Phụng Vụ Chư Thánh – Theo lịch Phụng Vụ Rôma
Tác giả: ENZO LODI
Nhóm dịch: Linh Mục hạt Xóm Chiếu
THÁNG GIÊNG
Ngày 01.01: ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA
Lễ trọng
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới.
Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
2. Thông điệp và tính thời sự
Giáo Hội Byzantin mừng lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày tiếp theo lễ Giáng Sinh ; Giáo Hội Copte lại mừng ngày 18 tháng 01.
a. Khi cử hành chức Thiên Mẫu đồng trinh và thần linh của Đức Maria, chúng ta cũng đồng thời thờ lạy Con của Mẹ (xem lời nhập lễ). “Bởi Phép Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai sinh bởi Bà Maria đồng trinh” (Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ).
Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa và là Chúa chúng ta. Đức Maria, vì là Mẹ Con Thiên Chúa, nên cũng là Mẹ Thiên Chúa! Chân lý đức tin này càng ngày càng được tỏ rạng trong cuộc tranh luận về Thiên Chúa Ba Ngôi và Kitô học trong ba thế kỷ đầu. Công đồng Nicéa, năm 431, tuyên bố cách long trọng : “Đấng Emmanuel (Đức Kitô) thật sự là Thiên Chúa và, vì lý do này, Đức Trinh Nữ thật sự là đấng sinh ra Thiên Chúa (theo tiếng Hy Lạp : Théotokos = Mẹ Thiên Chúa), vì Mẹ sinh ra, về mặt xác thể, Ngôi Lời nhập thể, Đấng xuất phát từ Thiên Chúa.”
Chức Thiên Mẫu của Đức Maria nói lên rõ ràng việc thụ thai và sinh hạ Đức Kitô, nhưng cũng nhấn mạnh đến hành động đức tin tự do và cá nhân của Mẹ Thiên Chúa, “Đấng đã giúp chúng ta đón nhận Tác Giả sự sống là Đức Giêsu Kitô” (lời nguyện nhập lễ). Công đồng Vaticanô II tuyên bố, Đức Trinh Nữ đã nói lên tiếng fiat vào ngày Truyền tin (“Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói” : Lc 1,38), “lãnh nhận Ngôi Lời của Thiên Chúa vừa trong tâm hồn, vừa trong thể xác của mình… mang lại ơn cứu độ cho mọi người không những trong việc hợp tác như công cụ thụ động trong bàn tay Thiên Chúa, nhưng với sự tự do của đức tin và sự vâng phục” (LG 53 & 56).
Chức Thiên Mẫu của Đức Maria, vừa thần linh, vừa đồng trinh. “Việc sinh hạ Đức Kitô không làm suy giảm nhưng thánh hiến sự trinh khiết vẹn toàn của Mẹ”. Phụng Vụ của Hội thánh luôn tôn vinh Mẹ là đấng “Trọn đời đồng trinh – Aeiparthenos” (sách Giáo lý toàn cầu 499). Một sự đồng trinh sung mãn, vì Đấng Toàn Năng đã nhìn đến phận hèn tớ nữ của Người, đã làm biết bao sự trọng đại cho người nữ này : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).
b. Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô, cũng là Mẹ Hội Thánh (kinh hiệp lễ).
Đức Maria “đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Ngài thật là Mẹ chúng ta” (LG 61).
c. Ngày lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, cũng cử hành việc Cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, đúng như lời Phúc Âm trong Thánh lễ : “Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu ; đó là tên mà Sứ thần đã đặt, trước khi Hài Nhi thành thai trong lòng mẹ” (Lc 2,21)
Các phương diện khác của thánh lễ – Lễ đầu năm và ngày cầu nguyện cho hòa bình thế giới (bài đọc đầu tiên của Thánh lễ : “…Xin Thiên Chúa quay mặt lại với ngươi và đem lại bình an cho ngươi !”(Ds 6,22-27) không làm cho chúng ta chia trí. Như ghi chú của Pierre Jounel trong sách lễ : tất cả dẫn chúng ta đến với Đức Kitô và Mẹ của Người.
Ngày 02.01 · THÁNH BASILE CẢ (330-379) và
· THÁNH GRÉGOIRE THÀNH NAZIANCE (330-390)
· Giám mục và Tiến sĩ Hội thánh
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Vì tình bạn chân tình của hai vị thánh mà chúng ta cử hành chung thánh Basile Cả (+01.01.379) và Grégoire thành Naziance (+ 25.01.390). Được Giáo Hội Đông Phương cũng như Tây Phương tôn kính như tiến sĩ Hội thánh, các ngài cùng với Grégoire thành Nysse, đồng bạn, ba vị nổi danh Cappadociens, đã đem lại cho thần học Kitô giáo hệ thống hóa và công thức hóa đầu tiên.
Giáo Hội Đông Phương đã đặt thánh Basile Cả và thánh Grégoire thành Naziance, cùng với thánh Gioan Kim Khẩu giữa hàng “tiến sĩ đại kết” và tôn kính họ như “Ba vị thánh tôn quí nhất”.
Thánh Basile sinh năm 330 tại Césarée thành Cappadoce (ngày hôm nay là Thổ Nhĩ Kỳ) trong một gia đình Kitô giáo với 10 người con, trong số đó có 3 làm giám mục : Basile, Grégoire thành Nysse và Pierre thành Sébaste. Ngài đã theo học tại Césarée, Constantinople, Athène, tại đây, ngài kết thân với Grégoire thành Naziance. Được rửa tội vào lúc 25 tuổi, Basile ngưng chức vụ giảng sư khoa hùng biện, để bước vào một đời thầm lặng và cầu nguyện.
Ngài đã đi nhiều nơi để gặp các nhà khổ tu nổi tiếng, và khi trở về, ngài thành lập nhiều Đan viện. Trong thời gian này, ngài hợp tác với thánh Grégoire Naziance viết tác phẩm Philocalie (hợp tuyển các tác phẩm của Origène) ; tiếp đến là các sách Lề luật luân lý, Lề luật chi tiết, Lề luật ngắn. Các tác phẩm này ảnh hưởng rất nhiều trên đời sống Đan viện; chúng ta cũng biết sau này Luật dòng của thánh Bênêđictô đã được tham khảo với “cha chúng ta là thánh Basile”. Vào năm 370, Basile trở thành giám mục tại Césarée. Trong 8 năm ở ngôi giám mục, ngài đã hoạt động thật kinh ngạc, chống lại bè rối Arius, thành lập các nhà thương, nhà trọ. Trong các tác phẩm tín lý, phải kể đến sách “Chuyên đề về Chúa Thánh Thần”, được viết để bảo vệ tín điều Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo.
Là một trong các nhà thuyết giảng lừng danh trong thời đại mình, thánh Basile nắm vững lý thuyết hùng biện để trình bày giáo lý cách trong sáng và đơn sơ. Ngài luôn lo lắng để giao hòa hai Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương, bị chia rẽ vì những cuộc tranh luận về tín lý và vấn đề cá nhân ; ngài làm việc để chuẩn bị cho sự hiệp nhất, nhưng đã qua đời vào ngày 01.01.379 lúc 50 tuổi, hai năm trước ngày khai mạc Công đồng chung Constantinople (381).
Thánh Grégoire Naziance, cũng được sinh ra tại Cappadoce, là bạn đồng song với thánh Basile mà ngài gặp ở Athènes và đã kết thân. Được sinh ra trong một gia đình của các thánh (mẹ là thánh Nonna, chị là Gorgonie và em là Césaire), Grégoire thích sự yên tịnh và tránh các lời mời gọi trong chức phận giáo phẩm. Nhưng rồi cũng phải nhận chức giám mục tại Sasimes và từ chối không trở thành người cộng tác với cha mình tại Naziance. Vào năm 380, ngài được trao cho chức Thượng Phụ Giáo chủ ở Constantinople, nhưng chỉ ở lại thành này 18 tháng. Thành phố này bị tiêm nhiễm lạc giáo Arius ; Thánh Grégoire thích từ nhiệm để trở về Naziance chuyên tâm lo việc học hành và chiêm ngắm. Ngài viết : “Không có gì làm tôi khao khát cho bằng đối thoại thầm kín với tâm hồn và với Thiên Chúa.” Mộ chí mà ngài ghi sẵn cho mình, cho thấy một tâm hồn thật tế nhị, bị cuộc đời làm thương tổn : “Ôi lạy Đức Kitô là Vua, tại sao Chúa lại bắt con trong cái lưới này ? Tại sao Chúa bắt con tùng phục cuộc đời tạm bợ này ? Con bị quay cuồng trên các cuộn sóng, con đã làm mồi cho nhiều người tham lam, con sống với thân xác vỡ vụn, con phải chống lại các mục tử ! Con đã không có bạn bè, con chỉ gặp sự bất trung và khi phải chiến đấu với bệnh tật, con đã mất đi các con cái của con.”
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Kinh Tổng nguyện gợi lên giáo huấn và gương mẫu của hai thánh Basile và Grégoire Naziance, qua đó Thiên Chúa muốn soi sáng cho Hội thánh của Người.
Phụng Vụ Các Giờ Kinh đề nghị trong suốt năm Phụng Vụ 8 bản văn rút từ các tác phẩm của thánh Basile và 7 bài của thánh Grégoire Naziance. Thánh Basile được gọi là thánh Cả “Le Grand” và vị thứ hai được gọi là “Nhà thần học” vì ảnh hưởng của họ trên nhiều lãnh vực của Kitô giáo.
b. Thánh Basile được gọi là “Tổ phụ các đan sĩ Phương Đông”, tổ chức đời sống đan tu, sẽ trở thành truyền thống trong Hội thánh, ngay cả cho Phương Tây : kinh nguyện Phụng Vụ, đọc Thánh Kinh, rước lễ thường xuyên, xưng thú tội lỗi, lao động chân tay, công tác bác ái : nhà thương, trường học, nhà trọ. Ngài nói với các đan sĩ của mình : “Hãy tạ ơn Đấng đã ban cho anh em đôi tay để làm việc, một lý trí để hiểu biết, những chất liệu cho dụng cụ của chúng ta. Như thế sản phẩm do tay chúng ta làm ra, không có mục đích nào khác hơn là vinh quang của Thiên Chúa”.
Thánh Basile cũng được gọi là “giám mục xã hội”. Tư tưởng của ngài về các vấn đề xã hội, ngay cả trong thời đại chúng ta, cũng còn phải chú ý. Trong một bài giảng, ngài nói: “Anh hà tiện nói : tôi phạm lỗi với ai, trong khi tôi chỉ giữ lại những gì thuộc của tôi ? Nhưng hãy nói cho tôi nghe, của cải nào thuộc về anh ?… Nếu như mỗi người chỉ giữ lại những gì cần thiết cho bản thân, và cái gì dư thừa anh ta ban cho những kẻ bần cùng, sự giàu nghèo sẽ bị xoá đi” (Bài giảng thứ 6 chống lại sự giàu sang).
Thánh giám mục thành Césarée không thoả mãn với các bài giảng về công bằng xã hội, ngài phải làm gương. Thế là, gần thành giám mục của ngài, ngài xây một thành phố mới mà người ta gọi là Basiliade ; trong đó có nhà trọ, viện dưỡng lão, nhà thương và một nhà thờ giữa thành phố. Ngài xin các giám mục có quyền kế vị hãy hoạt động như thế trong các miền đồng quê. Ngài viết thư cho chính quyền Cappadoce : “Tôi phạm lỗi với ai khi xây nơi trú ngụ cho khách lạ, cho lữ khách hay cho những ai cần nâng đỡ sức khỏe ?”.
c. Phụng Vụ Kinh sách đề nghị một bản văn ca tụng tình bạn thánh thiện của Grégoire Naziance với thánh Basile : “Chúng tôi sống chung ở Athène…Chúng tôi cùng có chung hy vọng về sự sung mãn đáng khao khát nhất : khoa học… Chúng tôi thực tập lề luật của Chúa khi cùng gợi lên tình yêu đối với nhân đức. Và nếu không quá kiêu ngạo mà nói rằng, người này đối với người kia là lề luật và mẫu mực giúp phân biệt cái tốt cái xấu” (Bài giảng của thánh Grégoire Naziance trong ngày lễ an táng thánh Basile). Trong một lá thư khác, thánh nhân thú nhận : “Mỗi người có điểm yếu : của tôi là tình bạn và các bạn hữu”. Thực sự, đó không phải là “điểm yếu”, tình bạn chân thực là một hồng ân thiện hảo từ Thiên Chúa Ánh sáng mà đến ; tình bạn này được ban cùng với sự khôn ngoan cho kẻ “theo đuổi và van xin Thiên Chúa” (câu đáp).
***
Nước Pháp ngày 03.01
· THÁNH NỮ GENEVIÈVE (420-500)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Chúng ta biết được thánh Geneviève, quan thầy của Paris, nhờ Hạnh sử được viết có lẽ vào thế kỷ thứ VI, mà giá trị lịch sử còn phải tranh luận. Dù vậy, người ta cũng không thể nghi ngờ về các yếu tố cơ bản của hạnh sử.
Thánh nữ sinh khoảng năm 420 tại Nanterre, gần Paris, được thánh giám mục Germain dAuxerre thánh hiến vào lúc bảy tuổi ; vị thánh giám mục này đã cùng với thánh Loup de Troyes sang Anh Quốc. Thánh nữ mang nơi cổ một đồng tiền có ghi hình Thánh giá để chỉ việc được thánh hiến cho Thiên Chúa. Vài năm sau, vào khoảng 15 tuổi, Geneviève được Đức giám mục thành Lutèce là Đức Vilicus trao khăn choàng của các cô trinh nữ. Khi cha mẹ qua đời, thánh nữ đến ở Paris, trong nhà người đỡ đầu của mình, sống cuộc đời cầu nguyện và sám hối.
Vào năm 451, để trấn an sự lộn xộn trong dân thành do việc đoàn quân của Attila đã cướp bóc ở Metz, nay đang tiến về Paris, thánh nữ động viên dân thành chống cự lại và đã thành công. Sau đó, thánh nữ đã can thiệp nơi triều vua người Franc là Childéric (+481), và cả nơi triều của Clovis I, để giải phóng các tù nhân và giảm hình phạt cho kẻ tội phạm.
Thánh nữ Genevière rất nổi tiếng nhờ vào các phép lạ mà người ta gán cho thánh nữ. Thánh Siméon Cột (+459), sống trên cột gần thành Antioche (Syrie), xin thánh nữ cầu nguyện cho mình. Thánh nữ qua đời vào ngày 03.01, khoảng năm 500, được chôn cất tại Paris, trên ngọn đồi ngày nay được gọi là Montagne-Sainte-Genevière. Vua Clovis I cho xây ngay trên ngôi mộ của Bà một đại thánh đường dâng kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các di tích xương thánh được đặt trong một hòm đựng thánh tích, công trình của thánh Éloi, thường được kiệu đi quanh thành phố trong những thời khốn khó của thành. Đại thánh đường mang tên thánh nữ, được các nữ kinh sĩ chọn để xây Đan viện của mình; từ thế kỷ XII cho đến thời cách mạng, thánh đường này trở thành một địa điểm hành hương và là trung tâm học vấn, như ngọn nguồn đầu tiên của các đại học.
