Phụng vụ chư thánh tháng2

Phụng Vụ Chư Thánh – Tháng 2

Phụng Vụ Chư Thánh – Theo lịch Phụng Vụ Rôma

Tác giả: ENZO LODI

Nhóm dịch: Linh Mục hạt Xóm Chiếu

 

THÁNG HAI

Mục Lục

Ngày 03.02
THÁNH BLAISE, Giám mục và tử đạo
(+ khoảng 316)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Lễ thánh Blaise được mừng kính vào ngày 03.02, kỷ niệm ngày qua đời của thánh nhân, theo như Hạnh tử đạo của ngài. Kỷ niệm này được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ thứ IX trong lịch Phụng Vụ của xứ Naples. Khi được công nhận tại Rôma vào thế kỷ thứ X, việc tôn kính thánh Blaise phát triển nhanh trong các thế kỷ XI và XII.

Ngày nay cho dù gặp nhiều khó khăn trong việc phê phán lịch sử, việc tưởng nhớ ngài nhắc nhớ chúng ta về Hội thánh vinh quang của Arménie, mà thánh nhân là chứng nhân duy nhất trong Phụng Vụ Rôma.

Thánh tử đạo của thế kỷ thứ IV này chỉ được biết đến nhờ những truyền thuyết rất trễ vào khoảng thế kỷ thứ IX trong Giáo Hội Saint-Clément ở Rôma. Ở Phương Đông, lễ nhớ của ngài cử hành vào ngày 11.02 rất long trọng như người ta vẫn cử hành ở Phương Tây.

Theo truyền thuyết, Blaise là một thầy thuốc trước khi trở thành giám mục thành Sébaste (Siwas, ở Thổ Nhĩ Kỳ). Vào thời bách hại của hoàng đế Licinius thế kỷ thứ IV – tổng trấn Capadoce là Agricola – đã bắt ngài ; ngài tình cờ bị bắt đang khi ở trong một hang mà ngài chọn làm nơi trú ẩn, nơi đây thú rừng luôn đến để ngài chăm sóc. Thánh nhân bị kết án trảm quyết.

Vị thánh đã làm phép lạ chữa lành một em bé bị xương cá đâm vào cổ ; phép lạ này là nguồn gốc nghi thức chúc lành cho cổ họng vào ngày lễ thánh nhân. Cũng vậy, thói quen cũng dâng một cây đèn cầy trong ngày lễ, nhắc đến một truyền thuyết khác. Khi còn trong tù, giám mục Blaise đã nhận lương thực và một cây đèn mà ngài đã xin một phụ nữ đạo đức.

Người ta kêu cầu thánh Blaise như một trong các vị thánh Bảo Trợ, đặc biệt cho các chứng đau cổ họng ; bên Đức, từ thế kỷ thứ XV, cho các chứng về máu và ung thư. Vì được xem là thánh quan thầy của những người dệt lông cừu, nên người ta vẽ hình thánh nhân với một bó sợi trong tay. Nhiều thánh đường đã được dâng kính thánh Blaise.

2. Thông điệp và tính thời sự

Bài giảng của thánh Augustinô được đưa vào Phụng Vụ Giờ Kinh, nhắc nhớ rằng : “Con Người đến không phải để được người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến dâng cuộc sống mình làm giá cứu chuộc nhiều người” (Mt 20,28).

Lời của Đức Giêsu được hiện thực trong đời sống và cuộc tử đạo của thánh Blaise mà truyền thuyết cho thấy ngài siêng năng cầu nguyện và luôn sẵn sàng giúp đỡ các bệnh nhân, người nghèo, kẻ khổ hạnh.

Người biết rằng “không có tình yêu nào cao quí cho bằng chết đi cho người mình yêu”, Và “ai mất mạng sống sẽ tìm lại được nó” (câu đáp).

“Lạy Chúa, xin lắng nghe lời van xin của dân Ngài, nhờ lời cầu bầu của thánh Blaise”. Thánh Tử đạo, sau khi đã ban sự sống của mình, như Đức Kitô, vẫn tiếp tục ở trên trời sứ vụ bảo trợ, nâng đỡ các lời cầu của chúng ta. Thánh Augustinô nói : “Chúng ta cũng thế, chúng ta phải nâng đỡ các chi thể của Đức Kitô với sự yếu đuối của chúng ta, vì chúng ta đã trở thành chi thể của Người ; nếu Người là Thủ Lãnh, chúng ta là Thân thể của Người” (Phụng Vụ Giờ Kinh).
***

Cùng ngày : 03.02
THÁNH ANSCHAIRE, Giám mục (801-865)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Thánh Anschaire được gọi là “Tông Đồ phương Bắc”, vì đã rao giảng Tin Mừng vùng Bắc Đức, Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy.

Anschaire (hay Ansgaire), sinh gần Amiens, được các thầy Bênêđictô ở Corbie, vùng Picardie, dạy dỗ. Trở thành đan sĩ Biển Đức, ngài được cử đến Đan viện Corwey (Saxe), làm hiệu trưởng trường Dòng tại đây. Từ năm 826, sau khi vua Đan Mạch là Harold lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, Anschaire trở thành nhà truyền giáo; ngài đã nhiều lần đi truyền đạo vùng Bắc Đức (Schleswig), Thụy điển và Na Uy.

Trong thời gian đó, ngài được gọi làm giám mục tiên khởi của Hambourg (832), sau đó là Brême (847), cuối cùng là Đặc sứ của Đức Giáo Hoàng vùng Scandinavie.

Qua nhiều lần truyền đạo vùng Bắc Âu, ngài đã đem nhiều người trở lại, trong đó có Olav, vua Thụy Điển (852). Công trình Phúc Âm hóa của ngài sau này được các vua Éric IX (1150-1160) ở Thụy Điển, Canut vĩ đại (1018-1035) ở Đan Mạch và Olav II (1015-1030) ở Na Uy tiếp tục.

Các tác phẩm của ngài phần lớn đều mất cả, ngoại trừ quyển Pigmenta (cầu nguyện dựa theo thánh thi), một lá thư viết cho Louis người Đức và nhiều giám mục. Trong các thư này, người ta thấy ngài rất khiêm tốn, khi cho mọi cố gắng truyền giáo của mình là của Ebbon thành Reims. Ngài qua đời tại Brême ngày 03.02.865 sau một cơn bệnh gây đau đớn. Tiểu sử của ngài được Rimberth, người kế nhiệm của ngài viết.

2. Thông điệp và tính thời sự

Phụng Vụ ca tụng thánh Anschaire như “nhà truyền giáo cho nhiều dân tộc” và xin ngài cầu bầu cho chúng ta đi trong ánh sáng chân lý thần linh.

Ngày nay, người ta thường nói về một cuộc “Tân Phúc Âm hóa” trong thế giới đã bị tục hoá và khô khan vì đức tin, cũng giống như các nước do thánh Anschaire truyền giáo. Vị thánh mục tử này, được đánh giá như “đan sĩ bên trong, Tông Đồ bên ngoài”. Rimberth, người viết tiểu sử của ngài, nói : “Ngài ca tụng Thiên Chúa bằng các lời Thánh Vịnh ; ngài sám hối các lỗi lầm của mình, chúc lành các vị thánh tuân phục Thiên Chúa ; than khóc cho người nghèo và những kẻ tội lỗi mà ngài cảm thấy mình được sai đến.”

