biệt đó tuy không làm cho người Israel mắc tội, nhưng làm cho họ không được tham dự vào những việc phụng tự và thu hẹp sự tự do hành động của họ. Luật kể ra nhiều thứ ô uế theo pháp luật (Lv 11 tt). Vì sợ trở nên ô uế theo luật pháp, nên người Israel cố sức tránh tiếp xúc với người ngoại giáo vì đất và bánh của họ là đồ ô uế và là dụng cụ truyền bá sự ô uế (Am 7,17; Esd 4,13; Os 9,3).
Người Israel muốn giữ sự tinh sạch theo luật pháp để được dự vào việc phụng tự nên lo lắng tẩy uế khi bị ô uế theo pháp luật. Để tẩy uế, họ phải giặt quần áo, tắm gội, rẩy nước và trong một vài trường hợp phải dâng lễ vật (Lv 12,6 tt; 14; Ds 19; Mt 8,4; Lc 2,22-23).
Theo ý vị lập pháp, những luật về sự tinh sạch theo luật pháp có mục đích chính là nhắc dân Israel đặc tính là dân đã được tận hiến cho Chúa và bổn phận phải ăn ở thánh thiện và công bằng (Đnl 7,5 tt; Lv 11,43; 19,2; 20,7); đồng thời cũng giáo dục họ và giữ họ khỏi những tiếp xúc nguy hiểm với người ngoại giáo.
Những tác phẩm của Do-thái giáo đặc biệt chú ý đến sự tinh sạch theo luật pháp bằng cách định rõ những trường hợp và những hoàn cảnh làm cho người ta ra ô uế theo luật pháp, cũng như bằng cách giải thích những luật về sự tinh sạch theo luật pháp. Trong những luật lệ đó, người ta chú trọng đến những luật về việc rửa tay trước khi dùng bữa (x. Mt 15; Mc 7).
6. Đời sống kinh tế xã hội
Sách Thánh và các tác giả khác, ví dụ như Giuse Flaviô, cho chúng ta biết cảnh vực kinh tế – xã hội của những người sống đồng thời với Chúa Giêsu.
Kinh tế xứ Palestina tập trung vào nông nghiệp, nhưng việc chăn nuôi súc vật cũng khá thịnh hành (Tv 22; Ez 34; Mt 25,32; Gr 10,11-16). Ngành tiểu thủ công nghệ cũng khá mở mang (Hc 38,27-32); cũng có một vài thứ kỹ nghệ thô sơ như kỹ nghệ làm muối, kỹ nghệ dệt len và vải; một số khá đông chuyên nghề thuốc (Is 3,7; St 8,32; Hc 38,13;). và thường chú trọng đến những vị thuốc thuộc loại thảo mộc (2 V 20,7; Is 1,6; Lc 10,34; 1 Tim 5,23; Gr 8,23; 46,11; Ez 47,12; Hc 38,4.6; Kng 7,20; Kh 3,18; nhưng xem Tb 6,8 tt).
Hoạt động sản xuất nhằm mục đích cung cấp những vật liệu tối cần cho người dân; lượng và phẩm của những sản phẩm không cho phép xuất khẩu một số khả quan. Giuse Flaviô nói người Do-thái không ưa thích việc thương mại vì phải giao tiếp với những dân tộc khác.
Cũng cần nói thêm rằng người Do thái rất chuộng thủ công (St 3,19; Xh 20,9; Lv 19,13; Đnl 24,14; Gb 7,2; Cn 13,4; 20,4; 24,30-34;) và trong xã hội Do thái không có những sự chênh lệch đáng kể.
7. Đời sống gia đình
Để có một cái nhìn đầy đủ về đời sống người Do-thái thời Chúa Giêsu, ta không thể bỏ qua không nói đến những tập quán gia đình.
Luật cho phép chế độ đa thê và ly dị tuy không khuyên theo (Đnl 24). Sau lưu đày, chế độ độc thê trở nên thịnh hành, nhưng một ví dụ về chế độ đa thê ta thấy ở gia đình Hêrôđê. Vấn đề ly dị còn thịnh hành ngay cả trong thời Tân Ước.
Khi ly dị, người chồng phải cho người vợ một tờ ly dị, tuyên bố người vợ hoàn toàn tự do. Môn phái Hillel, mà đa số theo, cho phép ly dị vì những lý do không đáng kể. Luật đã ấn định những ngăn trở hôn phối (Lv 18) nhưng đồng thời trong vài trường hợp, luật buộc phải lấy nhau (Ds 36,6; Tb 6,12; Đnl 25,5-10 : luật Lêvirato; Mt 22,23 tt).
Theo phong tục Do-thái, hôn lễ được cử hành làm hai giai đoạn : thời kỳ đính hôn và tiệc cưới.
Lễ đính hôn không phải chỉ là một lời hứa mà còn là khế ước hôn nhân: vị hôn phu và vị hôn thê kể là đã thành hôn và vì thế vị hôn phu và vị hôn thê, theo pháp luật đã là vợ chồng; thất tín trong trường hợp này coi như tội ngoại tình và nếu không lấy nhau nữa phải làm tờ ly dị.
Dịp lễ đính hôn, người con trai phải trả cho cha người con gái một số tiền (Xh 22,16;). Qua một thời gian, độ một năm sau thì làm lễ cưới. Vị hôn phu với những phù rể tới rước vị hôn thê về tư thất, ở đó mở tiệc cưới nhiều khi kéo dài một tuần lễ (Tb 11,2 theo bản Phổ thông).
Những người nô lệ cũng thuộc về gia đình, khác với những người làm thuê, chỉ làm trong một thời gian và không thuộc về gia đình. Những nô lệ không phải người Israel nhiều khi cũng chịu phép cắt bì và tham dự các nghi lễ phụng tự chung của dân Do-thái. Một người nô lệ giá 30 nén bạc (Xh 21,32; Mt 26,15).
Những người Israel cũng có thể trở nên nô lệ hoặc tự ý như khi muốn tránh cảnh cơ cực hay để trả nợ hoặc bị án làm nô lệ, tỷ dụ kẻ cắp không thể trả của đã lấy hay đền những sự thiệt hại.
Những nô lệ Israel sau 6 năm sẽ được giải phóng (Xh 21,5), hoặc không đến 6 năm nếu trong thời gian đó có một năm đại xá và có thể lấy tiền chuộc lại tự do (Lv 25,39). Thường thường ở Israel, đời sống nô lệ không khổ cực bằng ở nơi các dân tộc khác (Gb 31,13-15; Đnl 15,12-18).