Thánh nữ Genevière vẫn sáng chói sau khi đã qua đời, nhờ các phép lạ mà người ta gán là do ngài cầu bàu. Cần kể ra các phép lạ lành bệnh khi bệnh nhân chỉ cần đi ngang qua thánh tích của ngài vào thời di dân ; việc làm tan biến các cơn sốt trong thời được gọi là “đau đớn nóng sốt” hay là “lửa thánh Anton”, được gợi nhớ qua Thánh lễ tôn kính thánh nữ “thánh Geneniève của những người bị nóng sốt”do Đức Giáo Hoàng Innocent II thiết lập vào năm 1131 ; những cuộc rước kiệu thánh tích hàng năm tại nhà thờ Đức Bà từ năm 1412, có cả những người quí tộc và đại diện các phường hội cùng tham gia ; việc chữa bệnh cho Erasme de Rotterdam (+1536); ông này đã viết một bài thơ bằng tiếng La Tinh kể lại ân sủng được lãnh nhận.
Trong thời cách mạng, vào năm 1793, thánh tích bị thiêu đốt và tro bị quăng xuống sông Seine. Sau đó, người ta đã làm lại một mộ khác với vài thánh tích trong nhà thờ Saint-Étienne-du-Mont, hiện tại là trung tâm tôn kính thánh quan thầy của Paris.
Có một số hình ảnh phong phú trình bày nữ thánh Geneviève, nhất là trong các nhà thờ tại thủ đô, tỉ như : tại nhà thờ Saint-Merri, thánh nữ Geneviève chăn cừu ; ở Panthéon, thánh nữ ngăn chận Attila ; tại Saint-Roch, thánh nữ cứu chữa những người bị sốt.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện nhập lễ nhấn mạnh “Thần trí khôn ngoan và bác ái” Thiên Chúa đổ tràn trên nữ thánh. Cho dù tận hiến cuộc đời cho cầu nguyện, chay tịnh và sám hối, Geneviève vẫn hiện diện trong các biến cố của thời đại, cảm nghiệm Thiên Chúa kêu gọi mình đứng trước dân chúng để cứu thoát, phục vụ và yêu thương họ.
Cũng thế, trong thời đói kém, chính thánh nữ đã lo lắng cho dân thành Paris được no đủ dù phải nhiều lần đi tàu đến Troyes (Aube). Cũng thế, khi Attila đến gần, thánh nữ đã biết gợi lên sự can đảm và tin tưởng của dân chúng đang sợ hãi, nên Bà xứng đáng được gọi là “Mẹ của đất nước trong cơn nguy khốn”. Người ta cũng cho rằng thánh nữ, nhờ ảnh hưởng trên quần chúng, đã kêu gọi mọi người xây một đại thánh đường trên mộ của thánh Denis, vị giám mục tiên khởi của Paris.
b. Bài đọc một của Thánh lễ rút từ sách Giu-đi-tha (13,18-20) ca tụng sự can đảm của vị nữ anh hùng trong Thánh Kinh : Nguyện xin Thiên Chúa thực hiện cho Bà những điều ấy để muôn đời Bà được tán dương. Xin Người viếng thăm và ban cho Bà muôn phúc lộc, vì Bà đã không tiếc mạng sống mình khi nòi giống chúng ta lâm cảnh nhục nhã ; Bà đã cứu chúng ta thoát họa diệt vong, vì Bà đã sống ngay thẳng trước nhan Thiên Chúa. Như Giu-đi-tha mới, Geneviève đã giải thoát mọi hiểm nghèo cho dân chúng, bằng lời cầu nguyện cũng như hành động.
c. Phụng Vụ Giờ Kinh cho chúng ta một bản văn trích từ Hạnh sử, cho thấy Geneviève xuất hiện đầy can đảm và đáng ca ngợi cho dân mình. “Người ta thích ca ngợi những kỳ công vinh quang của thánh Martin và thánh Aignan… Nhưng thánh nữ có đáng ca tụng hay không, khi nhờ lời cầu nguyện của mình, đẩy lùi được đoàn quân dữ tợn khỏi Paris và cứu thoát thành phố khỏi cuộc tàn phá ?… Từ khi đến Paris, Geneviève đã đem sinh lực lại cho dân chúng. Bà ban cho mọi người những gì Bà có thể ban cho ; những kẻ đói khát nhất sẽ được các phần tốt nhất.”
Câu đáp tiếp theo bài đọc nhắc nhớ rằng “Thiên Chúa độ lượng và yêu thích những kẻ ban tặng với niềm vui”, mời gọi chúng ta ca tụng ; vì sự độ lượng “vẫn luôn là nguồn ca tụng Thiên Chúa”.
Canada ngày 06.01
· CHÂN PHƯỚC TU HUYNH ANDRÉ, Tu sĩ
· (1845-1937)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Alfred Bessette sinh ngày 09.08.1845 tại Saint-Grégoire thuộc tỉnh Iberville (Québec), là người con thứ tám trong gia đình 12 con. Mồ côi cha lúc lên 9 và mẹ lúc 12 tuổi, không biết đọc biết viết, sức khoẻ lại yếu kém, thầy đã học rất nhiều nghề : đóng giày, làm bánh mì, thợ rèn…Vào lúc 18 tuổi, thầy di tản sang Nouvelle-Angleterre, làm việc trong các hãng dệt. Năm 1870, trở về Canada, được nhận vào Dòng Thánh Giá ở Saint-Laurent, với tên Tu huynh André.
Người tu sĩ trẻ, thất học nhưng rất đạo đức, lo việc giữ cửa học xá Notre-Dame (Côte-des-Neiges) trong vòng 40 năm. Thầy cũng lo phòng giặt, phòng thánh… nhưng vẫn tìm thời giờ để viếng thăm bệnh nhân, những kẻ liệt hay đang gặp khó khăn ; thầy cầu nguyện với họ, luôn chạy đến với thánh cả Giuse. Người ta gán cho thầy việc chữa lành, nhưng tu sĩ khiêm tốn này trả lời : “Không phải tôi, nhưng là thánh Giuse đã chữa lành anh em”.
Năm 1904, cùng với sự giúp sức của anh em giáo dân, thầy André đã cất được một ngôi nhà nguyện bằng gỗ, được nới rộng vào năm 1908. Một hầm mộ được thiết lập vào năm 1917. Các đoàn hành hương tuốn đến rất đông, và năm 1967, một đại thánh đường khởi công từ năm 1924 được khánh thành. Từ đó, nguyện đường thánh Giuse Mont-Royal trở thành nơi hành hương nổi tiếng, mỗi năm có hằng trăm ngàn tín hữu đến cầu nguyện.
Thầy André, “con người cầu nguyện trên núi”, qua đời ngày 06.01.1937, thọ 91 tuổi, được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II phong Chân Phước ngày 23.05.1982.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện nhập lễ : “Một lòng kính mến thánh cả Giuse và tận hiến đơn thuần cho người nghèo và kẻ đau khổ” là những từ đánh giá đời sống anh hùng của chân phước André. Vì người ta càng ngày càng đến rất đông, mang theo các bệnh nhân đến tu viện, nên gây nhiều chống đối, dù vậy thầy cũng được phép đặt một tượng thánh Giuse ở mảnh đất trên núi, đối diện với tu viện. Nơi đây trở thành chỗ cầu nguyện và đón tiếp.
Sự chú tâm của thầy với hết mọi người, tính dễ thương và thiện tâm lôi kéo mọi người đến với thầy. Thầy luôn cầu nguyện và không ngừng khuyến khích mọi người tin tưởng : “Thiên Chúa thiện hảo” thầy đã trối như thế trước lúc chết “Ôi Thiên Chúa tốt lành và quyền năng ! Người đẹp biết bao, vì linh hồn chỉ là một tí phản ảnh sự tốt đẹp của Người, mà đã rất đẹp !”.
Như Môisen trên núi, thầy cầu bầu không ngừng cho bệnh nhân, những kẻ đau khổ, dưới chân Thánh giá hay lúc tôn thờ Thánh Thể. Thầy có một lòng kính mến đặc biệt với thánh cả Giuse Thợ, rất gần gũi trong kinh nghiệm lao động, di tản, phục vụ… rất gần gũi trong đời sống của dân chúng đến thăm thầy, với bao đau khổ và bệnh tật…
b. Thầy André được Chúa ban nhiều ân sủng đặc biệt, luôn chân tình và thương xót mọi người đến phó thác cho thầy mọi khổ ải của họ. Thầy biết đặt các ân sủng Chúa ban vào việc phục vụ kẻ khác, như bài đọc một trong Thánh lễ : “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác… Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa ; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban…” (1Pr 4,7-11). Chúng ta cầu nguyện : “…
Lạy Chúa, xin giúp chúng con theo gương chân phước André trong tình yêu mà thầy biết dùng để làm chứng cho Chúa và theo gương bác ái đã trở thành chứng cứ trước mặt mọi người” (lời nguyện hiệp lễ).
***
Ngày 07.01
· THÁNH RAYMOND DE PENYAFORT, Linh mục
· (1175-1275)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh Raymond sinh khoảng năm 1175, trong một gia đình hiệp sĩ, trong lâu đài Penyafort, ở Catalogne (Tây Ban Nha). Hai mươi tuổi, ngài đã dạy triết học tại Barcelone. Sau đó được chức vị Giáo sư danh dự môn luật ở Bologne – nơi ngài dạy miễn phí – trước khi trở về Barcelone, nơi ngài được gọi làm tổng phó tế trong nhà thờ chính toà. Làm giáo sư giáo luật và thần học luân lý, Raymond de Penyafort xuất bản quyển Tổng luận về luật (1218/1219) ; sau đó, khi trở thành Tu sĩ Dòng Thuyết Giảng (Đaminh) vào năm 1222, ngài soạn tập Tổng luận các nố giải tội, rất kỹ lưỡng, được các cha giải tội sử dụng. Một tác phẩm khác được nhà giáo luật này hoàn thành theo lời yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Grégoire IX là hệ thống hóa và bổ túc luật Hội thánh, hoàn tất vào năm 1234, được xuất bản trong 5 tập dưới tựa đề “Các sắc lệnh”.
Được bầu làm Giám tỉnh Dòng Đaminh vào năm 1238, ngài động viên thánh Thomas Aquinô soạn cuốn “Tổng luận chống người ngoại giáo”. Ngài cũng dấn thân vào các cuộc truyền giáo nơi người Do Thái và Hồi giáo, thành lập những trung tâm để học tiếng Ả Rập và Hipri. Trở thành cố vấn cho thánh Pierre Nolasque, thánh nhân cộng tác để viết Luật Dòng Notre-Dame de la Merci (Đức Mẹ có lòng khoan nhân), chuyên lo việc chuộc các tù nhân khỏi tay người Hồi giáo Maures.
Thánh Raymond qua đời khi được 100 tuổi, vào ngày 06.01.1275, được phong thánh vào năm 1601. Các ảnh tượng thường trình bày ngài đang vượt biển trên áo choàng của ngài, vì theo người ta nói, nhờ đó mà ngài thoát khỏi Majorque.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời kinh Tổng Nguyện nhấn mạnh đến “tình yêu vô biên” mà thánh nhân thể hiện nơi các hối nhân.
Là giáo sư luân lý thần học và Giáo luật, ngài ưu tư việc đào tạo các vị giải tội theo thừa tác vụ giao hòa ; đó là chủ tâm để ngài soạn quyển “Tổng luận các nố giải tội”, được các cha giải tội sử dụng rất lâu trong Hội thánh. Đầy lòng thương xót đối với hối nhân, nhưng ngài đã từ chối phục vụ cho một hoàng tử không được đứng đắn.
Bài đọc một (2 Cr 5,14-20 : Hãy giao hòa với Thiên Chúa) và Thánh Vịnh 102 (Chúa từ bi và nhân hậu) giúp chúng ta hiểu rõ sứ điệp của thánh Raymond.
b. Lòng nhân từ của Thiên Chúa thể hiện qua việc tha thứ tội nhân, cũng tỏ lộ trong các cuộc bách hại, trận chiến và sợ sệt “vì những lý do tinh thần”. Vì thế, Ngài viết cho các nữ tu thuộc Dòng : “Nếu như có lưỡi gươm đâm các chị hai ba lần, cũng phải chấp nhận, vì đó là niềm vui trọn hảo, một dấu chứng tình yêu… Cũng như Thánh giá Chúa Kitô, vừa tốt lành vừa đáng khao khát biết bao” (Phụng Vụ Giờ Kinh)
c. Thánh Raymond là môn đệ đích thực của Chúa Kitô, luôn cố gắng thực tập lời Người : Kẻ lớn nhất trong anh em, phải là người phục vụ mọi người. Khi cởi bỏ tất cả, hoàn toàn khiêm nhường và vâng phục, ngài đã phục vụ Hội thánh khi thực hiện mọi công tác, và cũng vì khiêm nhường ngài đã từ chối chức giám mục ở Tarragone.
Là một mục tử nhiệt thành và được soi sáng, ngài hiểu cần phải chiến đấu với các sai lệch và lạc giáo bằng cách trình bày một giáo lý trong sáng. Vì thế ngài đã xuất bản quyển Tổng luận mục vụ theo ý kiến của các giám mục và quyển Chuyên đề về Hôn phối.
Canada ngày 12.01
· THÁNH MARGUERITE BOURGEOYS,
· Trinh nữ (1620-1700) Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Marguerite Bourgeoys sinh tại Troyes (Aube, nước Pháp) vào năm 1620. Là người thứ ba trong 9 người con ; khi mồ côi mẹ, Bà dành tất cả cho gia đình ; sau đó lại muốn hiến dâng cuộc đời cho Chúa để giáo dục trẻ em, vào năm 1653 Bà đi sang Canada.
Trước tiên Bà làm gia sư trong gia đình Tổng trưởng ở Montréal và làm y tá trong thời gian có bệnh dịch tả. Marguerite quyết định trở lại Pháp để tìm những người đồng chí hướng, có thể giúp Bà trong việc giáo dục trẻ em. Vào năm 1659, sau khi trở lại Montréal, một cộng đoàn nhỏ do Bà thành lập phát triển rất nhanh vào năm 1676 ; Đức De Laval, giám mục Québec, đón nhận cộng đoàn này như một tu hội đời. Cộng đoàn nhỏ này được công nhận dưới tên “Dòng chị em Đức Mẹ – Congrégation des Soeurs de Notre-Dame”, bắt đầu đón nhận các tập sinh Canada đầu tiên, trong đó có cả người da đỏ Iroquoises. Qui luật Dòng chỉ được công nhận vào năm 1698.
Mẹ Marguerite Bourgeoys qua đời vào năm 1700, thọ 80 tuổi, được tôn vinh như “Bà Mẹ xứ thuộc địa”. Bà được Đức Giáo Hoàng Piô XII phong chân phước vào năm 1950 và được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 31.10.1982.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Chúa đã chọn thánh nữ Marguerite Bourgeoys để “uốn nắn tuổi trẻ vào đời sống Kitô hữu” (lời nguyện nhập lễ). Bà sang Canada vào thời điểm các nhà truyền giáo Dòng Tên Jean de Brébeuf, Isaac Jogues và các bạn bị sát hại vì niềm tin, Bà đáp lại tiếng gọi của Chúa qua việc dâng hiến trọn đời mình, và qua việc thành lập một Dòng mới, chuyên lo việc giáo dục trẻ em theo tinh thần Công giáo. Các nữ tu Đức Bà dạy về tôn giáo, “các nguyên tắc đầu tiên của từ ngữ nhân loại”, nhân đức, lễ độ, yêu thích lao động… Các bà mở những lớp thêu may để chuẩn bị cho thiếu nữ vào vai trò làm mẹ trong tương lai.