Ngài gieo nhiều, nhưng gặt ít trong mảnh đất khô cằn, như người ta nói. Nhưng đối với một nhà truyền giáo, điều chính yếu là đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, như Công đồng Vaticanô II viết : “Ngoài những lý do trần thế, nhà truyền giáo phải hoàn toàn gắn bó với công tác Phúc Âm…

Ngài phải có một đời sống rập khuôn Tin Mừng, một sự vững vàng không lay chuyển, kiên nhẫn, hiền dịu, một bác ái chân thật…và nếu cần, phải hy sinh cả mạng sống mình”. Phụng Vụ Giờ Kinh viết : “Như những người kiến tạo hòa bình, sứ vụ đang chờ đợi anh em : để giao hòa thế giới chỉ cần có tình yêu. Với những ai đón nhận anh em, cũng như kẻ xua đuổi anh em, hãy loan báo cho họ Tin Mừng : Nước Thiên Chúa đã đến gần.”
***

Ngày 05.02
THÁNH NỮ AGATA, Trinh nữ, tử đạo (+ 251)
Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Agata, theo nghĩa tiếng Hy Lạp “người tốt”, là một thiếu nữ Sicilien, sinh tại Catane, dưới chân núi Etna. Được tử đạo vào năm 251 trong thời bách hại của Dèce ; việc tôn kính nữ thánh từ Sicile lan tràn cả Phương Tây (Constantinople) lẫn Phương Đông (Rôma, Milan, Ravenne) từ thế kỷ thứ V, được mừng vào ngày 05.02.

Tại Rôma, có một thánh đường được dâng kính thánh nữ vào thế kỷ thứ V, được gọi là Saint-Agathe-des-Goths. Vào đầu thế kỷ thứ VI, Đức Giáo Hoàng Symmaque đã đưa việc tôn kính thánh nữ vào thành thánh và cung hiến một đại thánh đường trên đường Via Aurelia cho thánh nữ. Người ta cho rằng Đức Giáo Hoàng Grégoire Cả đã đưa tên thánh nữ vào Kinh Nguyện Thánh Thể Rôma; tên thánh nữ có trong các hạnh tử đạo Hy Lạp lẫn La Tinh.

Thánh nữ Agata được tôn kính cách đặc biệt tại Catane; dân thành phố này tin rằng thánh nữ đã làm nhiều phép lạ trong thời đất nước gặp khó khăn ; họ tin rằng nhờ lời cầu bầu của thánh nữ đã cứu được thành khỏi bị núi lửa Etna bùng nổ. Agata được xem như thánh quan thầy của các cô bảo mẫu, người làm chuông, làm đồ nữ trang…Ngài được kể vào các thánh Bảo Trợ, được kêu cầu khi người ta bị bệnh đau thận. Mỹ thuật trình bày thánh nữ cầm một cái dĩa trong tay, trên có đôi vú bị cắt.

2. Thông điệp và tính thời sự

Thánh nữ Agata biết làm đẹp lòng Thiên Chúa bằng việc thánh hiến sự đồng trinh và sự can đảm trong cuộc tử đạo.

a. Theo truyền thuyết, ngay từ bé, Agata đã chọn con đường tận hiến trinh khiết, hoàn toàn tự do dâng hiến cho tình yêu Chúa Kitô. Để chống lại các đòi hỏi của tổng trấn ngoại giáo Quitinien mà thánh nữ bị bắt, bị hành hình đau khổ và bị giết chết.

Thánh Méthode, giáo chủ Constantinople (+ 487), trong bài giảng ngày lễ tử đạo của thánh nữ, đã nhấn mạnh đến sự thánh hiến của thánh Agata, “đính hôn với hôn phu duy nhất là Đức Kitô… thánh nữ suy niệm và luôn chiêm ngắm cái chết của hôn phu một cách say mê”. Tình yêu nồng cháy đã làm cho thánh nữ hạnh phúc, như tên của thánh nữ, chỉ vì Thiên Chúa là nguồn mọi điều tốt lành.

b. Trong thời bách hại của Dèce, rất nhiều người được tử đạo, nhưng cũng có nhiều người chối đạo. Sự can đảm của các chứng nhân đức tin trước các lý hình nhấn mạnh đến tính chất anh hùng của hy tế và gương mẫu của họ, đã giúp đỡ rất nhiều người Kitô hữu thêm vững vàng trong đức tin, như thánh nữ Agata, theo như Hạnh tử đạo của bà, “vui tươi và chiếu sáng, bước vào tù ngục như vào một bàn tiệc.”

Thánh Méthode khuyến khích các tín hữu của ngài chạy đến với nữ thánh tử đạo, “như đang chiến thắng trận chiến hiện tại, thánh nữ Agata mời gọi mọi người đến với Bà, dạy dỗ bằng mẫu gương của mình : mọi người hãy đến với bà, đến với sự tốt lành chân thật, không gì khác hơn là chính Thiên Chúa.”
***

Ngày 06.02
THÁNH PHAOLÔ MIKI và CÁC BẠN, Tử đạo
(+ 1597)
Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Phaolô Miki là một trong 3 Giêsu-hữu thuộc nhóm 26 thánh tử đạo đổ máu ngày 05.02.1597 trên đồi Tateyama, gần Nagasaki (Nhật Bản), trong đó có : 6 nhà truyền giáo Tây Ban Nha thuộc Dòng Phanxicô ; 3 giáo lý viên thuộc Dòng Tên Nhật Bản, trong số đó có Phaolô Miki, còn có 17 giáo dân người Nhật cùng tử đạo.

Phaolô Miki được nêu danh đặc biệt vì thái độ anh hùng khi ngài bị đóng đinh cùng với các bạn. Các vị này là những người tử đạo đầu tiên của miền Viễn Đông được ghi vào sách các thánh tử đạo (Martyrologium). Trong số này, cũng có các em dưới 14 tuổi : Louis, André, Antoine. Chứng nhân cuộc tử đạo này đã nói về Antoine : “Đôi mắt hướng về trời, sau khi gọi danh thánh Giêsu và Maria, em bắt đầu cất tiếng hát Thánh Vịnh : “Các em hãy ca ngợi Thiên Chúa” mà em đã học tại Nagasaki, trong trường giáo lý.”

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện nhập lễ nói : Thiên Chúa là nguồn sức mạnh của các thánh ; lời kinh này đã gọi Miki và các bạn “đã vượt qua Thánh giá để đi vào sự sống”.

Em Antoine, khi bị một vị quan dụ bỏ đạo, đã nói : “Thập giá không làm tôi sợ ; tôi lại khao khát nó vì tình thương Chúa Kitô.”

Từ trên Thánh giá, Phaolô Miki đã nói với đám đông tụ họp : “Tôi muốn nói với anh em điều này : không có con đường cứu độ nào ngoài con đường người Kitô hữu đi. Tôn giáo này dạy tôi tha thứ, tôi xin tha thứ cho nhà vua cách thật lòng và tất cả những người tạo ra cái chết của tôi, và tôi cầu nguyện để họ có thể lãnh nhận phép rửa của người Kitô hữu.”