Chịu ảnh hưởng trường phái linh đạo của Pháp vào thế kỷ XVII, Bà nhấn mạnh đến các mục đích giáo dục và Tông Đồ : trở về với mẫu Giáo Hội tiên khởi qua việc thực thi tình yêu đối với Thiên Chúa và bác ái đối với kẻ nghèo.
b. Phụng Vụ Thánh lễ nhấn mạnh tinh thần bác ái là động lực thúc đẩy thánh Marguerite : … khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ (bài đọc hai : 1 Tx 2,2b-8)… Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em (Phúc Âm : Ga 15,9-17).
“Lạy Chúa, xin cho chúng con, khi thực tập đức bác ái theo gương thánh nữ Margeurite Bourgeoys, chúng con được chia sẻ vinh quang của bà” (Lời nguyện hiệp lễ). Thật vậy, đời sống của thánh nữ luôn hướng về tình yêu, như Bà đã viết một năm trước khi qua đời : “Điều tôi khao khát và mong chờ nhất là mệnh lệnh tình yêu Thiên Chúa vượt trên hết mọi sự và tình yêu tha nhân như chính mình, được ghi trong mọi con tim.”
c. Tên Dòng do thánh nữ lập ra được gọi là “Nữ tử Đức Bà-Soeurs de Notre-Dame” nhấn mạnh một phương diện khác của đời sống và linh đạo của thánh nữ : tôn vinh và diễn dịch qua thực hành mầu nhiệm thăm viếng của Đức Maria, “đời sống du hành của Đức Trinh Nữ” để trở thành môn đệ Đức Giêsu theo cách thức Mẹ Maria. Thánh nữ viết : “Đức Trinh Nữ không nằm sau lũy cấm, nhưng đã giữ sự cô tịch nội tâm… Mẹ không bao giờ từ chối hiện diện nơi đức ái và nhu cầu đòi hỏi”.
d. Thánh nữ có một đức tin không gì lay chuyển, ngay cả khi gặp thử thách khó khăn nhất. Bà nói : “Tôi không bao giờ nghi ngờ lòng nhân từ của Chúa và tôi vẫn luôn hy vọng nơi Người dù cho một chân đã nằm trong hỏa ngục”. Câu đáp của Phụng Vụ Giờ Kinh, khuyến khích lòng tin cậy : “Lạy Chúa, chúng con có thể đi đến với ai ? Chỉ mình Chúa mới dẫn dắt chúng con vào Nước Trời. Phúc cho ai bước theo đường lối Chúa cho đến cùng.”
Ngày 13.01
· THÁNH HILAIRE,
· Giám mục và tiến sĩ Hội thánh
· (khoảng 315-367)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh Hilaire được Đức Giáo Hoàng Piô IX tôn phong làm tiến sĩ Hội thánh vào năm 1851, là vị Giáo phụ vĩ đại nhất của Giáo Hội xứ Gaule và là một trong các vị Giáo phụ nổi tiếng nhất của Giáo Hội Tây Phương. Được gọi là “thánh Athanase của Phương Tây”, ngài ngăn chận lạc giáo Arius và trở thành cầu nối giữa các Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương. Việc tôn kính ngài được phổ biến từ thế kỷ thứ IX ở xứ Gaule và tại Rôma từ thế kỷ thứ XI và XII.
Thánh Hilaire (tiếng La Tinh là hilaris = vui vẻ) sinh năm 315 ở Aquitaine, trong một gia đình ngoại giáo làm thẩm phán và địa chủ ; ngài kết hôn và có được một đứa con gái tên là Abra, cũng được tôn phong như nữ thánh ở Poitiers. Khi còn ngoại giáo, ngài luôn tìm kiếm Chúa và đã khám phá ra Thiên Chúa qua việc đọc các Sách Thánh, đặc biệt là Môisen và Gioan. Thánh nhân đã viết trong tập “Chuyên khảo về Chúa Ba Ngôi”: “Linh hồn tôi vui mừng đón nhận mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa. Với thân xác, tôi tiến gần đến thiên tính và với đức tin tôi được gọi vào một cuộc sống mới.”
Được rửa tội, ngài gia nhập vào cộng đoàn Kitô hữu tại Poitiers, vẫn luôn là giáo dân. Nhưng vào năm 350, sau cái chết của vị giám mục địa phương, các tín hữu đã chọn ngài làm mục tử cho cả địa phận qua việc bình chọn vỗ tay. Đó cũng là lúc lạc giáo Arius phủ nhận thiên tính của Đức Kitô, đang tàn phá Hội thánh. Hoàng đế Constance II lại muốn thiết đặt lạc giáo này trên toàn đế quốc La Mã ; ông đã ra lệnh truất phế thánh Athanase, nhưng Hilaire lên tiếng chống đối và đã tập họp các giám mục để loại các kẻ lạc giáo ra khỏi cộng đoàn.
Bị hoàng đế đày đi Phrygie, miền Tiểu Á, ngài đã ở đây 4 năm ; lợi dụng thời gian này, ngài làm quen với thần học Đông Phương. Ngài đã soạn tập “Chuyên khảo về Chúa Ba Ngôi”, một tác phẩm vĩ đại gồm 12 quyển sách, trình bày rõ ràng, bằng tiếng La Tinh, tín điều về Chúa Ba Ngôi của Hội thánh.
Ngài viết : “Tôi bắt buộc phải trình bày với ngôn ngữ không chuyên để giải thích các mầu nhiệm khó diễn tả.” Nhưng cuộc tranh đấu của ngài đã mang lại kết quả. Được trở về địa phận Poitiers, ngài cố gắng tái lập sự chính thống và trật tự hoà bình.
Như Sulpice Sévère viết : “Mọi người đều biết rằng đất nước Gaule của chúng ta đã được giải thoát (khỏi thuyết Arius) nhờ lòng nhiệt thành của Hilaire thành Poitiers.”
Những năm cuối đời, thánh nhân cố gắng lãnh đạo địa phận và học hỏi : ngài đã cho xuất bản các “Chuyên khảo về các mầu nhiệm”, về các thánh Thi, Giải thích Thánh Vịnh, “hướng về sự an nghỉ của ngày Sabbat thật cần phải chuẩn bị”.
Dưới sự thúc đẩy của ngài, thánh Martin thành Tours đã thiết lập tại Tours Đan viện đầu tiên ở Phương Tây. Thánh Hilaire thích đến đó cầu nguyện và chung sống với các đan sĩ. Ngài qua đời cách yên lành tại Poitiers vào khoảng năm 367.
Danh tiếng ngài vang dội. Thánh Jêrôme ca tụng vị giám mục này bằng cách gọi ngài là “Dòng sông Rhône lợi khẩu La Tinh” ngài còn nói thêm : “Việc tuyên xưng vang dội, lòng nhiệt thành trong cuộc sống, sự vững chắc trong lời ăn tiếng nói của ngài, chói sáng cả đế quốc La Mã.”
2. Thông điệp và tính thời sự
Thánh Hilaire công bố và bảo vệ thiên tính của Đức Kitô “không bao giờ suy yếu” (kinh Tổng Nguyện).
a. Được gia nhập đạo sau một thời gian dài tìm kiếm ray rức, ngài đã chọn tiếng con tim. Ngài viết : “Thiên Chúa đẹp dường bao. Chúng ta cảm nghiệm sự đẹp đẽ này, nhưng không đủ khả năng hiểu được. Trong Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần, có một sự vô cùng trong Đấng Vĩnh Cửu, sự đẹp đẽ trong Đấng là Hình ảnh của Người, niềm vui trong Đấng là Ân Sủng” (Về Ba Ngôi II,1).
b. Nhưng thế nào lại không thể công bố Chân lý đã được biết đến và đã được yêu mến ? thánh Hilaire viết : “Hồng ân ngôn ngữ mà Ngài ban cho con không giúp con trình bày được công trình vĩ đại : phục vụ Ngài qua việc rao giảng và cho thấy Ngài là ai… Ngài là Chúa Cha, Cha của Chúa Con duy nhất. Con phải cho mọi người biết Ngài, trong một thế giới chưa biết Ngài và cho những người theo lạc giáo vì họ từ chối Ngài” (Về Ba Ngôi).
Đam mê duy nhất của thánh Hilaire là Chân lý Thiên Chúa chiếu soi trong tâm hồn ngài từ khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và ngài muốn gìn giữ mãi cho đến cùng : “Con xin Chúa, gìn giữ sự tôn trọng đức tin của con đừng thay đổi, cho đến hơi thở cuối cùng của con… Xin cho con được gìn giữ điều con đang chiếm hữu, gìn giữ điều con tuyên xưng trong tín biểu đức tin của thế hệ con, khi con lãnh nhận bí tích Rửa tội trong danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Xin cho phép con được tôn thờ Chúa, Thiên Chúa Cha của con, và tôn thờ Con của Ngài cùng với Ngài ; xin cho con xứng đáng với Chúa Thánh Thần, Đấng xuất phát từ Ngài nhờ Người Con duy nhất.”
c. Hilaire là con người trầm lặng, nhưng khao khát chân lý. Ngài bảo vệ chân lý trước mặt mọi người và vua chúa. Ngài đã viết cho hoàng đế Constance II một bản văn đả kích, xem hoàng đế như một Phản Kitô : “Một người lính bảo vệ vua mình khi gặp nguy biến trong đời… Còn ngài, ngài lại cho Đức Kitô, Con đích thực của Thiên Chúa, lại không phải là Chúa. Sự thinh lặng của ngài là một sự gắn bó vào sự phỉ báng này, và ngài đã thinh lặng…” (xem bài đọc một trong Thánh lễ : 1 Ga 2,18-25 : … Ai là kẻ dối trá, nếu không phải là kẻ chối rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô ? Kẻ ấy là tên phản Kitô).
Sự say mê chân lý đã trở thành lời cầu nguyện : “Xin ban cho chúng con, chống lại những kẻ lạc giáo, để ca khen Ngài là Chúa, nhưng không phải là một Thiên Chúa đơn độc, và để rao giảng Thiên Chúa này không chút sai lệch” (Về Ba Ngôi).
Nước Pháp ngày 15.01
· THÁNH REMI, Giám mục (+ khoảng 530)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh Remi, “Tông Đồ của người Francs”, lịch Phụng Vụ của nước Pháp cử hành ngày hôm nay, ngày 15.01, có lẽ là ngày qua đời của thánh nhân. Trước khi canh tân Phụng Vụ năm 1969, lễ nhớ trong lịch chung là ngày 01.10 kỷ niệm việc chuyển di hài thánh nhân từ Épernay đến Reims. Chính Đức Giáo Hoàng Léô IX, ngày 01.10.1049, chủ tọa việc chuyển di hài vào đại thánh đường dâng kính thánh nhân tại Reims, và di tích thánh vẫn còn được tôn kính trong đại thánh đường này cho đến nay.
Dù nổi tiếng, nhưng thánh Remi (hay Remy) cũng được ít người biết đến. Con của thánh nữ Céline, được sinh ra khoảng năm 440, gần Laon (Aisne), trong gia đình nổi tiếng gallo-romaine ; ngài được giáo dục tốt. Trở thành giám mục thành Reims khi còn rất trẻ, ngài đã cai quản địa phận khoảng 70 năm, cho đến khi qua đời.
Việc truyền bá Phúc Âm là mối lo âu hàng đầu của thánh nhân và công tác mục vụ của ngài, trên vương quốc người Franc mở rộng cho đến ranh giới xứ Bỉ. Chính ngài đã thành lập các địa phận Thérouanne, Laon và Arras. Nhưng vinh quang thật sự của thánh nhân chính là đem niềm tin Kitô giáo cho vị vua ngoại giáo người Franc là Clovis I (466-511) và cùng với vua là quân đội và cả đất nước.
Nhờ sự trợ giúp của vợ Clovis là Clotilde, có đạo và là con gái của vua vùng Burgondes, thánh Remi đã chờ đợi cho đến ngày lễ Giáng Sinh năm 496 để rửa tội cho Clovis và trên 3000 binh lính của ông. Nhờ đó vua người Franc đạt được sự trợ giúp của các thần dân gallo-romain và như vậy, Giáo Hội nước Pháp Kitô giáo và Công giáo đã ra đời, trở thành “Trưởng nữ của Hội thánh”.
Sự kiện này được thêu dệt bằng nhiều câu chuyện huyền thoại. Khi rửa tội, dầu thiếu, một con chim câu mang bình dầu từ trời đến. Remi nói với vua : “Sicambre, hãy khiêm nhường cúi đầu xuống. Hãy tôn thờ những gì ngài đã thiêu đốt và thiêu đốt những gì ngài đã tôn thờ.” Sau Clovis, tất cả các vua nước Pháp đều đến Reims để được tôn vương.
Vị thánh Tông Đồ người Franc qua đời trong địa phận của mình khoảng năm 530 vào tuổi 90, sau 70 năm cai quản địa phận.
Khi được trình bày bằng ảnh tượng, thánh Remi được tạc tượng để trang trí trong các đại thánh đường Chartres và Reims và trong 10 tấm thảm được Đức Tổng giám mục Robert de Lenoncourt, vào năm 1531, tặng cho đại thánh đường Riems. Người ta thường trình bày thánh nhân rửa rội cho Clovis đang quì gối, trong khi một chim bồ câu mang bình dầu.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện nhập lễ gợi lên “những công việc Tông Đồ” của thánh nhân, lòng nhiệt thành, lòng khoan dung trong việc phục vụ Thiên Chúa, đã đem nhiều dân mới trở về với Chúa.
Như thánh Phaolô thành Tarsus là Tông Đồ dân ngoại, thánh Remi là Tông Đồ người Franc. “Ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi làm người phục vụ Đức Giêsu Kitô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự và rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa” (Rm 15,15-18). Lời thánh Phaolô trong bài đọc một của Thánh lễ, áp dụng cách tốt đẹp vào công tác Tông Đồ của thánh Remi. Người Franc từ ngoại giáo bước vào Kitô giáo nhờ công tác của vị thánh này với sự hợp tác của hoàng hậu Clotilde để hướng dẫn vua đến giếng rửa tội. Ngài cũng đã trở thành cố vấn cho nhà vua, vạch ra chương trình lãnh đạo cho vị vua trẻ, khi vừa bước lên ngôi vào năm 481. “Ước gì sự công chính của Thiên Chúa không bị lung lay nơi nhà vua… Nếu như ngài sống hài hòa với các giám mục của ngài, vương quốc của ngài sẽ hạnh phúc và quyền năng được thiết đặt vững vàng. Hãy động viên thần dân của ngài, hãy an ủi người sầu khổ, che chở các người goá bụa và nuôi dưỡng các kẻ mồ côi. Hãy tạo sự công bằng… Ước gì lâu đài của ngài luôn rộng mở cho mọi người và không ai từ đó bước ra mà còn phải buồn rầu.”
Người ta nói rằng thánh Remi là tác giả tạo được một dân mới, nhờ vào việc Phúc Âm hóa. Dù vậy, việc Phúc Âm hóa này không phải được làm trong một ngày, nhưng là một công trình dài hơn và kiên nhẫn của nhiều linh mục và giám mục, theo gương thánh Remi, đã hoạt động uốn nắn bạo lực, hời hợt, các phong tục dã man, đồng thời gợi lên một văn minh mới dựa trên các giá trị Tin Mừng.
b. Trong Phụng Vụ Giờ Kinh, chúng ta đọc một trích đoạn sách “Lịch sử nước Pháp” của Grégoire thành Tours (+594) : “thánh Remi là một giám mục có sự khôn ngoan đáng kinh ngạc, nhưng ngài cũng trổi vượt trong sự thánh thiện.” Đáp ca, nhắc nhớ lại việc nước Pháp trở lại, mời gọi chúng ta ca tụng Thiên Chúa, vì chúng ta lúc ấy chưa là một dân tộc, mà ngày nay đã là một dân của Chúa, dòng giống tuyển chọn, dân tộc thánh, dân do Thiên Chúa qui tụ.
***
Ngày 17.01
THÁNH ANTOINE, Đan viện phụ
(251-356)
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Lễ nhớ đến vị thầy của đời sống tâm linh và là tổ phụ của các ẩn sĩ được cử hành vào ngày 17.01, đã có từ khởi đầu thế kỷ thứ V trong các lịch của Syriaque, Copte và Byzantin. Ở Phương Tây, việc tôn kính vị thánh này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ IX. Chúng ta chỉ được biết về thánh nhân qua quyển “Cuộc đời thánh Antoine” do người bạn của ngài là thánh Athanase viết, sau khi thánh nhân qua đời ; Hạnh thánh Antoine là quyển sách gối đầu của thánh Augustinô và thánh Martin cũng như nhiều vị thánh khác.
Thánh Antoine, được gọi là Cả hay Đan viện phụ, sinh tại Queman, miền Thượng Ai Cập, vào năm 251 từ một gia đình Kitô giáo. Vào khoảng 20 tuổi, khi nghe một đoạn Phúc Âm trong Thánh lễ : “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời ; rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Cuộc đời ngài đã thay đổi. Nắm từng chữ của Phúc Âm, ngài bán đi tài sản của mình, bố thí cho kẻ nghèo và bắt đầu đi học với một vị ẩn sĩ già đạo đức, dạy cho ngài biết chia đời sống ra thành những giờ cầu nguyện, đọc Lời Chúa và lao động tay chân. Sau đó ngài rút vào sa mạc Thébaide ; trong vùng cô tịch này, ngài phải chiến đấu với các cơn cám dỗ nặng nề trong vòng 15 năm.
Antoine thu hút được nhiều đệ tử cùng chí hướng, muốn sống đời ẩn tu hay khổ tu, mỗi người sống trong một lều riêng cách biệt nhau. Tiếng tâm vị thánh vang rất xa, vươn khỏi xứ Ai Cập ; vị Thượng phụ Giáo chủ ở Alexandrie là thánh Athanase cũng là một trong các bạn hữu của ngài.
Vào năm 311, dưới thời bách hại của hoàng đế Maximin Daia, Antoine rời bỏ sa mạc, tuyên bố rằng : “Chúng ta hãy đi chiến đấu cùng với bạn bè chúng ta.” Ngài đến Alexandrie để động viên các tín hữu bị bách hại, bị bỏ tù hay bị kết án lao động khổ sai. Ngài trở lại thành này một lần nữa để giúp đỡ thánh Athanase trong việc chiến đấu với bè rối Arius.
Trở về sa mạc, ngài cắm lều gần Biển Đỏ, dưới chân núi Quelzoum, có một dòng suối và một cụm dừa. Đó là nguồn gốc Đan viện Copte ngày nay của thánh Antoine. Vị thánh đan sĩ này sống đến 150 tuổi và qua đời cách thánh thiện trong căn lều của mình, khi dạy các môn đệ : “Hãy sống như anh em phải chết hàng ngày. Hãy cố gắng bắt chước các vị thánh.”
Các ảnh tượng cho thấy thánh Antoine bị ma quỉ cám dỗ, đang khi ngài cầu nguyện giang tay theo hình Thánh giá, và một con heo, nhắc nhớ lại một đặc ân của Nhà trú của thánh Antoine : vào thời Trung cổ, các vị này có quyền để cho các con heo của mình đi lang thang trong thành phố, cổ đeo một chuông nhỏ.
Thánh Antoine được kể vào số 14 vị thánh Bảo Trợ và thường được kêu cầu để chống lại Lửa thánh Antoine. Ngài cũng được xem như thánh quan thầy cho các thú vật trong nhà.
2. Thông điệp và tính thời sự
Thánh Antoine, tổ phụ các ẩn sĩ Ai Cập, là một mẫu mực cho mọi tâm hồn đi tìm Chúa, không gắn bó những gì đã qua, nhưng luôn giữ Lời Chúa trong tâm hồn.
a. Thánh Vịnh 91 gợi lên đời sống cô tịch của thánh nhân trong sa mạc, hoàn toàn dùng để cầu nguyện, suy niệm
Lời Chúa và làm việc : Người công chính lớn lên như cây dừa, giương cao như cây hương bá xứ Liban.
– Sa mạc biểu trưng cho việc từ bỏ, dứt bỏ, nơi Đức Giêsu mời chúng ta đến : Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo…Rồi hãy đến theo tôi (Phúc Âm : Mt 19,16-21).
– Sa mạc là nơi, hay là biểu trưng cho sự thử thách, chiến đấu và khổ hạnh. Theo gương Đức Giêsu Đấng được dẫn vào sa mạc để chịu thử thách (Mt 4,1) và bước ra như người chiến thắng, Antoine chọn sự cô tịch nơi Thébaide, chiến đấu với ma quỉ và sống một cuộc đời anh hùng để yêu mến Chúa “trên hết mọi sự”.
Bài đọc một (Ep 6,10.18) : Chúng ta chiến đấu với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm…, nhắc nhớ đến những cuộc chiến đấu kiên cường của thánh Antoine chống lại các thần lực xấu suốt 15 năm khi ngài ở trong sa mạc. Thánh Athanase đã nói điều này trong Hạnh thánh ; truyền thuyết và mỹ thuật làm cho những hình ảnh này nổi tiếng. Antoine, bước ra khỏi sa mạc như một kẻ chiến thắng, dạy cho chúng ta biết phấn đấu đẩy lui các thần xấu : “Không có gì làm cho linh hồn yếu đuối trở nên mạnh mẽ bằng việc kính sợ Thiên Chúa, cầu nguyện và chiêm niệm không ngừng Lời Chúa… Dấu Thánh giá và niềm tin vào Chúa chúng ta là những tường lũy bất khả xâm phạm.”
Ngày kia, sau một cuộc chiến đấu, thánh Antoine la lên: “Lạy Chúa và Thầy của con, Chúa ở đâu ?” Một tiếng nói thiêng linh đáp lại : “Ta ở gần ngươi. Ta thấy tất cả cuộc chiến của ngươi và, bởi vì ngươi đã chống cự lại ma quỉ, Ta sẽ bảo vệ phần còn lại cuộc đời của ngươi…”.
Thánh Antoine nói với các môn đệ : “Con người chỉ tốt lành, khi nào Thiên Chúa ở trong người đó.” Vì thế, nhờ được kiên vững bằng Mình Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta “có khả năng chống lại mọi chước cám dỗ” và “chiến thắng quyền lực thống trị bóng tối” (Lời nguyện hiệp lễ).
Ngày 20.01
THÁNH FABIEN, Giáo Hoàng, tử đạo (+ 250)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Canh tân Phụng Vụ vào năm 1969 tách ngày lễ thánh Fabien ra khỏi thánh Sébastien. Từ năm 354, cả hai vị thánh được mừng chung với nhau, có hai cuộc họp khác nhau bên cạnh mộ của các vị.
Thánh Fabien được bầu lên ngôi Giáo Hoàng vào năm 236 khi còn là một giáo dân, tiếp ngôi thánh Antère. Theo truyền thuyết do thánh Eusèbe ghi lại, một chim bồ câu đã đến đậu trên đầu ngài, để chỉ người đáng chọn.
Mười bốn năm trên ngôi giáo hoàng, Fabien tổ chức Giáo Hội Rôma, phân địa phận ra làm 7 vùng. Ngài đánh giá cao việc tôn kính các tháh tử đạo và giao nhiệm vụ ghi lại sách Hạnh tử đạo (Martyrologium) cho các phụ phó tế. Ngài cho sửa sang các nghĩa trang, nhất là của thánh Calliste, nơi ngài chôn cất thánh Pontien.
Theo thánh Grégoire thành Tours, ngài đã gởi sang xứ Gaule 7 vị giám mục, trong đó có Saturnin de Toulouse, Théophile dArles, Gatien de Tours và Denis de Paris. Cuối cùng, ngài can thiệp vào Giáo Hội Phi Châu để nâng đỡ Origène.
Dưới thời bách hại của hoàng đế Dèce, Fabien là một trong những người được tử đạo (20.01.250). Ngài được chôn cất trong mộ địa giáo hoàng, nơi hầm mộ Saint-Calliste mà chính ngài đã cho sửa sang lại ; trên mộ của ngài có ghi dòng chữ tiếng Hy Lạp : Fabianos Episcopos Martyr. Một phần di tích của ngài được chuyển đến đại thánh đường Saint Sébastien.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Khi nghe tin Đức Giáo Hoàng Fabien qua đời, thánh Cyprien đã gởi cho giáo đoàn Rôma một lá thư : “Tôi đã được nghe về cái chết huy hoàng của Người và tôi rất vui mừng vì sự cai quản tốt đẹp của Người đã xứng đáng được vòng triều thiên như thế” (Phụng Vụ Giờ Kinh).
Cái chết vinh quang của thánh Fabien là “một mẫu gương đức tin và sự can đảm” và “cần thiết một giám mục liên đới trong đức tin với anh em của mình”. Thánh Cyprien viết : “một số vì sợ, đã sa ngã… họ đã tách ra khỏi chúng ta!”
b. Giáo Hội Rôma đã viết cho các Kitô hữu Carthage trong thời bách hại Dèce “Giáo Hội vững vàng trong đức tin”. Cũng thế, bài đọc một của Thánh lễ khuyến khích chúng ta đừng trở lui khi bị thử thách. “Vì vậy, những ai chịu khổ theo ý của Thiên Chúa, hãy phó mạng sống mình cho Đấng Tạo Hóa trung thành” (1 Pr 4,14-19).
Nếu thầy trung tín, đệ tử sẽ trung tín : Bây giờ tôi nói : “Này con đây, con đến…” Con sẽ không che giấu sự tín trung và ơn cứu độ của Chúa ; con sẽ cao rao tình yêu và chân lý của Chúa giữa đại hội” (Thánh Vịnh 39).
Cùng ngày 20.01
THÁNH SÉBASTIEN, tử đạo (+ khoảng 300)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh Sébastien là một trong các vị tử đạo nổi tiếng của Rôma. Các hạnh tử đạo của ngài thường nói ngài là thủ trưởng đội thị vệ của Dioclétien. Thánh Ambroise lại cho rằng ngài là người thành Milan, sinh trong gia đình nổi tiếng Narbonne. Dưới trào Dioclétien, ngài bỏ Milan đến Rôma, theo như thánh Ambroise, Rôma là nơi bách hại dữ dội nhất, vì nhiều người có niềm tin mãnh liệt ; cũng nơi đó, ngài đã chịu tử đạo, nghĩa là đội triều thiên vinh quang
Tại Rôma, thánh Sébastien giúp đỡ và động viên các Kitô hữu đang bị bách hại và xứng đáng được Đức Giáo Hoàng Caius ban cho danh hiệu “Người bảo vệ Hội thánh”. Dù bị kết án là vô ơn và vô đạo, ngài bị bắt buộc tế thần của đế quốc. Khi từ chối, ngài bị trói vào một thân cây và bị bắn tên đến chết.
Thân xác tử đạo được chôn cất trong các hầm mộ nằm trên đường Appienne. Đức Giáo Hoàng Damase đã xây dựng một đại thánh đường trên mộ của ngài (thánh Sébastien-ngoại thành).
Việc tôn kính thánh nhân, được phổ biến tại Rôma, nhất là trong thời kỳ dịch tả vào năm 680, lan rộng ra trên khắp Phương Tây qua việc phân chia di tích thánh của Ngài.
Thánh Sébastien được kêu cầu để chống lại bệnh dịch và ngài cũng là thánh quan thầy của những kẻ bắn cung. Một hình ảnh mỹ thuật trình bày ngài như một người đã có tuổi, đầy râu, hay còn trẻ, nhưng bị cột vào gốc cây và nhiều mũi tên đâm qua.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời cầu nguyện riêng : “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con Thần trí sức mạnh…” ; lời cầu này cho thấy thánh Sébastien là một mẫu gương có Thần trí an ủi và tỉnh thức mà Is 11,2 nói đến. Thánh nhân đã trả lời hoàng đế, khi ông dụ ngài chối đạo: “Tôi không bao giờ chối Đức Kitô, Đấng mà tôi yêu mến và tôn thờ.”
Trong một bài giảng, thánh Ambroise đã nói về các cuộc bách hại mà quỉ dữ gây nên “sâu thẳm trong nội tâm, trong tâm hồn từng người”. Cũng như các thánh tử đạo cho thấy sức mạnh của họ khi chống lại với lý hình, thì chúng ta là những kẻ đang phải bị thử thách trong đời, cũng đã được gọi để thuộc vào số những kẻ tử đạo âm thầm của Đức Kitô, những người hằng ngày muốn sống trung thành với Phúc Âm.
Ngày 21.01
THÁNH AGNÈS (Inê),
Trinh nư, tử đạo (+ 305)
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Từ thế kỷ thứ IV, thánh Agnès là một trong các vị thánh được tôn kính nhất trong Giáo Hội Rôma. Ngày kỷ niệm được ghi nhận trong lịch Rôma cổ là ngày Chuyển di hài thánh nữ (Depositio martyrum) vào ngày 21.01.354. Nhiều Giáo phụ đã tôn kính nữ thánh : thánh Ambroise đã viết một Hạnh tử đạo về thánh nữ và đã viết một bài thánh thi ca tụng, và còn có các thánh Prudence, Jérôme, Augustin… Tên thánh nữ đã được ghi vào Kinh Nguyện Thánh Thể Rôma cùng với các nữ thánh Agatha, Lucie, Cécile… và trên ngôi mộ của bà, hoàng đế Constantin đã cho xây một đại thánh đường : Sainte-Agnès-hors-les-Murs.