Bài đọc một (Gl 2,19-20) nhắc lại những lời của Phaolô Miki : Tôi chịu đóng đinh vào cây Thánh giá cùng với Đức Kitô : tôi sống, nhưng không phải là tôi, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi. Từ trên cao của 26 cây Thánh giá, các thánh tử đạo ở Nagasaki đã trở thành hình ảnh sống động của Đức Kitô, Đấng kêu gọi các môn đệ đi theo Người : Nếu ai muốn theo tôi, phải bỏ mình, vác thập giá của mình và theo tôi (Mt 16,25).

b. Phaolô Miki và các bạn đã gìn giữ và tuyên xưng đức tin cho đến lúc chết. Trình thuật về cuộc tử đạo của họ, do một chứng nhân ghi lại, cho thấy hiến tế của họ như một Phụng Vụ : người ta hát Thánh Vịnh “Các em, hãy ca ngợi Chúa” ; người ta kêu đến thánh danh Giêsu và Maria ; người ta đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng và người nào đó đã lập lại lời van xin của người trộm lành : Lạy Chúa, xin nhớ đến con. Cuối cùng, 4 lý hình đã chấm dứt chứng cứ anh hùng của đức tin bằng việc lấy giáo đâm vào tim, trong khi các Kitô hữu vẫn kêu lên : “Giêsu, Maria !” Như thế đối với họ, cũng như đối với Chúa Giêsu trên đồi Calvariô : “Tất cả đã hoàn tất” (Ga 19,30).
***

Nước Bỉ ngày 06.02
THÁNH AMAND, Giám mục
(khoảng 600-679)
Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Thánh Amand (Amandus) có lẽ là người vùng Aquitaine, thuộc tây-nam nước Pháp ; ngài được sinh ra vào đầu thế kỷ thứ VII. Rời bỏ quê hương vào lúc 20 tuổi, trở thành đan sĩ trên đảo Yeu (Vendée), sau khi đi hành hương viếng mộ thánh Martin thành Tours, ngài sống ẩn sĩ trong vòng nhiều năm cạnh nhà thờ chính toà Bourges.

Sau khi thụ phong giám mục, Amand sang Rôma, trước khi trở thành nhà truyền giáo du hành, rao giảng Tin Mừng vùng Gaule Bỉ. Phương pháp của ngài như một người khai phá: sau khi thiết đặt một cộng đoàn Kitô hữu, ngài lại đi, sau khi trao trách nhiệm kiện toàn cộng đoàn cho một người khác.

Dù vậy, vào năm 646, theo lời yêu cầu của Sigebert II, vua Austrasie (xứ Gaule thuộc Dòng merovingienne), Amand trở thành giám mục vùng Maastricht (Hà Lan), nhưng ngài chỉ ở lại đây có 3 năm, dù có lời khuyên bảo của Đức Giáo Hoàng Martin I.

Để củng cố việc gieo mầm Hội thánh, vị thánh giám mục đã thành lập nhiều Đan viện hay tu viện, trở thành trung tâm truyền giáo và chiếu tỏa đức tin Kitô giáo. Chúng ta nhớ lại các tu viện Gand và Nivelles thuộc Bỉ và Elnone, ngày nay là Saint-Amand-les-Eaux, gần vùng Valenciennes, phía Bắc nước Pháp.

Trong tu viện này ngày nay chỉ còn lại hai hành lang thuộc thế kỷ XVII, thánh Amand đã qua đời khoảng năm 679, sau khi đã viết di chúc của mình.

Tiểu sử của ngài, được trứ tác vào thế kỷ thứ VIII, được dịch và ghi lại bằng thơ văn do một tu sĩ Saint-Amand (845-855) ; việc tôn kính ngài rất phổ biến ở nước Bỉ và miền Bắc nước Pháp ; ngày nay chúng ta còn thấy nhiều thánh đường được dâng kính ngài : 87 nhà thờ trong số đó 24 nằm trong vùng Flandres.

Thánh Amand, còn gọi là Elnone, được vẽ như một giám mục, tay cầm một ngôi thánh đường.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện nhập lễ gợi lên công trình truyền giáo của thánh Amand : “ngài đã kêu gọi cha ông chúng ta đến với ánh sáng Phúc Âm nhờ lời rao giảng của ngài.”

Các dân vùng Gaule Bỉ, Frisons và Flamands được đưa đến niềm tin Kitô giáo và được rửa tội nhờ một công trình qui mô và vĩ đại, được thực hiện theo chiều sâu và lâu dài. Trừ ba năm trú lại trong toà giám mục ở Maastricht, vị giám mục này luôn di chuyển, dù vậy ngài vẫn biết tạo những trung tâm Kitô giáo vững vàng và có hiệu quả : các Đan viện luôn chăm sóc đến đức tin và sự hiệp nhất trong Hội thánh.

Tiếng tăm của thánh Amand nơi người Franc, khi làm trung gian cho họ nơi Đức Giáo Hoàng, được minh chứng bằng liên hệ thư từ mà chúng ta trích đọc trong Phụng Vụ Giờ Kinh. Đức Giáo Hoàng Martin I ghi chú về các trận chiến mà thánh Amand phải chịu và khuyến khích ngài kiên cường trong mọi hình thức để phục vụ cho “Đấng đã muốn đau khổ và chết vì chúng ta.”

Lời nguyện riêng của Thánh lễ kết thúc bằng lời cầu xin: “Lạy Chúa, nhờ lời cầu bầu của thánh nhân, xin gia tăng trong chúng con sự thánh thiện và sự hiểu biết Con Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.”

Lời cầu nguyện gợi ý Kitô học cho thấy công tác thần học của thánh nhân : cuộc hành trình sang Rôma để giúp vua Sigebert II đón nhận các quyết định của Công đồng Latran (649) kết án Nhất chí thuyết, theo thuyết này, trong Đức Kitô chỉ có một ý chí, đó là ý chí thần linh và chỉ có một cách hành động. Nhân tính của Đức Kitô chỉ giữ vai trò khí cụ trong tay của Logos, mà không có ý chí nào cả.

Cũng như thánh Amand giúp cho Đức Giáo Hoàng nắm bắt tình hình bên xứ Gaule, thì Đức Giáo Hoàng cũng viết thư cho Amand : “Cha gởi đến cho con các biên bản của Công đồng. Nhờ lá thư này, con hãy giúp Cha xua đi những bóng tối lầm lạc, như con luôn thuộc về con cái ánh sáng.” Thánh Amand dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho Phúc Âm, luôn chú tâm đến tính chất tinh tuyền của đức tin, trong sự hiệp thông với Giáo Hội Rôma và Đức Giáo Hoàng.
***

Ngày 08.02
THÁNH JÉRÔME ÉMILIEN (1486-1537)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Thánh Jérôme Émilien sinh tại Venise năm 1486, trong một gia đình quí tộc và đã chọn binh nghiệp trong thời thành phố đang chống lại với binh đội của Maximilien I. Người Pháp đã bắt ngài làm tù binh, Jérôme đã trở lại và nhận ra ơn huệ cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria.

Rời bỏ cuộc sống sôi động, ngài khấn hứa dâng hiến cuộc đời để phục vụ Thiên Chúa, nhưng mãi sau vài năm lưỡng lự (1521-1528), mới thực sự dứt khoát thực hành lời hứa.

Cuộc đói kém năm 1528 và các trận dịch tiếp theo trở thành cơ hội để ngài hoàn toàn phục vụ cho những người vô phước, đến độ sử dụng tất cả tài sản và phải ngã bệnh. Vừa lấy lại sức, ngài bắt đầu đón nhận các trẻ mồ côi về nhà mình. Ngài dạy chúng giáo lý và nghề nghiệp. Luôn nhắc lại lời của thánh Phaolô : “Ai không muốn làm việc thì không đáng ăn”. (2 Tx 3,10).

Không bao lâu môi trường phục vụ của ngài vượt quá Venise, đến các vùng Brescia, Milan và Bergame. Nhờ sự trợ giúp của nhiều nhà hảo tâm, ngài mở các viện mồ côi và trường học. Được hỗ trợ do nhiều người sẵn sàng dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và phục vụ bác ái, ngài thành lập tại Somasque, gần Bergame, Hội các người phục vụ kẻ nghèo, sau này được gọi là Dòng giáo sĩ Somasque (Pères Somasques).

Jérôme Émilien bị bệnh dịch, qua đời ngày 08.02.1537 khi kêu danh thánh Giêsu, Maria. Được phong thánh vào năm 1767 và vào năm 1928, ngài được tuyên phong là thánh quan thầy các trẻ mồ côi và các em bị bỏ rơi.

2. Thông điệp và tính thời sự

Phụng Vụ nhắc nhớ thánh Jérôme Émilien như “người cha và kẻ bảo vệ các em mồ côi”, ca tụng lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Chính Người, trong sự nhân từ vô biên, đã gọi thánh lập Dòng “Những người phục vụ kẻ nghèo”

a. Hình ảnh của người môn đệ đích thực của Đức Kitô được Phúc Âm thánh Luca vẽ ra : Hãy nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ (6,36). Và chính Đức Giêsu Kitô, qua lời giảng dạy và gương mẫu của Người, cho thấy tình yêu của Người dành cho trẻ thơ, cho những người bị loại ra ngoài xã hội, kẻ nghèo, người bệnh và kẻ tội lỗi.

Thánh Jérôme Émilien, sau khi cảm nghiệm được lòng nhân từ của Thiên Chúa, đã sẵn sàng trở thành người đầu tiên “phục vụ cho kẻ nghèo”, đáp lại tiếng gọi vô vọng của các em mồ côi, những bệnh nhân bị bỏ rơi, bệnh nhân bị dịch tả…

Mẫu gương của thánh nhân thu hút nhiều môn đệ và ngài đã động viên họ : “Chúa nhân từ của chúng ta muốn gia tăng đức tin anh em và muốn nhận lời anh em. Chính vì Người muốn anh em đón tiếp kẻ nghèo hèn, những người bị áp bức, những kẻ đau khổ và kiệt lực, những người bị khinh khi…”

b. Qua lời cầu nguyện, chúng ta xin Thiên Chúa – nhờ lời cầu của thánh Jérôme Émilien – “được luôn gìn giữ tinh thần con cái” mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta.

Thiên Chúa đã cho chúng ta thành con cái của Người, kêu gọi chúng ta phó thác vào Người. Thánh nhân đã viết cho các cộng sự viên : “Thiên Chúa không hoàn tất công trình của Người trong những ai không muốn đặt tin tưởng và hy vọng vào Người ; nhưng Người sẽ ban tràn đầy lòng bác ái cho những ai có một niềm tin vững chắc và một hy vọng tràn đầy.”

Ngày 10.02
THÁNH SCHOLASTICA, Trinh nữ
(khoảng 480-547)
Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Từ cuối thế kỷ thứ VIII, lịch Phụng Vụ của Mont-Cassin định ngày kỷ niệm Scholastica vào ngày 10 tháng 02. Việc tôn kính thánh nữ được lan rộng, nhất là trong các Đan viện từ thế kỷ thứ IX.

Scholastica sinh tại Nursia (Ombrie) khoảng năm 480, là em của thánh Bênêđictô. Thánh Grégoire Cả (Dialogues II,33-34) nói rằng, chị đã tận hiến cho Thiên Chúa từ khi còn bé và có thói quen đến thăm anh một năm một lần tại núi Mont-Cassin. Hai vị thánh gặp nhau và chia tay vào lúc đêm, vì theo luật dòng, Viện phụ không được phép rời khỏi Đan viện lúc đêm.

Thánh Grégoire Cả nói, vào buổi chiều khi họ gặp nhau lần cuối cùng, Scholastica đã xin anh : “Em xin anh, đừng bỏ em đêm nay : hãy nói cho em nghe về niềm vui của đời sống trên trời.” Thánh Bênêđictô trả lời : “Em nói cái gì vậy, hãy ra ngoài Đan viện, anh không được phép.” Thánh Grégoire viết tiếp : “Bầu trời không gợn một đám mây ! thánh nữ nghiêng đầu cầu nguyện. “Khi Bà ngước mặt lên, sấm sét bùng lên dữ dội và cơn mưa ập tới, đến độ vị đáng kính Bênêđictô và anh em đi theo ngài không thể vượt qua nơi mà họ đang trú…Như thế họ đã tỉnh thức suốt đêm, trao đổi những việc thiêng liêng cho tới sáng.”

Ba ngày sau, khi thánh Bênêđíctô ở Đan viện, thấy linh hồn của người em mình, dưới hình chim bồ câu, bay lên trời. Ngài hiểu rằng em đã rời bỏ trần gian và đã đi tìm xác em về đặt trong ngôi mộ ngài đã chuẩn bị cho chính mình. Câu chuyện trình thuật kết lại như sau : “Những ai đã có tinh thần luôn kết hợp trong Chúa, sẽ không bao giờ chia lìa nhau ngay cả trong mộ” (Dialogues II,34).

Hiện tại di hài của thánh nữ Scholastica và thánh Bênêđictô được yên nghỉ dưới bàn thờ trong tu viện ở Mont-Cassin.

2. Thông điệp và tính thời sự

Scholastica và Bênêđictô là hai tâm hồn luôn kết hợp sâu xa trong Chúa, vì giữa họ, tình yêu thiên linh là nguồn mọi tình bạn chân thật.

Thánh Grégoire Cả đã giải thích “phép lạ” do lời cầu nguyện của thánh nữ : “Đừng lấy làm lạ, trong trường hợp này, một phụ nữ lại mạnh hơn : em khao khát gặp anh mình lâu hơn. Và như thánh Gioan nói : Thiên Chúa là Tình yêu, Bà mạnh hơn chỉ vì Bà yêu nhiều hơn.” Bà đã nói với Viện phụ: “Em van anh, mà anh lại không chịu nghe em. Em cầu xin Thiên Chúa và Người đã nhậm lời.”

Lời cầu nguyện của thánh nữ Scholastica gợi lên “tình yêu không vấy bẩn” và “sự dịu dàng” mà các tâm hồn phục vụ Thiên Chúa được cảm nghiệm.

Bài đọc một trong Thánh lễ (1 Cr 7,25-35) ca tụng đức trinh khiết mà thánh nữ tận hiến cho Thiên Chúa : Người phụ nữ có chồng, hay các trinh nữ, chỉ lo lắng việc của Thiên Chúa; họ chỉ muốn dâng cho Người đời sống và tinh thần của mình.

Bài Phúc Âm (Lc 10,38-42) cho thấy Bà Maria ngồi bên chân Chúa, chỉ muốn nhấn mạnh đến tình yêu người trinh nữ Scholastica, vì Bà đã chọn phần tốt nhất mà không ai có thể lấy mất được (câu 42).
***

Ngày 11.02
ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Lễ nhớ vào ngày 11.02 được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII công nhận trong địa phận Tarbes, như là ngày lễ của địa phương. Đức Giáo Hoàng Piô X đã triển khai vào lịch Rôma vào năm 1908, để nhớ lại những lần Đức Mẹ hiện ra với Bernadette Soubirous năm 1858 nơi hang Massabielle (11.02 – 16.07).