Agnès (tiếng Hy Lạp là Agnè = “thanh sạch”, tiếng La Tinh là Agnus “con chiên”) là một thiếu nữ Rôma khoảng 12,13 tuổi dưới thời bách hại của hoàng đế Dioclètien. Nhiều truyền thuyết La Tinh và Hy Lạp diễn tả cuộc khổ nạn của bà. Agnès là Kitô hữu vào thời các môn đệ của Đức Kitô bị bách hại và bị giết. Lúc đó, một số người Kitô hữu chối đạo vì sợ, Bà liền ra trước mặt nhà chức trách Rôma, tuyên xưng vững vàng đức tin của mình và khao khát được tử đạo. Bà đã trả lời với vị thẩm phán nghi ngờ về đức khiết tịnh của Bà : “Tôi đã đính ước với Đấng các Thiên thần phải cung phụng. Tôi giữ niềm tin vào Người và tôi hoàn toàn thuộc về Người”. Bị bắt đem vào một chỗ đồi bại, một ánh sáng từ trời đã bao phủ bà. Bị kết án thiêu sống, các ngọn lửa bao quanh bà, nhưng không đốt nóng. Bà nói với lý hình sắp chặt đầu mình : “Đừng sợ, hãy mau chặt đầu tôi, để tôi sớm về với Đấng tôi yêu.”
Đại thánh đường thánh Agnès luôn là một nơi hành hương. Ngày lễ kính thánh nữ, người ta sẽ đem hai con chiên đến gần bàn thờ, trước khi dâng cho Đức Giáo Hoàng. Lông của hai con chiên này dùng để dệt các Pallium : một dấu hiệu mà Đức Giáo Hoàng mang và ngài cũng ban cho một số vị xứng đáng trong Hội thánh.
Thánh nữ Agès được tôn kính là thánh quan thầy cho đức trinh khiết. Trong ảnh hình, Bà xuất hiện với con chiên, và đôi khi, với một chim bồ câu, mỏ ngậm một chiếc nhẫn.
2. Thông điệp và tính thời sự
Trong một bài giảng kính thánh nữ Agnès vào năm 376, thánh Ambroise đã nói : “Các anh chỉ có một nạn nhân, nhưng lại có một cuộc tử đạo hai mặt : sự trinh khiết và đức tin. Bà đã giữ được đức trinh khiết và Bà đã được phúc tử vì đạo.”
a. Sự trinh khiết của thánh Agnès, được nhấn mạnh kỹ lưỡng trong Hạnh tử đạo, cũng được làm nổi bật trong Phụng Vụ. Thánh Ambroise đã lấy Agnès làm mẫu gương cho các trinh nữ trong chuyên khảo về Đức Khiết tịnh, đã nói trong bài giảng : “Bà như một trinh nữ đã tiến lên với những bước vui mừng đến pháp trường… Đáp lại với những hăm doạ vuốt ve, lời hứa của kẻ bách hại. Bà nói : “Đấng đầu tiên đã chọn tôi, chính Người sẽ đón tôi.”
b. Con chiên, biểu trưng sự thanh khiết, cũng là biểu trưng sự tử đạo cao cả nhất. Bài đọc một trong Thánh lễ, rút từ sách Khải Huyền, nói về đám người đông đảo đứng trước ngai vàng và trước con chiên, mặc áo trắng, cành lá dừa cầm trong tay. “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,9-17).
Thánh Agnès xứng đáng đứng gần Con Chiên. Bà cầu nguyện : “Con sẽ đến với Ngài, Chúa Cha rất thánh, Đấng con yêu mến, con tìm kiếm và luôn khao khát” Đối lại với những quyền lực thế gian, thánh Ambroise nói : “Một bé gái đứng lên, cầu nguyện và giương cổ chờ đợi…” vì sức mạnh Thiên Chúa bao trùm lên sự yếu đuối con người. Chính vì thế mọi dân tộc đều ca ngợi.
***
Ngày 22.01
THÁNH VINCENT, Phó tế, tử đạo
(+304/305)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh Vincent de Saragosse đã chịu cực hình cùng thời với thánh Sébastien và Agnès. Từ thế kỷ thứ IV, việc tôn kính thánh nhân đã lan tràn khắp Tây Phương, cùng với các thánh tử đạo phó tế Étienne và Laurent. Prudence, thi sĩ La Tinh ghi chú về ngài và thánh Augustinô đã để lại nhiều bài giảng về thánh nhân, đã nói rằng thánh tử đạo Vincent được tôn kính trên toàn đế quốc La Mã và trong Hội thánh. Các truyền thuyết tô vẽ cuộc tử đạo với nhiều nét huyền thoại.
Thánh Vincent, người gốc Huesca (Tây Ban Nha), trở thành phó tế cho thánh Valère, giám mục thành Saragosse. Cuộc thẩm tra và cực hình diễn ra ở Valence Tây Ban Nha trong thời bách hại của hoàng đế Dioclétien. Thánh nhân bị bắt và bị hành hình cùng lúc với giám mục của mình. Các hạnh tử đạo cho thấy sự can đảm của nạn nhân trước tổng trấn Dacien : “Tôi càng thấy ông giận dữ, tôi càng kiên cường hơn ; đừng giảm bớt hình phạt mà ông dành cho tôi vì nhờ đó mà vinh quang của tôi càng chiếu sáng.” Trước sự vững vàng của Vincent, tổng trấn cảm thấy thất bại : “Chống chọi vô ích, đem hắn đi với các kẻ khác.” Thánh phó tế chịu hàng loạt khổ hình vào ngày 22.01.304 hay 305.
Ngài được tôn kính như thánh quan thầy của những người trồng nho. Mỹ thuật thánh trình bày ngài với một chùm nho trong tay, và được tôn vinh như một trong những người giảng thuyết nổi tiếng. Trên mặt tiền nhà thờ chánh toà Chartres, người ta cho ngài cầm một quyển sách. Các giai đoạn cuộc sống của ngài được trình bày trên các bức tranh gắn kiến ở Bourges, Chartres, Angers và chạm nổi quanh ngôi mộ của ngài tại Avila (thế kỷ XII).
2. Thông điệp và tính thời sự
Vincent de Saragosse, cùng với các thánh phó tế Étienne và Laurent, được xem như mẫu gương cho thừa tác vụ phó tế : kết hợp với giám mục Valère, trong việc phục vụ Hội thánh, ngài đã theo người trong việc tử đạo, trong việc làm chứng sự trung thành của mình với Chúa Kitô và Hội thánh
a. Vincent (tiếng La Tinh vincere, thắng trận) có nghĩa là kẻ chiến thắng. Như kẻ chiến thắng, ngài đã minh chứng trong suốt cuộc khổ nạn : không có sự đau đớn nào có thể chiến thắng ngài. Truyền thuyết cho rằng, dù bị quăng vào tù ngục và bị hành hạ, nhưng Vincent luôn ca hát những bài thánh thi tán tụng.
b. Thánh Augustinô, trong bài giảng tôn vinh thánh Vincent, làm nổi bật ân sủng Đức Kitô đã ban cho thánh nhân, khi mời gọi ngài cùng chịu đau khổ với Người. Đó là một hồng ân. Vì thế “không ai có thể tin vào sức mạnh của mình khi chịu thử thách. Thật vậy, khi chúng ta chịu đau khổ cách can đảm, chính từ Thiên Chúa mà chúng ta được sự kiên nhẫn. Chính Người nói : Hãy vững tin, vì Ta đã thắng thế gian. Tại sao chúng ta kinh ngạc khi thánh Vincent chiến thắng trong Đấng đã thắng thế gian ?… Thân xác chịu đau khổ, Thần Khí nói, và lời của Thần Khí không những kết án sự vô tín, nhưng còn nâng đỡ sự bất lực” (Phụng Vụ Giờ Kinh).
Ngày 24.01
THÁNH FRANCOIS DE SALES,
Giám mục và tiến sĩ Hội thánh
(1567-1622)
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Francois de Sales là một trong các tác giả nổi tiếng về văn chương linh đạo của tiếng Pháp, một nhân vật đặc biệt của Kitô giáo thời mới. Con người tỉnh Savoie sống giữa hai thế kỷ nhiễu nhương, thế kỷ XVI và XVII, mang đặc điểm của việc chống nhóm Tin Lành. Ngày lễ rơi vào 24.01, ngày kỷ niệm việc rước di hài ngài về Annecy, nơi ngài đã sống một thời gian dài.
Là trưởng nam trong một gia đình có 10 người con, Francois-Bonaventure de Boisy sinh tại Savoie vào năm 1567 và nhận thêm tên de Sales của nơi sinh, trong lâu đài De Sales, gần Thorens. Ngài lên Paris và học trong trường các cha Dòng Tên (1578-1588) ; vào khoảng 19 tuổi, ngài bị thử thách về hy vọng, luôn khoắc khoải với câu hỏi : “Tôi được tuyển chọn hay bị kết án đời đời ?” Và ngài đã chiến thắng khi học được sự hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa : “Ý muốn của Chúa có thế nào trên con, con cũng sẽ yêu mến Chúa trong suốt cuộc đời này”.
Sau Paris, ngài còn học luật 3 năm tại đại học Padoue (1588-1591), ra trường với cấp bằng cao nhất. Trở về quê hương, ngài nổi tiếng ; nhưng vị luật sư trẻ tuổi này đã đáp lại danh vọng bằng một lời cầu xin khiêm tốn nơi giám mục Boisy : “Thưa cha, cha có vui lòng đón nhận con làm giáo sĩ hay không ?”
Thụ phong linh mục vào năm 1593, lúc 26 tuổi, ngài nhận nhiệm vụ tế nhị trong vùng Chablais, nơi rất đông tín đồ theo phái Calvin. Biết bao thứ truyền đơn, bươm bướm thay nhau được phân phát, người ta tổ chức “40 giờ” cầu nguyện ; người ta nói về các lạc thuyết của nhóm Calvin và tại Chablais, nhiều người đã trở lại với Công giáo. Quyển “Sách các phản đề” minh chứng cho thời gian này.
Giáng Sinh năm 1598 : Francois được Đức Giáo Hoàng Clément VIII tiếp kiến tại Rôma và được gọi làm giám mục phụ tá ở Savoie. Năm 1602 : trong sứ vụ ngoại giao ở Paris, ngài giảng ở Louvre trước vua Henri IV, đôi khi cũng có sự hiện diện của Pierre de Bérulle, Vincent de Paul…Ngày 08.12.1602 : Francois tiếp ngôi giám mục của Đức cha De Granier như giám mục của Genève-Annecy : ngài đã ở ngôi cho đến lúc qua đời.
Francois de Sales qua đời cách yên lành ở Lyon ngày 28.12.1622, được 55 tuổi. Được phong thánh vào năm 1665, được công bố là tiến sĩ Hội thánh vào năm 1877 do Đức Giáo Hoàng Piô IX, vì đã đem lại cho các Kitô hữu một con đường thánh thiện “chắc chắn, dễ dàng và êm ái”. Ngài là thánh quan thầy của giới báo chí và các thành Annecy và Chambéry. Dòng Salésiens của thánh Don Bosco xem ngài như người cha tinh thần.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện nhập lễ gợi lên linh đạo của thánh Francoise de Sales ; với sự bác ái dịu dàng, ngài đã đem lại gương mặt Kitô giáo cho Thuyết Nhân bản thời bấy giờ, thuyết này thường bị pha trộn các tư tưởng ngoại giáo. Từ đó nẩy sinh “Thuyết Nhân Bản Hy Vọng” có thể tin tưởng vào con người vì “không phải do bùn đất vô ơn mà tình yêu của người nông phu được sung mãn”.
– Thiên Chúa gần gũi với tấm lòng con người ! “Đức Giêsu dịu hiền, Đấng đã cứu chuộc chúng ta bằng Máu Thánh của Người, khao khát chúng ta yêu mến Người để chúng ta được cứu chuộc đời đời, và khao khát chúng ta được cứu độ để chúng ta có thể yêu mến Người đời đời” (Chuyên khảo về tình yêu Thiên Chúa).
– Đời sống tận hiến (hay thánh thiện, thiện hảo) vừa tầm mọi người, trong mọi điều kiện. Thánh nhân viết : “Thật sai lầm và lệch lạc khi muốn loại đời sống đạo đức ra khỏi quân đội, khỏi hàng quán của các người thủ công, khỏi cung triều, khỏi chuyện bếp núc của những đôi hôn nhân.” Cũng vậy, “phải thích ứng việc thực hành đạo đức vào sức lực, vào công việc và trách nhiệm cũng mỗi người.”
– Tiến sĩ tình yêu nói, thuyết Nhân bản của thánh Francois de Sales chấp nhận và bảo vệ “sự tự do thánh thiện” của con người nhân linh. Thánh nhân viết cho bà Chantal : “Tôi để cho bà tinh thần tự do…nơi nào sự tự do thánh thiện này ngự trị, chúng ta sẽ không có một lề luật nào ngoài lề luật của tình yêu.” Dù vậy, ngài thêm vào : “Tôi chiến đấu khi bảo vệ sự tự do thánh thiện của tinh thần, đó là điều Bà đã biết, tôi hy vọng tự do này chân thật và được tránh xa sự bại hoại và phóng đãng, đó chỉ là một thứ giả hình.”
Người ta có thể tóm kết 20 năm giám mục của ngài như sau :
a. Ngài thực hiện những sắc lệnh của Công đồng Tridentinô, chuyên tâm đầu tiên để canh tân đời sống tinh thần của giáo dân cũng như giáo sĩ. Ngài thường triệu tập hội nghị, và nhờ qua các vị giám sát địa phận, thăm chừng các hoạt động xứ đạo, ngài lập lại trật tự trong các Đan viện.
b. Là giám mục, ngài vẫn đi dạy giáo lý, giúp đỡ kẻ nghèo, giải tội và rao giảng không mỏi mệt. Trong những năm 1618-1619, khi thi hành sứ vụ tại Paris, ngài đã giảng 360 lần. Phương thức của ngài rất cách mạng : với tài uyên bác, ngài thích trao đổi thân mật để rao giảng Tin Mừng, với cách đó mới có thể tâm tình được.
c. Francois de Sales là thầy và linh hướng cho nhiều vị phu nhân quí phái, trong đó Mẹ Angélique Arnaurd, Đan viện mẫu của Port-Royal, bà bá tước De Chantal, ngài đã hướng dẫn Bà này trong vòng 18 năm và cùng với Bà thành lập Dòng Thăm Viếng (les Visitandines) vào năm 1610 tại Annecy.
d. Người ta cho rằng Francois đã viết 50 ngàn lá thơ ; vị thư ký của ngài nói rằng ngài không thể sống yên vài ngày nếu không viết 20 hay 25 lá thư, trả lời cho mọi hạng người trên nước Pháp và Savoie. Người ta đọc trong lá thư ngài viết cho Đức Frémyot, giám mục Dijon : “Có gì khác ngoài giáo lý các Giáo phụ Hội thánh, Tin Mừng được giải thích và Thánh Kinh được trình bày ?” Ngày nay chúng ta còn giữ được 2100 lá thư hay trích đoạn được xuất bản trong “Tác phẩm toàn tập” của ngài.
f. Trong các tác phẩm, chỉ cần nhớ đến 2 tác phẩm vĩ đại :
– “Dẫn nhập vào đời sống đạo đức”, xuất bản tại Lyon vào năm 1608, tái bản nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nói với từng Kitô hữu, trong mọi hoàn cảnh của họ, thánh nhân hướng dẫn họ dấn thân vào lòng đạo đức “chân thật và sống động”. Mục đích của ngài như một nhà canh tân, vì cho đến bây giờ sự thánh thiện chỉ dành cho những kẻ xa lánh trần thế.