Bernadette tóm tắt sự kiện như sau : “Tôi trở lại hang đá trong vòng 15 ngày…Bà (Đức Trinh Nữ Maria) lập lại nhiều lần với tôi rằng tôi phải nói với các linh mục, phải xây ở đây một nhà nguyện và đi đến suối nước để tắm rửa và tôi phải cầu nguyện cho kẻ tội lỗi ăn năn trở lại. Nhiều lần tôi có hỏi Bà là ai. Bà chỉ mỉm cười. Bà giang tay xuống, ngước mắt nhìn trời, sau đó Bà nói với tôi Bà là đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Ngày kỷ niệm này là một Thánh lễ dâng kính Đức Trinh Nữ Maria, lễ nhớ. Đối tượng của Thánh lễ không phải là sự kiện lịch sử của việc hiện ra, nhưng là Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Tông Huấn của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI “Marialis cultus” nhắc đến lễ Đức Mẹ Lộ Đức là những lễ “liên kết với một sự tôn kính địa phương, có một âm vang lớn” (số 18).

Thật vậy, Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội hiện ra ở Lộ Đức được cử hành như một hình ảnh “thành thánh Giêrusalem mới”, Thiên Chúa sẽ hướng bình an đến đó như một dòng sông cả (bài đọc một : Is 66,10-14).

b. Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội mang một sứ điệp đơn sơ trong sáng :
Mẹ mời chúng ta cầu nguyện. Bernadette nói : “Bà làm dấu Thánh giá…tôi cầm lấy xâu chuỗi ; Bà lần theo xâu chuỗi của Bà…” Đức Mẹ yêu cầu em cầu nguyện để kẻ tội lỗi ăn năn trở lại.

Ngoài việc cầu nguyện, Đức Maria yêu cầu sám hối. Khi hiện ra lần thứ chín, Bernadette lập lại 3 lần, như âm vang em đã nghe từ trên cao : “Sám hối, sám hối, sám hối.”

– Sự trở lại là trọng tâm của sứ điệp Lộ Đức. Bernadette nói : “Bà lập lại với tôi nhiều lần, đến suối nước để rửa mặt và tôi phải cầu nguyện để kẻ tội lỗi ăn năn trở lại” (Thư cho cha Gondrand). Thật vậy, Lộ Đức đã trở thành nơi thanh tẩy và giao hòa cho nhiều kẻ hành hương, họ làm như Bernadette đến suối nước “rửa mặt”.

c. Tại Lộ Đức, Thiên Chúa tỏ tình thương thật gần gũi với con người mà Người yêu dấu, và đối với những con người ấy, Đức Maria đã cầu bầu cho họ, như Mẹ đã làm tại Cana.

Sự cầu bầu của Đức Maria được dân chúng luôn cầu nguyện tụng, luôn van xin : “Lạy thánh nữ Đức Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con…” Sự hiện diện mẫu từ của Đức Maria đã đem đến biết bao ân sủng cho khách hành hương, về phương diện thể lý, luân lý, tinh thần…Tại Lộ Đức cũng ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia : “Anh em sẽ gặp Người và tâm hồn anh em sẽ vui thỏa ; tứ chi anh em như hoa cỏ mới, sẽ tươi trẻ lại” (Bài đọc một trong Thánh lễ).
***

Ngày 14.02
THÁNH CYRILLÔ, Đan sĩ (khoảng 827-869)
THÁNH MÉTHÔĐÔ, Giám mục (khoảng 815-885)
Lễ kính – Ở Âu Châu : lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Ngày lễ kính thánh Cyrillô và Mêthôđô, được kính như các Tông Đồ dân Slave và được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II công bố năm 1980, như thánh quan thầy Âu Châu, cùng tước hiệu với thánh Bênêđictô, trùng với ngày qua đời của thánh Cyrillô, khi đến Rôma vào ngày 14.02.869.

Hai anh em Cyrillô và Mêthôđô gốc ở Salonique (Hy Lạp ngày nay). Trước khi đi truyền giáo vùng Moravie, Méthôđô là Tổng trấn một tỉnh người Slave và Cyrillô, nhỏ tuổi hơn, nhưng lại sáng chói hơn, đã chu toàn những sứ vụ tôn giáo và ngoại giao quan trọng. Cả hai nói lưu loát tiếng Slave.

Sứ vụ làm cho hai vị nổi tiếng là sứ vụ do Thượng phụ Photios sai đi từ năm 862-963 với mục đích dạy dỗ và Phúc Âm hóa dân Slave ở Moravie trong ngôn ngữ của họ. Vì thế Cyrillô và Mêthôđô bắt đầu dạy ngữ vựng đầu tiên, được gọi là “Cyrillique” và họ cũng đã dịch các văn bản tôn giáo ra tiếng Slave : Thánh Vịnh, các Phúc Âm, các Thư Tông Đồ, kinh nguyện…

Sau vài năm ở Moravie, Cyrillô và Mêthôđô tiếp tục công tác ở Pannonie (Hungarie và một phần đất Yougoslavie ngày nay), trước khi đến Rôma, nơi họ được Đức Giáo Hoàng Adrien II đón nhận và công nhận các việc họ làm về Phụng Vụ Slave. Tại Rôma, Cyrillô ngã bệnh và qua đời vào ngày 14.02.869, lúc ấy ngài khoảng độ 40 tuổi.

Sau cái chết của người em, Méthôđô được gọi làm giám mục ở Pannonie và sứ thần toà thánh cho dân Slave ; ngài gặp nhiều khó khăn do sự chống đối của hàng giáo sĩ Đức ; nhưng điều này không ngăn cản được công trình Phúc Âm hoá và hội nhập văn hóa mà ngài đã theo đuổi cho đến chết (885).

Các môn đệ ngài đã rao giảng Tin Mừng miền Bohême, ông hoàng Bozyvojd được rửa tội theo nghi thức Slavon, sau đó là dân Serbie và Lusace (vùng Croatia), tiếp đến là Ba Lan, Bulgarie, Roumanie và vùng Kiev.

Với công trình như thế, chúng ta mới thấy được công khó của hai thánh Cyrillô và Mêthôđô trong việc thiếp lập các cộng đoàn Kitô giáo trong nhiều vùng Đông Âu. Việc này đã tạo một bước tiến để thành lập Âu Châu, không những về mặt tôn giáo, nhưng cả về mặt chính trị và văn hóa.

Mỹ thuật trình bày thánh Cyrillô với bản ngữ vựng, và thánh Mêthôđô với một quyển Phúc Âm mở ra, được ghi bằng tiếng Slavon.

2. Thông điệp và tính thời sự

Thánh Cyrillô ngã bệnh và biết trước giây phút cuối cùng của mình, vẫn nhận ra ơn gọi cao cả : “Xưa tôi chưa hiện hữu, bây giờ tôi đã hiện hữu và tôi sẽ hiện hữu mãi mãi.” Ngài cầu nguyện cùng Thiên Chúa : “Lạy Chúa, xin gìn giữ đàn chiên trung thành này… Xin triển khai Giáo Hội với số lượng cao và qui tụ mọi thành phần vào trong sự hiệp nhất. Xin thu tóm tất cả thành một dân được tuyển chọn, kết hiệp mọi người trong đức tin và giáo lý chính thống…” (Phụng Vụ Giờ Kinh).

Được giao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô, Cyrillô và Mêthôđô đã giảng dạy “đức tin chân thật và giáo lý chính thống”, nhưng hai ngài còn hoàn tất công tác Phúc Âm hóa khi hội nhập sứ điệp Kitô giáo vào trong văn hóa các dân Slave. Nhờ thế, khi công trình của hai vị được hoàn tất, đã cho phép ngôn ngữ Slave xứng đáng trở thành văn tự phổ biến. Nhờ việc đề cao ngôn ngữ và văn hóa, các dân tộc Slave đã có thể chống cự lại thứ chính trị thống trị và đồng hóa của người German và người Hy Lạp.

Công trình của Cyrillô và Mêthôđô vô cùng to lớn, đánh dấu bằng sự can đảm trí thức và sự khiêm tốn, vì trong thời gian mà người ta chỉ được cầu nguyện ca tụng Thiên Chúa bằng tiếng Hipri, Hy Lạp hay La Tinh, hai vị thánh Tông Đồ của dân Slave đã đáp trả bằng tiếng Slave, và qua đó cho thấy mọi người có thể với Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của mình.

Bên cạnh các tác phẩm tôn giáo, cả hai đã dịch và suy diễn “Bộ Luật Justinien”, được xem như bộ luật cổ nhất của Slave (Zakon Sudnyj). Người ta cũng cho rằng thánh Mêthôđô đã dịch quyển Nomokanon, thu tập các luật Giáo Hội và luật dân sự Byzantin.

Phúc Âm được chọn cho Thánh lễ này là dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,1-20). Các khó khăn mà vị Tông Đồ đã phải gánh chịu (Mêthôđô cũng đã phải vào tù) không ngăn cản được hạt giống rơi vào đất tốt và mang lại nhiều hoa trái.

Công trình Phúc Âm hóa vẫn chưa kết thúc. Chính vì thế Hội thánh, trong ngày lễ kính hai vị thánh Tông Đồ này, đã hát trong Thánh lễ Thánh Vịnh 95 : Từ ngày này sang ngày khác, hãy công bố ơn cứu độ của Người / hãy thuật lại cho muôn dân vinh quang của Người / cho muôn dân kỳ công của Người. Chúng ta có thể nhắc lại những lời cuối cùng của Cyrillô nói với anh mình là Mêthôđô : “Anh ơi, chúng ta đã chia sẻ cùng một số phận, cùng dắt một cái cày trên cùng một luống. Em biết anh vẫn thích Núi thánh của anh (sự cô tịch), nhưng đừng bỏ trách nhiệm giảng dạy để trở về với núi đó. Thật vậy, anh tìm được nơi nào để hoàn tất ơn cứu độ của anh?”

Ngày 17.02
BẢY THÁNH LẬP DÒNG TÔI TỚ ĐỨC MẸ,
Thế kỷ XIII
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Lễ nhớ này được xác định vào 17.02, kỷ niệm ngày qua đời của vị thánh nổi tiếng nhất trong nhóm bảy anh em : Alexis Falconieri vào năm 1310, được gần 100 tuổi.

Theo bài tường trình về nguồn gốc của Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ, vào khoảng năm 1233, 7 thương gia thành Florence rút vào núi Senario, gần Florence. Nơi đó “họ hoàn toàn tận hiến để phục vụ Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria cách trung thành hơn”. Bản văn kể tiếp : “Để theo gương anh em, họ đón nhận thêm vài người …Tất cả tạo thành cộng đoàn Tôi Tớ Đức Mẹ, dựa trên sự khiêm nhường, sống chung theo quyết định của anh em và tuân giữ luật khó nghèo.”

Người ta biết rằng những kẻ nhiệt thành Đức Trinh Nữ Maria đã có thêm một số nhóm giáo dân được gọi là “Những người phục vụ Đức Bà”. Kết hợp với nhau nhờ lý tưởng Phúc Âm và việc phục vụ người nghèo cũng như bệnh nhân, họ rút vào vùng cô tịnh Cafaggio, gần Florence. Trên núi Senario, họ xây một nhà nguyện dâng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Cộng đoàn huynh đệ này, người Florence gọi là “Kẻ phục vụ – Servites” dần dần nẩy sinh thành một Dòng tôn giáo, dựa theo luật thánh Augustinô, thích ứng với các sống hiện tại của họ. Dòng Tôi Tớ Đức Bà được Hội thánh công nhận vào năm 1304 và cả bảy bị thành lập được phong thánh vào năm 1888 do Đức Giáo Hoàng Léô XIII. Truyền thống đưa ra 2 danh sách khác nhau ; theo Pierre Jounel : chỉ có hai tên là chắc chắn : đó là Bonfils và Alexis. Truyền thống còn nêu các tên khác : Amédée, Benoit, Barthélemy, Jean… Ricovère thiết lập Dòng bên nước Pháp, và Girardin bên Đức.

Ngày nay Dòng Tôi Tớ Đức Bà có mặt trên Mỹ Châu, Nam Phi, Australia và vùng Ấn Độ. Sống thành những cộng đoàn nhỏ, các tu sĩ này đáp ứng các đòi hỏi hiện tại : giáo xứ, dạy dỗ, tuyên úy…

2. Thông điệp và tính thời sự

Cuộc sống của bảy vị lập Dòng Tôi Tớ Đức Bà, ngoài những điểm khác, đặc biệt là tình yêu trìu mến với Đức Trinh Nữ Maria, và qua Mẹ, là Đức Giêsu. Theo linh đạo của dòng, tình yêu phải được sống trong tiếng thưa Vâng của Đức Maria, theo gương Mẹ đã trao ban suốt cuộc đời, đặc biệt dưới chân Thánh giá.

Đời sống cộng đoàn được các thánh lập Dòng dựa trên sự khiêm tốn, hoà thuận, nghèo khó, luôn thực tập tình yêu đối với Thiên Chúa trên hết mọi sự, đồng thời phục vụ các Kitô hữu. Tình yêu đã nối kết họ giữa nhau và với Thiên Chúa, thúc đẩy họ đến với các thành thị loài người, thường trong thời gian huynh đệ tương tàn (thời của họ). Các tu sĩ Dòng Tôi Tớ Đức Bà trở thành những người đi kiến tạo hoà bình và phục vụ kẻ khốn khổ.

Ơn gọi của bảy vị thánh lập Dòng để sống một cuộc đời anh hùng thánh thiện, đã thúc đẩy họ từ bỏ tất cả. “Và khi họ tìm được viên ngọc quí, không những họ chia sẻ tài sản cho người nghèo, mà còn tận hiến cách vui vẻ cho Thiên Chúa và cho Đức Trinh Nữ Maria để phục vụ thật trung thành”. Phúc Âm Thánh lễ gợi lên dụ ngôn người buôn ngọc quí (Mt13,44-46), trong khi bài đọc một nhắc đến đời sống cộng đoàn của bảy vị. Họ sống trên núi Senario cuộc sống cộng đoàn và cầu nguyện của Tông Đồ xưa ở Giêrusalem, một lòng với Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đức Giêsu (Cv 1,12-14).
***

Nước Pháp ngày 18.02
THÁNH NỮ BERNADETTE SOUBIROUS,
Trinh nữ (1844-1879)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Lễ nhớ thánh nữ Bernadette Soubirous, xưa cử hành vào ngày 16.04, ngày qua đời của thánh nữ, nay dời về ngày 18.02, nhắc lại việc Đức Maria hiện ra và nói với thánh nữ : “Ta không hứa với con một đời sống hạnh phúc tại thế, nhưng ở bên kia thế giới.” Được phong chân phước vào năm 1925 và được Đức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh ngày 08.12.1933 trong dịp Năm Thánh.