– “Chuyên khảo về tình yêu Thiên Chúa” (1616) được viết từ những kinh nghiệm thần bí và kinh nghiệm của Madame de Chantal. Tác phẩm này, tuyệt tác của văn chương linh đạo, là thủ bản cho đời sống tinh thần, tiếp nối quyển “Dẫn nhập vào đời sống đạo đức”. Là một nhà nhân bản lạc quan, ngài xem ý chí con người, dù có mang nguyên tội, vẫn còn có khả năng vươn lên để biết và nhận ra tình yêu của Thiên Chúa, nhờ sự trợ giúp của Người.
– Thiên Chúa là nguồn gốc tất cả ; Người hiện diện trong tất cả và “Lý trí của chúng ta hay đúng hơn, linh hồn chúng ta có khả năng suy lý, là Đền thờ đúng nghĩa của Thiên Chúa vĩ đại ; Người trú ngụ nơi đây cách đặc biệt”. “Linh hồn người thân cận, chính là cây trường sinh trong vườn địa đàng : cấm sờ mó vào vì thuộc về Thiên Chúa.”
– Thánh Vincent de Paul nói về thánh giám mục Genève: “Thiên Chúa phải tốt lành vô cùng, vì vị giám mục De Sales rất tốt lành !” Trong thực tế, Francois yếu mến Chúa và con người. Vì “Thiên Chúa là Thiên Chúa của tâm hồn con người” vì thế Francois trở thành “người phục vụ mọi người trong tất cả”, hoàn toàn tín thác vào Vị Mục Tử nhân lành. Ai tiếp xúc với ngài đều cảm thấy mình là người duy nhất của ngài, vì họ cảm thấy được yêu thương với một tình yêu đơn thuần. Thánh nữ Jeanne de Chantal, trong cuộc thẩm tra phong thánh thánh Francois, đã làm chứng rằng biết bao người đã được thánh nhân giúp đỡ bằng những lời nói nồng ấm, tin cậy, bằng cách lắng nghe và đôi khi “chỉ bằng một cái nhìn”.
***
Ngày 25.01
THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI
Lễ kính buộc
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh lễ này bắt nguồn từ xứ Gaule, được xác nhận vào cuối thế kỷ thứ VI, xuất hiện bên Rôma vào thế kỷ thứ IX. Thánh lễ này tùy thuộc vào lễ kính Tòa thánh Phêrô, được dâng vào ngày 22.02.
Tầm quan trọng việc trở lại của thánh Phaolô được nhấn mạnh ba lần trong quyển Công vụ Tông Đồ (9,1-30; 22,3-21 ; 26,920), cũng như sự phong phú của bản văn và Phụng Vụ Giờ Kinh. Sự kiện xảy ra trên đường đi Damas đã làm thay đổi hoàn toàn con người này ; các trình thuật Thánh Kinh cho thấy có gì triệt để trong việc trở lại này. Các Kitô hữu của Giáo Hội vùng Juđê đã nói : “Người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại loan báo đức tin mà xưa kia ông những muốn tiêu diệt” (Gl 1,23).
Chính thánh Phaolô, trong các bản văn nói về sự kiện Damas, luôn đặt kinh nghiệm này với cuộc đời quá khứ của một người Pharisêu và bách hại đạo : “Tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Israel, họ Benjamin, là người Hipri, con của người Hipri ; giữ luật thì đúng như một người Pharisêu ; nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội thánh ; còn sống công chính theo lề luật, thì chẳng ai trách được tôi” (Pl 3,5-6). Thánh Phaolô thêm vào : “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3,8). Người Pharisêu Saul, tự cho mình là “công chính” qua việc tuân giữ lề luật không đâu chê trách được, bây giờ lại tuyên xưng : “Vì Người tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sư công chính do luật Môisen đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin” (Pl 3,7-9).
Nhờ thị kiến bất ngờ tại Damas, thánh Phaolô thấy được sự sai lệch của mình và cảm thấy được động viên để đi đến với dân ngoại. Thiên Chúa của ngài là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, Thiên Chúa của các tổ phụ, nhưng từ khi trở lại, Phaolô mới biết Thiên Chúa này đã tôn vinh Đức Giêsu, Tôi tớ của Người (Cv 3,13). Điều này đã thay đổi tất cả.
Ngày lễ thánh Phaolô trở lại muốn nhấn mạnh sự kiện này là một bước quyết định làm thay đổi quá trình phát triển Hội thánh, vì kẻ trước đây bách hại các môn đệ Đức Giêsu, đi vào các hội đường lùng sục các tín hữu để hành hạ và bỏ ngục, từ nay vâng phục Người Tôi Tớ mà Thiên Chúa đã tôn vinh và cũng là Đấng hiện ra nói với ngài : “Hãy đi, vì Thầy sẽ sai con đến với các dân ngoại ở phương xa” (Cv 22,21). Như thế, tất cả rào cản đều rơi xuống : Hội thánh mở ra cho dân ngoại và trở nên phổ quát.
1. Thông điệp và tính thời sự
Thánh lễ này kéo dài lễ Hiển Linh, việc trở lại của thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu rõ mầu nhiệm Đức Kitô hiện diện và sống động trong Hội thánh. Đức Giêsu tỏ hiện trong Hội thánh và qua Hội thánh ; trong thực tế, Người đã không nói với Phaolô : Tại sao ngươi bắt bớ các môn đệ của Ta ? nhưng lại nói : “Tại sao ngươi bắt bớ Ta ?”(Cv 22,7). Thế nên khám phá đầu tiên của kẻ trở lại chính là sự hiện diện của Đức Kitô trong Hội thánh Người.
a. Lời nguyện nhập lễ khuyến khích chúng ta đến với Chúa “tìm cách để đồng hình đồng dạng” như thánh Phaolô, khi trở thành chứng nhân của Tin Mừng.
“Tìm cách để giống” thánh Phaolô có nghĩa là chấp nhận như Ngài con đường lâu dài và gian khổ để khám phá Thiên Chúa và ý định của Người trong những sự kiện cá nhân và cộng đồng. Tiếp theo kinh nghiệm (Saulê, Saulê, tại sao ngươi bắt Ta) và sự vững tin chủ quan liên kết với kinh nghiệm trên (Tôi biết tôi sẽ tín thác vào ai), là một thời gian dài thử thách, cô đơn, đôi khi cả việc mất can đảm. Một cách thức hiện hữu và nhìn vạn vật, phát sinh từ sự kiện Damas, đòi hỏi một sự trưởng thành chậm chạp trước khi nhập tâm vào cá vị của mình. Công vụ và các lá thư nói về sự vắng mặt của ngài có thể kéo dài hằng chục năm (Gl 2,1). Chỉ sau thời gian “Sabbat” này, Barnabas mới đi tìm ngài ở Tarsus để đem lên Antioche, cho phép ngài bắt đầu liên hệ với các môn đệ Đức Kitô (tại Antioche mà họ nhận được tên Kitô hữu) và hoàn tất sứ vụ của mình nơi các dân ngoại.
b. Một đề tài suy niệm được Lời nguyện tiến lễ đề nghị. Kinh này gợi lên ánh sáng của Chúa Thánh Thần thúc đẩy thánh Phaolô và biến ngài trở thành một nhà truyền giáo “để làm cho danh Thiên Chúa vang dội trong cả thế giới”. Ngài từ là người bách hại, trở thành sứ giả của Tin Mừng, không coi việc rao giảng Tin Mừng như một lý do để kiêu ngạo, nhưng là một sự cần thiết. “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng !” (1 Cr 9,16). Thánh Phaolô nói trước các kỳ mục của Hội thánh Êphêsô : “Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách…” (Cv 20,19). Với người thành Côrinthô, ngài nhắc nhớ lại những sự mệt nhọc, khó khăn, đói khát, lạnh lẽo…Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội thánh” (2 Cr 11,27).
c. Một nét đặc thù khác trong linh đạo thánh Phaolô được nhấn mạnh trong Thánh lễ : Đức Kitô là trung tâm cuộc sống và lời rao giảng của thánh Phaolô : “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô và chết là một mối lợi : thập giá Đức Kitô là vinh quang duy nhất của tôi” ; “Với Đức Kitô, tôi đã bị đóng đinh ; không còn phải là tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi; hiện tại tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và đã phó nộp vì tôi” (Gl 2,19-20).
Việc trở lại ở Damas đã biến đổi cách triệt để cuộc đời thánh Phaolô. Một khi đã gắn bó vào Chúa Kitô, ngài biết phải tin tưởng vào ai. Thế là không còn phải lo âu gì cả. Ngài nói với những người thành Philippe : “Quên đi quá khứ, để chỉ biết lao về phía trước, tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 3,13-14).
Thánh Jean Chrysostome, trong một bài giảng tôn vinh thánh Phaolô, ca ngợi tình yêu Chúa Kitô đang cháy trong tâm hồn thánh Phaolô : “Với tình yêu này, thánh Phaolô cho rằng mình là kẻ hạnh phúc nhất giữa nhân loại…Tận hưởng tình yêu này, có nghĩa đối với Ngài là chiếm hữu cuộc sống, thế giới, Thiên thần của mình, hiện tại, tương lai, vương quyền, lời hứa, hạnh phúc vĩnh cửu”. Như vậy, sự tàn bạo và cơn giận của kẻ thù đã biến đổi thành sức mạnh và tình yêu cho một vị Tông Đồ say mê truyền giáo. Thánh Phaolô luôn tiến bước đến trước với một lòng nhiệt thành trên các con đường để nắm bắt Đấng là vinh quang duy nhất của mình. “Để chống lại Đức Giêsu, ngài đã đi về Damas ; để nắm bắt được Đức Giêsu, ngài đã phải đi khắp cùng thế giới.”
***
Ngày 26.01
THÁNH TIMÔTÊ và TITÔ, Giám mục
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Ghi chú cổ nhất về Thánh lễ kính thánh Timôtê (thế kỷ XII), thường được mừng ngày áp lễ trở lại của thánh Phaolô (tức là ngày 24.01). Hiện tại được mừng vào ngày 26.01, không nhắm tới hai vị giám mục tử đạo. Lời kinh riêng cho thánh Titô chỉ xuất hiện trong lịch Rôma vào ngày 06.02.1854 ; lời kinh này thành kinh chung cho cả hai vị thánh.
Thánh Kinh cho biết, Timôtê, người môn đệ yêu dấu của thánh Phaolô, có người cha ngoại giáo và người mẹ Do Thái tên Eunice, đã trở lại (2 Tm 1,5) ; ngài được dạy dỗ trong một gia đình có đức tin ; Thánh Phaolô ghi chú bà nội Lois đã dạy cho Timôtê biết luật Chúa (2 Tm 3,14-15). Nhờ thánh Phaolô, Timôtê trở lại trong chuyến truyền giáo lần đầu ; Timôtê cũng đi theo thánh Phaolô trong chuyến truyền giáo lần thứ hai và thứ ba, theo yêu cầu của giáo đoàn Lystre (Cv 16,1-3) và lần này, ngài đã chạm trán với những khó khăn của đời Tông Đồ (Cv 17,14-15 ; 18,5-6).
Thánh Phaolô buộc ngài phải cắt bì để có thể dễ dàng chu toàn sứ vụ giữa người Do Thái. Người ta thấy ngài đi theo thánh Phaolô và được gởi sang Macédoine (Cv 19,22) và được phó thác các cộng đoàn vùng Thessalonique (1 Tx 3), sau đó là Côrinthô (1 Cr 4,17 ; 16,10) ; rồi người ta lại gặp ngài trong nhóm đi theo thánh Phaolô (Cv 10,24). Thánh Phaolô gởi cho ngài một lá thơ từ Êphêsô (1 Tm 1,3) là nơi ngài đang thực hiện sứ vụ giữa cộng đoàn, sau đó một thư khác, trong đó thánh Phaolô gợi lại những giọt nước mắt khi chia tay (2 Tm 1,4).
Thánh Phaolô nhấn mạnh sự trung kiên của Timôtê trong các cơn thử thách. Tình bạn đã nối kết cả hai (x.Pl 2,19-33) thúc đẩy Timôtê ở lại với thánh Phaolô trong lần bị bắt thứ nhất ; cũng chính thánh Phaolô cho gọi ngài đến Rôma trong lần bị bắt thứ hai. Chúng ta không biết lúc nào ngài đã lãnh nhận việc đặt tay ; có lẽ chúng ta có thể thấy trong đoạn 1Tm 6,12 : “Anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng”. Không có gì minh chứng rằng Timôtê đã chịu tử đạo, có lẽ ngài đã qua đời tại Êphêsô.
Về thánh Titô, sinh ra trong một gia đình ngoại giáo, đã được thánh Phaolô rửa tội trong chuyến truyền giáo lần thứ nhất. Ngài theo thánh Phaolô và Barnaba lên Giêrusalem (Gl 2,1-3), tại đây thánh Phaolô chống đối việc ngài bị bắt phải cắt bì, vì xuất thân từ ngoại giáo. Khi thánh Phaolô thuật lại việc đến Troas, ngài muốn gặp Titô, “người anh em của tôi” (2 Cr 2,13), cho thấy ngài rất tin tưởng Titô, như người phục vụ trung gian giữa thánh nhân và cộng đoàn Côrinthô để tái lập lại sự hoà thuận giữa Giáo Hội này với thánh nhân (2 Cr 7,5-7). Thánh Phaolô đặt Titô đứng đầu cộng đoàn ở Crète. Trong đoạn Titô 1,4 thánh Phaolô còn gọi Titô là “người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung”. Thánh Phaolô còn viết thư bảo ngài đi theo mình từ Nicopolis đến Épire, có lẽ từ đây thánh Phaolô đã sai ngài đi rao giảng vùng Dalmatie. Thánh Timôtê được vùng này tôn kính cách đặc biệt. Theo truyền thuyết, thánh Titô qua đời trong cộng đoàn của ngài tại Crète, lúc tuổi đã xế chiều.
2. Thông điệp và tính thời sự
Kinh Tổng nguyện, chung cho cả hai vị thánh, gợi lên nhân đức xứng đáng với chức vị Tông Đồ mà Thiên Chúa ban cho hai môn đệ trung thành của thánh Phaolô. Lá thư thứ hai gởi cho Timôtê ca tụng đức tin chân thành của người con yêu quí, đã khuyến khích : Tôi nhắc nhớ anh phải luôn gợi lên trong anh ân sủng của Thiên Chúa mà anh đã lãnh nhận khi tôi đặt tay cho anh.
Ân sủng của Thiên Chúa mà thánh Phaolô nói đến là “đặc sủng” mà Timôtê đã lãnh nhận và thánh hiến ngài trong sứ vụ mục tử. Đánh thức ân sủng này, có nghĩa là làm sống lại ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Thần Trí sức mạnh, tình yêu và làm chủ bản thân.
Cũng trong lá thư gởi cho Timôtê, thánh Phaolô nói với người môn đệ của mình : “Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” thánh Phaolô đã nhắc nhở ngài việc sửa sai anh em : “Hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4,2). Đó chính là các nhân đức Tông Đồ mà các mục tử luôn cần thiết, được kêu gọi tỉnh thức, không yếu đuối và không thoả thuận.