Thánh nữ Bernadette sinh tại Lourdes (Cao nguyên Pyrénées) vào năm 1844, chị cả trong gia đình có 4 anh em ; người cha là chủ nhà cối xay khánh kiệt, đi làm công nhật, nhưng thường thất nghiệp. Trong thời gian Đức Mẹ hiện ra, gia đình gồm 6 nhân khẩu sống tại Lourdes trong một gian phòng duy nhất ẩm thấp, nơi trú ngụ cuối cùng của nhà Soubirous, khi bị người ta xua đuổi.

Bernadette có một sức khoẻ yếu ớt, “đau bao tử và lá lách”. Thêm nữa, bị nhiễm dịch tả từ năm 1855, nên cô cũng bị suyển. Khi được Bà vú nhận để chăn cừu tại Bartrès, cô không than thở gì cả, trong thinh lặng, cô lần chuỗi.
Ngày thứ năm 11.02.1858, Bernadette đi tìm củi bên cạnh hang Massabielle. Khi cởi giày ra để lội qua suối Le Gave, có những ngọn gió mạnh làm cô chú ý, và như thế bắt đầu chuyện kỳ lạ cho Bernadette : trong vòng 5 tháng, tất cả là 18 lần, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra cho Bernadette. Trên hang Massabielle, một bụi cây lay động nhẹ. “Hang tối chiếu sáng, và trong ánh sáng ấy, một nụ cười, một cử chỉ mời đón. Đó là một thiếu nữ mặc áo trắng…” Đó là lần hiện ra đầu tiên. Vào ngày 25.03, vào lần hiện ra thứ 16, “Bà” mới nói tên mình : “Que soy era Immaculada Councepciou” theo thổ ngữ của Bernadette. “Ta là đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Trước đó 4 năm, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã định tín với những từ như sau : “Đức Trinh Nữ Maria, ngay từ lúc được thụ thai…đã được gìn giữ, hoàn toàn thanh sạch khỏi mọi vết nhơ nguyên tội”(Sắc chỉ Ineffabilis).

Sau những ngày hiện ra (11.02–16.07.1858), Bernadette khao khát trở thành nữ tu, được nhận lưu trú trong dưỡng đường của Lourdes (1860-1868) trước khi được nhận vào Dòng Nữ Tử Bác Ái tại Nevers. Chị lấy tên Soeur Marie-Bernard, bước vào tập viện (1866) và tuyên khấn ngày 30.10.1867. Các vị bề trên, để có thể bảo vệ chị tránh các cuộc viếng thăm bất thường, đã giữ chị trong nhà mẹ, nơi đây chị giúp như phụ y tá và lo phòng thánh. Vì sức khoẻ yếu và luôn bệnh hoạn, chị qua đời lúc được 35 tuổi ngày 16.04.1879, sau khi lập lại hai lần : “thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho con là kẻ có tội”. Trước đó, ngước mắt lên trời, đôi tay giang theo hình Thánh giá, chị kêu lớn tiếng : “Chúa ơi !”

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Chúa bảo vệ những kẻ khiêm nhu… Đó là câu khởi đầu của Lời nguyện nhập lễ. Điều làm chúng ta kinh ngạc trong cuộc đời của thánh nữ Bernadette chính là sự khiêm nhường. Có một ngày Bernadette nói : “Nếu như Đức Trinh Nữ Maria tìm được một người ngu dốt hơn tôi, có lẽ Mẹ đã chọn rồi.” Có một người muốn tìm gặp người đã được diễm phúc nhìn thấy Đức Maria, Bernadette trả lời : “Ồ thưa bà, Bernadette cũng như mọi người khác thôi.”

Thật vậy, các Bà bề trên, chị giáo tập, luôn ngăn cản chị đừng khoe khoang vì được thấy Đức Mẹ, luôn nhắc nhớ chị : “Kiêu ngạo không là gì cả đâu !” Chị nữ tu không buồn phiền gì cả, chấp nhận lỗi lầm của mình : “Chị giáo tập có lý ; tôi còn nhiều tội kiêu ngạo quá. Tôi chỉ xứng đáng phủ đầy tro thôi.” Đôi khi, chị lại nói : “Hãy cầu cho tôi được ăn năn trở lại”.

b. Lời nguyện nhập lễ : “Lạy Chúa ! Chúa đã cho thánh nữ Bernadette nhiều ân sủng kiên nhẫn và bác ái đáng kinh ngạc…” Một chứng nhân xác nhận, chị có một tâm lý mạnh mẽ, hay giận, nhưng biết tự chủ. Sự kiên nhẫn này đến từ việc quên mình đi, hướng mọi đau khổ để phục vụ cho ơn cứu độ nhân loại. Chị viết trong quyển sổ nhỏ : “Theo gương Đức Giêsu, tôi mang thập giá đang ẩn kín trong tâm hồn với sự can đảm và quảng đại… Thật là điên dại khi chỉ hướng về bản thân. Lạy Chúa, xin ban cho con lòng mến yêu thập giá.”

Đối với Bernadette, đức ái là qui luật vĩ đại nhất. Một lần đã làm phiền lòng một chị nữ tu, chị đã khóc tràn đầy nước mắt : “Em xin chị hãy tha thứ cho em, vì em đã nói chị như vậy. Xin cầu nguyện cho em được ăn năn trở lại.” Chị rất yêu mến những kẻ nghèo, trẻ em mồ côi. Chị bà con Jeanne Védère làm chứng : “Chị yêu mến trẻ em nhiều lắm.”

Nhưng trên hết là tình yêu đối với Thiên Chúa ; Thiên Chúa là đối tượng của mọi suy tư và mọi lời nói. Chị nói : “Tôi luôn tùng phục thánh ý Chúa và tôi chỉ muốn thánh ý Chúa mà thôi.” Y như lúc chị quyết tâm, sau thời gian tĩnh tâm vào năm 1875: “Lạy Mẹ Maria, Mẹ yêu dấu của con, xin ban cho con ân sủng để làm tất cả, đau khổ tất cả vì tình yêu.”

Bernadette Soubirous bị Bề trên xem “không làm được tích sự gì cả”, lại được Hội thánh công nhận là “trung thành với sứ vụ, khiêm tốn trong vinh quang và mạnh mẽ trong thử thách”. Chị thường đau yếu, nhưng luôn phấn đấu, kiên nhẫn và bác ái ; chị được Thiên Chúa chọn để nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa chọn những gì yếu đuối nhất trong trần gian (bài đọc một) và “hạt giống chết đi, sẽ đem lại nhiều hoa trái” (Phúc Âm Thánh lễ).

Ngày 21.02
THÁNH PIERRE DAMIEN,
Giám mục và tiến sĩ Hội thánh
(1007-1072)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Vào thế kỷ thứ XI, Pierre Damien là người canh tân hàng giáo sĩ cùng với Đức Giáo Hoàng tương lai là Grégoire VII. Ngài được Đức Giáo Hoàng Léô tuyên phong là tiến sĩ Hội thánh vào năm 1828.

Ngài được sinh ra tại Ravena, miền bắc nước Ý, là con út trong một gia đình rất đông con. Mồ côi, ngài được người anh Damien nuôi nấng, nên đã lấy tên của anh mình : từ đó ngài gọi là Pierre Damien. Rất thông minh, vào lúc 25 tuổi, ngài đã làm viện trưởng đại học. Ba năm sau, ngài bước vào Đan viện Saint-Croix de Fonte Avellana (vùng Ombrie) ; ngài trở thành kinh sĩ vào năm 1043.