Kinh Tổng nguyện kêu gọi chúng ta sống công chính và đạo đức trong thế giới này, lấy hứng từ lá thư thánh Phaolô gởi cho Titô : “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính, đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta, xuất hiện vinh quang (Tit 2,11-13). Câu đáp cho bài kinh Magnificat : “Chúng ta hãy sống công chính và ngay thẳng, chờ đợi ngày Chúa đến”, cũng nhấn mạnh lời đòi hỏi trung tín theo nghĩa cánh chung của cuộc đời Kitô hữu.
Trong lá thư gởi cho Titô, thánh Phaolô xin người môn đệ của mình minh chứng một mẫu gương đức hạnh ngay trong chính bản thân (2,7) ; cũng thế, ngài động viên mọi hạng người sống theo tình trạng và điều kiện của mình. Dù vậy, nền tảng tín lý của các trách nhiệm chính yếu và đặc thù đều là một cho mọi người : “Niềm hy vọng được sự sống đời đời mà Thiên Chúa, Đấng không hề nói dối, đã hứa từ thuở đời đời” (1,2). Những việc dấn thân của chúng ta trong hiện tại là sống trong một tình trạng tỉnh thức, sẵn sàng chờ đợi sự kiện cánh chung của Chúa. Sự công chính và lòng đạo đức mà chúng ta được gọi để sống, là trung tâm của nền luân lý Kitô giáo. Sự công chính (theo nghĩa Thánh Kinh) đi kèm theo lòng đạo đức, có nghĩa là tình yêu bác ái sẽ làm cho các mệnh lệnh và trách nhiệm trở thành một ách êm ái và một gánh thật nhẹ nhàng.
***
Ngày 27.01
THÁNH ANGELA MERICI, Trinh nữ
(1474-1540)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Chúng ta kỷ niệm một nữ thánh đã sống trong thời kỳ Kitô giáo đã nguội lạnh, của thời Công đồng Tridentinô.
Angela sinh năm 1474 ở Desenzano, vùng Lombardie, cạnh bờ hồ Garde, trong một gia đình nông phu khiêm tốn. Vào thời kỳ này, bán đảo phải trải qua không biết bao nhiêu tai ương, chiến tranh, tàn phá, giết chóc, dịch tả và đói khát.
Mồ côi lúc lên 15 tuổi, Angela xin nhập Dòng Ba Phanxicô và từ chối không nhận gia tài để chỉ biết sống khó nghèo. Vào năm 1516, Bà đến sống trong thành Brescia, ở SantAfra; Bà thành công khi qui tụ được một số phụ nữ quí phái.
Vào năm 1535, Bà thành lập Dòng Ursuline để giúp đỡ tinh thần lẫn vật chất cho các cô thiếu nữ, đặc biệt các em gái mồ côi. Bà ao ước các chị Ursulin đầu tiên được tận hiến cho Chúa và phục vụ tha nhân, nhưng vẫn ở tại thế, điều mà ngày nay gọi là tu hội đời.
Theo phong tục thời bấy giờ, Bà hành hương nhiều nơi, trước tiên là thánh địa (1524), sau đó là Rôma (1525). Khoảng độ một năm, Bà đi đến Mantoue để kính viếng mộ một chị Dòng Ba Đaminh mà Bà rất yêu mến, nữ chân phước Hosanna Andreasi. Bà tìm linh hứng để sáng lập dòng.
Đức Giáo Hoàng Clément VII mời Bà cộng tác trong việc quản lý các cơ quan từ thiện của Đền Tình yêu Thiên Chúa, nhưng Bà lại thích trở về Brescia. Sau hai lần hành hương cuối cùng tại Đền thánh Varallo (1529-1532), Bà quyết định thành lập Hội dòng tương lai. Bà ao ước ở gần những người đến tham vấn Bà và xem Bà như mẹ tinh thần.
Angela Merici qua đời tại Brescia vào ngày 27.01.1540, để lại cho Hội thánh Dòng Ursuline, đã tự phân ra ít là 24 nhánh, tận hiến để phục vụ nhiều công tác khác nhau trong Hội thánh. Nếu như Bà chỉ được phong thánh vào năm 1807, vì tư tưởng của Bà quá mới. Năm 1566, lũy cấm đã thiết đặt cho các chị Ursuline, nhưng chỉ để cầu nguyện chung.
2.Thông điệp và tính thời sự
Đáp ca cổ liếng láy tên của thánh nữ : Angela = angelus (Thiên thần) ; tên mới này cho chúng ta thấy Bà như mẫu gương “khôn ngoan và bác ái”. Sự bác ái khôn ngoan này tỏ hiện cách đặc biệt trong việc lập Dòng, thật vậy, Bà là mẹ “một binh đội”, từ này có liên hệ đến quân sự, nếu như người ta đặt vào thời đó.
Quân đội không ngừng cướp bóc dân chúng, và Giáo Hội Germanique (gốc Đức) vừa mới tách rời Hội thánh. Angela biết tạo một luật Dòng uyển chuyển để thích hợp với những điều kiện không gian cũng như thời gian. Điều này cho thấy qua lịch sử, các chị Ursulin đã thay đổi nhiều cách sống. Luật Dòng được Đức Giáo Hoàng Phaolô II chấp nhận vào năm 1544 và người ta đã khám phá trong đó có một sự khôn ngoan hiếm có. Nếu Bà nhấn mạnh đến cầu nguyện bằng lời và chiêm niệm, được thúc đẩy bằng một linh đạo bình dân (các chị Ursuline luôn gắn bó với nhà thờ trong xứ đạo), Bà khuyên bảo phải vâng phục Hội thánh và gìn giữ chân lý, vâng phục Đức giám mục sở tại, cha linh hướng, chính quyền và các chị lãnh đạo (bốn bà goá khôn ngoan, cẩn trọng) của Hội dòng, vâng phục cha mẹ, nhất là lời khuyên bảo và linh hứng của Chúa Thánh Thần.
Lời nguyện gợi lên sự can đảm : thánh Borromée còn chút sợ sệt nhìn thấy sự linh hứng của Chúa Thánh Thần trong lề luật, mà một người đàn bà mạnh mẽ vào thế kỷ XV đã đọc cho các con mình. Việc gợi lên Chúa Thánh Thần như thế mang một tính thời sự, điều này cho chúng ta thấy, Chúa Thánh Thần không chỉ hiện diện trong hàng giáo phẩm, nhưng còn động viên mỗi người để thực thi những điều tốt đẹp cho cộng đoàn.
Bài đọc Phụng Vụ Giờ Kinh, rút từ di chúc tinh thần (bà đọc cho cha giải tội), cho thấy Bà có một cá tính mạnh mẽ, khuyên bảo các người giáo dục thiếu nữ : các Bà này không phải hoạt động trong nghề nghiệp để giám sát, nhưng phải làm thế nào để sự tự do của các thiếu nữ được tôn trọng ; các Bà phải tránh áp bức các em, nhưng phải cố gắng thuyết phục. Các bà phải thực sự là thầy về mặt tinh thần.
Lời cầu nguyện van xin sự trung thành với lời dạy của Phúc Âm để có thể trở thành những chứng nhân, khuyến khích chúng ta cũng phải khao khát canh tân giúp Hội thánh hoạt động mạnh mẽ sau Công đồng. Chính thánh Angèla vạch cho chúng ta con đường có thể xem như những bước đầu của linh đạo gia đình và hôn nhân. Chính trong ý hướng này thánh nữ tìm cách nâng cao trình độ văn hóa và tinh thần cho các thiếu nữ vào thời đại của bà, và để phục vụ cho các em, Bà đã lập Hội dòng các “Nữ Tử khiêm tốn” của thánh nữ Ursula. Các trinh nữ giữa lòng đời đã triển nở như các phụ nữ và như các Kitô hữu ; họ ở lại trong gia đình, không có lũy cấm, không kết hôn, và sống bằng lao động chân tay. Mãi cho đến năm 1566 các nữ tu Ursuline mới bị bắt buộc phải mặc áo dòng.
Thánh nữ Angela ra lệnh : “Phải trung thành mãi với con đường và truyền thống Hội thánh mà các vị thánh, được Thánh Thần linh hứng, đã vạch ra và đã xác nhận. Hãy sống một đời sống mới…Nhưng hãy cầu nguyện và giúp kẻ khác cầu nguyện để Chúa đừng bao giờ rời bỏ Hội thánh và xin Người ưng nhận canh tân như Người muốn, như thế là tốt cho chúng ta, đặc biệt là cho vinh quang và danh dự vĩ đại của Người.”
Ngày 28.01
THÁNH THOMAS DAQUIN (Tômasô),
Linh mục và tiến sĩ Hội thánh (1226-1274)
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Vì ngày 07.03, ngày qua đời của thánh Tôma Aquinô, luôn rơi vào Mùa Chay, nên lễ nhớ của ngài được dời lại ngày 28.01, kỷ niệm ngày chuyển di hài thánh nhân về tu viện Đaminh ở Toulouse ngày 28.01.1368.
Con của một công tước ở miền nam nước Ý và người mẹ gốc Đức, thánh Tôma sinh năm 1226 tại lâu đài Roccasecca (Aquin) gần Mont-Cassin, thuộc vương quốc Naples. Từ thuở bé đã đi tìm Chúa, nên đến Đan viện Mont-Cassin để được giáo dục. Sau đó được gởi đến đại học ở Naples : dưới ảnh hưởng của các thầy xuất sắc, người thanh niên này có được những khởi đầu thật tốt về khoa học tự nhiên và luận lý.
Vào năm 1244, lúc 18 tuổi, chống lại ý muốn của cha mẹ, ngài đã vào Dòng Đaminh tại Naples để sống đặc sủng của thánh Đaminh : “Rao giảng Lời Chúa bằng cách chiêm ngăm say sưa, cử hành cách long trọng và học hỏi cách khoa học”. Sau những khó khăn do gia đình gây nên, Tôma lên đường đến Cologne, nhưng ngài bị bắt và bị nhốt trong một lâu đài 15 tháng. Khi được trả tự do, lúc 21 tuổi, Tôma được phép sống lý tưởng Đaminh, mà ngài rất tha thiết.
Năm 1245, thánh Tôma học tại Paris trong trường của thánh Albertô Cả, ngài cũng theo thánh nhân đến Cologne. Trở về Paris năm 1252, ngài được gọi làm giáo sư thần học (1256) và bắt đầu giảng dạy. Trở về Ý, từ năm 1259 đến 1269, ngài phục vụ Đức Giáo Hoàng Urbain IV.
Trong các tác phẩm, ngài đã soạn quyển “Dây xích mạ vàng” để giúp hàng giáo sĩ hiểu được Lời Chúa ; “Tổng luận chống lại kẻ ngoại” để cung cấp cho các nhà truyền giáo nơi người Hồi giáo một giáo lý đại kết vững vàng ; “Phụng Vụ lễ Thánh Thể”, được Đức Giáo Hoàng Urbain IV thiết lập.
Trong những năm 1269-1272, ngài ở Paris để bảo vệ tính hợp pháp của những trường Dòng mới được Hội thánh chấp nhận, cũng như tính chính thống riêng của đường hướng triết và thần học. Đường hướng này dựa trên thuyết Duy thực của Aristote, gây nghi ngờ với phái cổ điển theo Augustinô mà trường phái Phanxicô đang đại diện. Trong thời gian này, ngài viết tác phẩm “Dẫn giải các tác phẩm của Aristote” ; trong quyển này, ngài minh chứng cách áp dụng tư tưởng triết học Aristote vào việc giảng dạy thần học.
Từ đó ngài soạn thảo tác phẩm vĩ đại “Tổng luận thần học” (1266-1273) trình bày hợp đề mà ngài đã khổ công làm việc và cho thấy rõ tư tưởng của mình.
Được gọi về Naples, nơi Charles DAnjou tái lập đại học tại đây, Tôma đã giảng dạy tại đây. Khi được Đức Giáo Hoàng Grégoire X mời tham dự Công đồng đại kết thứ 2 tại Lyon (1274) như cố vấn thần học để kết nối lại các Kitô hữu của Constantinople và Rôma, ngài ngã bệnh trên đường đi đến Lyon và qua đời tại Fossanova, gần Rôma ngày 07.03.1274, lúc 48 tuổi. Ngài vừa viết xong một chuyên khảo về “Đức tin vào Chúa Ba Ngôi”.
Được Đức Giáo Hoàng Gioan XXII phong thánh vào năm 1323, khi tuyên bố thánh Tôma đã làm nhiều phép lạ cũng bằng các đề tài ngài viết ; Thánh nhân được tôn vinh làm tiến sĩ Hội thánh vào năm 1567. Được gọi là “tiến sĩ Thiên thần – Docteur angélique” vào thế kỷ XVI vì đời sống thánh thiện, và “tiến sĩ chung – Docteur commun” về khả năng tổng hợp và sự hiểu biết Thánh Truyền. Năm 1880, ngài được nâng lên làm thánh quan thầy các đại học và các trường Công giáo.
Trong mỹ thuật, thánh Tôma Aquinô được trình bày trong tu phục Đaminh, cầm một quyển sách và một ngôi sao toả sáng trên ngực. Ngài cũng được vẽ chung với các thánh trong bức “Đội triều thiên cho Đức Trinh Nữ” (Fra Angelico), trong bức “Tranh luận về bí tích Thánh Thể” (Raphael, Vatican), trong bức “Khải hoàn của thánh Tôma Aquin” (Zurbaran, Séville).
2. Thông điệp và tính thời sự
Thánh Tôma Aquinô được gọi là “tiến sĩ Thiên thần”, cũng được gọi là “người khôn ngoan trên tất cả các thánh và người thánh nhất trên các kẻ khôn ngoan”. Lời cầu nguyện riêng công nhận Thiên Chúa đã tạo ngài “thành một mẫu gương kỳ diệu trong việc tìm kiếm một đời sống thánh thiện và tình yêu với khoa học thánh”.
Khao khát sự thánh thiện từ khi còn thơ bé, ngài thực tập một kỷ luật nghiêm khắc trong suốt cuộc đời, đặt việc cầu nguyện và chiêm ngắm trên hết. Theo gương Chúa Giêsu là mục tiêu đời sống của mình. Trong một lần đối thoại hàng ngày với Đức Giêsu, ngài đã nghe Thầy Chí Thánh dạy : “Tôma, ngươi đã viết nhiều điều tốt đẹp về Ta, ngươi muốn ta thưởng gì cho ngươi ? – Lạy Chúa, không gì cả, ngoài chính Ngài.”
Đấng chịu đóng đinh vào thập giá là quyển sách mà thánh nhân rút mọi nguồn khoa học của mình, ngài nói, “Người ta chỉ chuyển đạt cho kẻ khác điều mà người ta đã suy niệm”. Trong một cuộc thảo luận về Kinh Tin Kính, thánh nhân động viên các học sinh của mình : “…Không một mẫu gương nhân đức nào mà lại thiếu vắng thập tự.
Nếu anh muốn tìm một gương bác ái… một gương kiên nhẫn…một gương khiêm nhường, hãy nhìn cây Thánh giá”. Chúa luôn là Đấng được phục vụ, là Đấng đầu tiên được yêu mến. Câu đáp của kinh Benedictus : “Thánh Tôma yêu Người trong kinh nguyện, trong lao động và trong sự tìm kiếm chân lý.” Thánh Tôma Aquinô luôn tìm chân lý, nhưng rất nhân từ, ngay với kẻ thù. Peckham, giáo sư Dòng thánh Phanxicô, đánh giá thánh Tôma “một người tranh luận tuyệt vời, nhưng vẫn luôn nghiêm khắc, đạo đức và nhân ái trong khi tranh luận”.