Ý thức về tình trạng đáng trách của ngôi giáo hoàng cũng như của giáo sĩ, đan sĩ Pierre Damien hy vọng một cuộc canh tân trong Hội thánh. Nhân dịp tuyển chọn Đức Giáo Hoàng Grégoire VI (1045), ngài viết thư cho vị Tân Giáo Hoàng : “Ứơc gì được trở lại thời hoàng kim của các thánh Tông Đồ và ước gì, dưới trào của Đức Thánh Cha, kỷ luật hàng giáo sĩ được bừng sống lại.”

Vào năm 1051, ngài tung ra một tác phẩm gây kích động mọi người : Quyển sách của Gomorrhe. Đó là bản báo cáo về những điều xấu xa của hàng giáo sĩ. Để trả lời cho những ai đặt vấn đề với ngài : “Tại sao lại gợi lên những điều xấu xa như thế ?” Ngài trả lời: “Làm thế nào lương y có thể chữa lành, nếu bệnh nhân cứ cố che giấu mãi bệnh của mình ?”

Vào năm 1057, Pierre Damien được Đức Giáo Hoàng canh tân Étienne IX gọi làm Hồng Y–giám mục của Ostie. Ngài bắt đầu chiến đấu kịch liệt với tội mại thánh và vô luân, do Đức Giáo Hoàng chỉ thị trong các sứ vụ ngoại giao hay kỷ luật. Vào năm 1060, ngài viết cho Phản Giáo Hoàng Honorius II : “…Kẻ tiếm ngôi, việc tuyển chọn ngài vô giá trị… ngài giống như tên Giuđa.”

Cũng thế, ngài viết cho Đức giám mục phạm tội mại thánh : “Xin ngài rút lui cho !” Ngài cũng viết cho Hoàng đế Heinrich IV của Đức dự trù ly dị : “Thưa Đức Ngài, hãy giữ lấy hôn phối của mình. Ly dị là phạm tội, bất xứng đối với một Kitô hữu, lại còn không xứng đáng với một vị vua.”

Là đan sĩ, nhưng lại là một con người hoạt động, Pierre Damien hoàn tất một sứ vụ vĩ đại trong Hội thánh vào thế kỷ XI, bao gồm những lần đi sang Đức, Pháp, Ý. Đan sĩ Jean Huscenot viết : “Nếu như ngài rời Đan viện là để đi cảnh tĩnh và tái lập trật tự trong Hội thánh, thường đã trở thành một thứ hội chợ ồn ào, đầy bóng tối sự xấu.”

Ngài qua đời lúc 65 tuổi ngày 22.02.1072. Trên nắm mộ của ngài tại Faenza, người ta có thể đọc dòng chữ : “Xin nhớ đến tôi. Xin lấy lòng thương xót nhìn đến tro bụi của Pierre, hãy khóc trên nấm mộ này và cầu nguyện cho nó : “Lạy Chúa, xin thương xót nó !” Ngài để lại nhiều thánh thi và bài thơ, hạnh các thánh (đời sống thánh Romualđô), nhiều tác phẩm thần học, tu đức, các thư và bài giảng.

2. Thông điệp và tính thời sự

Pierre Damien cho viết trên mộ của ngài : Hãy yêu thích những gì tồn tại hơn là những gì chóng qua. Viện trưởng đại học sáng chói, nhưng ngài đã thực tập lời của Chúa Giêsu: Hãy bán tài sản của anh, phân phát cho kẻ nghèo. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng hề hao hụt trên trời (Phúc Âm Thánh lễ : Lc 12,33-34). Ngài khuyên bảo các đan sĩ : “Hãy coi chừng những thứ khoa học không dẫn anh em đến đức bác ái…không thích hợp với Chúa Giêsu.” Ngài chiến đấu cho cuộc canh tân, trong một thời đại buồn thảm nhất của Hội thánh : “Kỷ luật viện tu thật chễnh mãn và xa rời sự toàn thiện mà viện tu phải luôn nhắm tới. Phần đông các giáo sĩ sống tục hóa. Về phần giáo dân, họ tấn công và trả thù nhau.”

Pierre Damien chấp nhận chức Hồng Y, nhưng là để phục vụ Hội thánh tốt hơn và ngài chấp nhận vì lời hăm dọa của Đức Giáo Hoàng Étienne IX : “Hãy chấp nhận chức Hồng Y hay Cha sẽ dứt phép thông công con”. Từ đó ngài mới dám khuyến khích các vị Hồng Y khác : “Chúng ta hãy rao giảng cho dân chúng những lời của sự sống, nhưng không từ môi miệng của chúng ta nhưng là từ nghiêm khắc của tâm hồn… Điều làm nên vị giám mục chính là sự thánh thiện trong hạnh kiểm.”

Đan sĩ Hồng y Pierre Damien chạy khắp Âu Châu như đặc sứ của Đức Giáo Hoàng để giúp cho hàng giáo sĩ có được sự xứng đáng và cho Hội thánh có được sự tự do. Lời cảnh cáo của ngài vang lên theo giọng điệu Khải Huyền : “Hãy sám hối và quay về, hỡi các dân mới của Sodoma và Gomorrha !”, nhưng ngài cũng biết dịu dàng. Ngài biên thư cho một người bạn đang bệnh : “Đừng thất vọng, đừng buồn, đừng mất kiên nhẫn. Hãy có nụ cười trên mặt, niềm vui trong tâm hồn, lời tạ ơn trên môi miệng…Hãy trang bị tâm hồn bằng sự kiên nhẫn và chờ đợi trong niềm vui.”
***

Ngày 22.02
LẬP TÔNG TÒA THÁNH PHÊRÔ, Tông Đồ
Đại lễ

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Quyển lịch cổ nhất của Rôma (Depositio martyrum) có từ năm 354, xác nhận Thánh lễ “Ngai Tòa thánh Phêrô – Chaire de Saint Pierre” được mừng kính ngày 22.02, ngày dân Rôma nhớ đến những người quá cố. Nhưng sau đó, vì các Giáo Hội xứ Gaule không cử hành trọng thể các lễ trong Mùa Chay, nên Thánh lễ này được dời vào ngày 18.01, trong khi Giáo Hội Rôma vẫn giữ ngày cũ. Ngày lễ cũng khác và chủ đề cũng khác : trong xứ Gaule, người ta mừng lễ “Ngai Tòa thánh Phêrô tại Rôma” ; tại Rôma, người ta mừng lễ “Ngai Tòa thánh Phêrô tại Antiochia”. Cuối cùng hai lễ nhập lại làm một và được xác định vào ngày 22.02, dưới một chủ đề : Ngai Tòa thánh Phêrô.

Tại Rôma, trong đại thánh đường thánh Phêrô, người ta còn giữ được ngai toà (tiếng La Tinh cathedra) của vị giáo hoàng tiên khởi, có nghĩa là ngai toà, theo truyền thống, thánh Phêrô đã sử dụng. Nó là biểu trưng cho uy quyền của Đức Giáo Hoàng như là Thầy dạy, Thượng tế và mục tử của Hội thánh toàn cầu.

2. Thông điệp và tính thời sự

Thánh lễ kính Ngai Tòa thánh Phêrô giúp chúng ta đào sâu sứ vụ của vị Tông Đồ Phêrô và các đấng kế vị trong Hội thánh, nhờ phong trào đại kết, tìm cách kết hợp mọi Kitô hữu.

a. Ngai Tòa thánh Phêrô trước tiên nhắc nhớ đến sứ vụ