“Tình yêu đối với khoa học thánh” thúc đẩy thánh Tôma trước hết học Thánh Kinh ; ngài đã viết nhiều tập giải thích Thánh Kinh : về các Ngôn sứ, về nhiều Sách Thánh, không kể đến quyển “Sợi xích vàng” hay là quyển thu tập các tác phẩm Giáo phụ về đoạn giải thích Thánh Kinh. Chống lại thuyết Averroisme đang lan tràn, tác phẩm của thánh Tôma là một cố gắng lớn để kiến tạo giáo lý Kitô giáo, hòa hợp giữa đức tin và lý trí, các tín điều Kitô giáo với lý thuyết của Aristote.
Tác phẩm vĩ đại của thánh tiến sĩ Thiên thần được tô vẽ trong một bức tranh mà người ta có thể chiêm ngắm trong thánh đường Santa Maria Novella ở Florence (Chiến thắng của sự khôn ngoan : thế kỷ thứ XIII). Giữa bức tranh, thánh Tôma ngồi, cầm quyển sách đang mở và người ta đọc được hàng chữ: Tôi cầu nguyện và Chúa đã ban sự khôn ngoan cho tôi. Tôi van xin, Thần trí khôn ngoan đến với tôi. Tôi ưa thích Thần trí này hơn mọi ngai vàng hay vương trượng ; bên cạnh sự khôn ngoan này, tôi không coi sự giàu sang là cái gì cả”. (Kn 7,7-8)
Theo thánh Tôma Aquinô, sự khôn ngoan là điều kiện của cả tình yêu, chỉ vì, theo ngài, “sự hạnh phúc của một tạo vật có lý trí được tìm thấy trong sự khôn ngoan”.
Trong Lời nguyện nhập lễ, chúng ta cầu xin Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu những lời giảng dạy và noi gương sáng của thánh Tôma. Vì thế, về việc đào tạo hàng giáo sĩ, điều 252 của Giáo luật, ghi chú về vị thánh tiến sĩ này : “Cần có các lớp về thần học Tín Lý, luôn luôn dựa vào Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh cùng với thánh Truyền, nhờ vậy, với thánh Tôma làm tôn sư, các chủng sinh học biết tường tận mầu nhiệm cứu độ.”
Sứ điệp của thánh Tôma Aquinô được tóm tắt trong đáp ca của kinh Magnificát ban chiều : “Sự khôn ngoan được ban cho những ai khao khát ; ai chiếm hữu được sự khôn ngoan, sẽ trở thành bạn của Thiên Chúa.” Thánh tiến sĩ Thiên thần, qua mẫu gương đời sống của ngài, cho chúng ta thấy phải khao khát sự khôn ngoan như thế nào để có thể đạt được nó : chiêm ngắm, cầu nguyện và học hỏi không ngừng, vì “Ánh sáng của Thần trí tràn đầy tình yêu” chỉ có thể được ban cho những ai luôn sống trong khổ hạnh.
Nước Bỉ Ngày 30.01
THÁNH MUTIEN-MARIE WIAUX (1841-1917)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Louis-Joseph Wiaux sinh tại Mellet, gần Grosselies (Hainaut thuộc Bỉ) ngày 20.03.1841, là đứa con thứ ba trong gia đình đạo đức, có sáu người con. Cha làm nghề đóng móng ngựa. Sau khi học trường làng, ngài học làm nghề thợ rèn với cha, nhưng rồi ngài cảm thấy tương lai sẽ đổi khác. Vào năm 1856, lúc 15 tuổi, Louis-Joseph được nhận vào tiền tập nơi các sư huynh ở Namur. Ngài ham thích cầu nguyện và nhiệt thành với Đức Trinh Nữ Maria, vì thế ngài đã nhận tên Dòng là sư huynh Mutien-Marie.
Sau khởi đầu đầy khó khăn trong nhà lưu trú Malonne, ơn gọi của sư huynh Mutien-Marie bị thử thách nặng nề, vì, theo ý kiến nhiều người, thầy không có khả năng giáo dục : thầy sẽ làm đảo lộn tất cả. Nhưng một sư huynh, chịu trách nhiệm vẽ và nhạc, động viên thầy : “Hãy đưa thầy Mutien cho tôi ; tôi sẽ chăm sóc thầy và thầy sẽ thay đổi.”
Với sự vâng phục, thầy đã trở nên một thầy dạy vẽ và dạy nhạc. Thầy vẽ than, vẽ màu nước. Thầy bắt đầu học dương cầm và phong cầm ; và trong suốt đời, thầy luôn dạy cho các em mới khởi sự. Tại Malonne, sư huynh Mutien, không bao giờ giữ lớp, nhưng người ta trao cho thầy làm giám thị. Không bao giờ từ chối, thầy lại tỏ ra đúng giờ, có hiệu quả, khiêm tốn, hiền lành.
Vào tháng 11 năm 1916, thầy Mutien đã được 75 tuổi ; bệnh viện chuẩn đoán thầy bị mệt tim nặng, nhưng thầy vẫn làm việc cách nhiệt thành, luôn hiện diện nơi luật Dòng đòi hỏi. Thầy chỉ nằm liệt vài hôm, rồi qua đời cách bình an, thánh thiện ngày 30.01.1917.
Qua đời trong sự thánh thiện, sư huynh Mutien-Marie đã ban nhiều ân sủng, nhất cho những ai đến cầu nguyện nơi mộ ngài tại Malonne. Được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phong Chân phước vào năm 1977 và được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 10.12.1989. Ngài được gọi là “Tông Đồ kinh Kính Mừng”.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện nhập lễ ca tụng thánh Mutien-Marie như “một mẫu gương nhà giáo dục Công giáo cho giới trẻ, có được một tinh thần đạo đức và hiền dịu” Nhiều chứng nhân nói về Ngài: “Trong vẻ bề ngoài, thầy không có gì là uy quyền và gây ấn tượng. Thế nhưng, không bao giờ thấy Mutien nghiêm khắc chống lại một em học sinh”. “Sự hiền dịu tâm hồn trong tương quan với học sinh làm cho các em kính trọng thầy. Có một cái gì siêu nhiên phản ánh trong thầy. Tất cả chúng tôi đều yêu mến thầy, có thể thầy rất dễ thương. Một học sinh lười biếng luôn được thầy động viên để tiến tới.”
b. Cũng lời kinh đó khuyến khích chúng ta theo gương thánh nhân “luôn ưu tư để thu phục anh em bằng tình yêu cố gắng của chúng ta.”
Các học sinh trong nhà lưu trú Malonne gọi thầy Mutien-Marie là “sư huynh luôn cầu nguyện”. Chúng luôn thấy thầy lần hạt và không biết bao nhiều giờ thầy chầu Thánh Thể. Chính nơi đây, thầy múc nguồn thánh thiện và mầu nhiệm của sự bình an luôn chiếu sáng quanh thầy.
c. Sự giáo dục thành công đòi buộc phải có một liên hệ cá nhân cách quân bình, cởi mở, sung mãn nội tâm mà giới trẻ tâm phục. Sư huynh đáp lại bằng hình ảnh của một nhà giáo dục ngay cho cả ngày hôm nay, “thầy kêu gọi mọi giáo lý viên và mọi phụ huynh Công giáo ; các vị này phải biết rằng một minh chứng đức tin thật đơn sơ có thể ghi một dấu quyết định trong thế hệ đang lên. Việc Phúc Âm hóa mới mẻ trong đất nước chúng ta đòi hỏi phải có những chứng nhân, luôn phản ánh sự âu yếm và kiên nhẫn của Thiên Chúa giữa lòng thế giới” (Thư mục vụ của các giám mục Bỉ, 1989).
***
Ngày 31.01
THÁNH GIOAN BOSCO, Linh mục (1815-1888)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Thánh Gioan Bosco sinh ngày 16.08.1815 tại Becchi, làng Asti, vùng Piemont. Lúc lên 2, đã mồ côi cha, bà mẹ nuôi nấng và giáo dục vừa nhân bản vừa Kitô giáo. Bà luôn bên cạnh ngài ở Turin trong 10 năm đầu (1846-1856). Gioan Bosco học xong phần tú tài nơi Collège Royal de Chieri.
Khi được 20 tuổi, ngài bước vào Chủng viện địa phận Turin, nhờ sự nâng đỡ tài chính của Louis Guala, nhà thần học chống lối nghiêm khắc theo thánh Joseph Cafasso.
Gioan Bosco được thụ phong linh mục vào ngày 05.06.1841, không bao lâu sau đã thành lập “Oratoire Saint-Francois-de-Sales” ở Turin. Trong những năm này, thủ đô Piémont đã bắt đầu sống kỷ nguyên công nghiệp, gây biết bao vấn đề, nhất là việc di tản của giới trẻ. Hiện trạng này cũng đưa đến những hướng dẫn của Hội thánh cho những môi trường văn hóa mới.
Chính trong hoàn cảnh này, Gioan Bosco, như nhà tổ chức và là người khởi đầu về điều mà sau này người ta gọi là”hệ thống phòng ngừa” dựa trên “tôn giáo, lý trí, sự nhân hậu”.
Mặc cho phê bình và cả những tấn công mạnh mẽ của những nhóm chống giáo sĩ, Nguyện xá (Oratoire), chỉ hạn hẹp trong các ngày nghỉ, nhưng sau này thường trực, càng ngày càng được phong phú nhờ các xưởng thợ dành cho giới trẻ học nghề, cũng như khả năng hướng về chức linh mục. Vào năm 1868, đã có 800 em tụ tập nơi đây.
Đây là một cộng đồng dành cho giới trẻ lớn nhất trong nước Ý. Để đảm bảo cho công trình trong tương lai, Gioan Bosco đã thành lập Tu Hội thánh Francois de Sales (Salésiens), được Hội thánh công nhận vào năm 1869 ; tiếp đến là Hội các cộng tác viên; cuối cùng với sự cộng tác của nữ tu Marie-Dominique Mazzarello, Dòng nữ Salésiennes.
Thời truyền giáo của Dòng Salésien bắt đầu vào năm 1875, cùng với phong trào người Ý di tản sang Nam Mỹ. Luôn đi tìm ân nhân, hỗ trợ cho công trình của mình, Don Bosco đi khắp Âu Châu. Báo Le Figaro vào năm 1879 và báo Times vào năm 1888 đều gọi ngài là “thánh Vinh Sơn mới”.
Don Bosco cũng là một văn sĩ bình dân, viết về giáo lý, hộ giáo và giáo dục. Các “Bài đọc Công giáo” được phổ biến rộng rãi khắp nước Ý, từ đó hình thành “Tạp Chí Salésienne” vào năm 1877. Vị Tông Đồ vĩ đại của giới trẻ qua đời ngày 31.01.1888. Đức Giáo Hoàng Piô XI đã phong thánh ; từ năm 1936, lễ nhớ thánh Don Bosco được cử hành vào ngày thánh nhân qua đời. Cuối cùng Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II tuyên bố Don Bosco là “Cha và là thầy giới trẻ”.
2. Thông điệp và tính thời sự
Trong Lời nguyện nhập lễ cho thấy thánh Bosco là ân sủng Chúa ban cho Hội thánh như “Người cha và thầy” của giới trẻ. Bí mật của đời sống tận hiến trọn vẹn cho giới trẻ nằm trong hai từ trên ; khi đến một tuổi nào đó, ngài nói : “Tôi đã hứa với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng vẫn dành cho giới trẻ nghèo khổ.” Chính tình yêu như một người cha đối với giới trẻ đã thúc đẩy ngài xác quyết : “Tất cả cuộc đời cha dành cho các con.” Sự sẵn sàng này đã bắt nguồn từ tình thương phụ tử của Thiên Chúa. Ngài nói : “Giáo dục là việc của con tim ; chỉ vì Thiên Chúa là Thầy duy nhất, chúng ta sẽ không bao giờ thành công, nếu như Người không ban cho chúng ta chìa khóa.”
Trong tất cả các xác quyết trên, lòng nhân hậu chiếm một chỗ đặc biệt nhất. Trong lá thư, Hội thánh trích đọc trong Phụng Vụ Giờ Kinh, Don Bosco khuyên bảo các cộng sự yêu thương giới trẻ như con cái của mình, chỉ vì họ đang giữ vai trò giáo dục của một người cha, mẫu mực cho mọi thứ giáo dục Kitô giáo. Chính thánh nhân làm gương cho chúng ta : ngài viết một lá thư cho Rôma vào năm 1884 rất nổi tiếng: “Giới trẻ đã được yếu mến đầy đủ chưa ? Anh biết tôi yêu mến chúng như thế nào. Anh cũng biết, vì chúng, tôi đã đau khổ và chịu đựng trong suốt 40 năm qua,và tất cả những gì tôi đau khổ và chịu đựng vẫn còn tới nay.”
Don Bosco rất yêu kính Đức Mẹ : ngài luôn kêu cầu Đức Trinh Nữ Maria dưới tước hiệu Đấng Cầu Bầu cho các tín hữu, ngài nhìn Đức Maria “Người Mẹ luôn tha thứ và bảo bọc mọi người dưới áo choàng từ ái”. Trong giấc mơ có tính tiên tri vào lúc 19 tuổi, Đức Maria đã mặc khải cho ngài thấy mình là “Nữ chủ”.
Đặc điểm thứ hai của thánh nhân nằm trong phương pháp giáo dục phòng ngừa, đem lại cho Hội thánh việc tiếp xúc với quần chúng. Phương pháp này phải thấy trước những nguy hiểm đang rình rập giới trẻ, nhưng trước tiên nhờ một giáo dục chân tình nhắm vào sự tự do của cá nhân. Phương pháp này đã sản sinh ra hoa trái tốt đẹp nơi Nguyện Xá Valdocco trong con người của thánh Dominique Savio, vị thánh trẻ này nói với một người bạn : “Nơi đây, sự thánh thiện nằm trong sự vui tươi và chu toàn bổn phận cách tuyệt hảo.”
Thánh Don Bosco luôn nói : “Ước gì giới trẻ hiểu rằng họ được yêu mến.” Lời nguyện nhập lễ cầu xin Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta “có được tình yêu để đi tìm ơn cứu độ cho anh em chúng ta, để chỉ phục vụ một mình Thiên Chúa làm thôi”. Thánh nhân đã dùng một câu Thánh Kinh làm châm ngôn : Hãy ban cho con các linh hồn và hãy lấy đi tất cả những gì còn lại (St 14,21). Linh đạo của ngài nằm trong hoạt động mà ngài nhấn mạnh : “Không phải sám hối hay kỷ luật mà tôi khuyên anh em, nhưng là lao động, lao động, lao động…” Lao động “là công trình của Thiên Chúa” và công trình của Thiên Chúa là “công trình các linh hồn “ được hoàn thành trong thinh lặng, vì như ngài luôn nói : “Sự thiện hảo không ồn ào, và sự ồn ào không làm nên việc thiện.”




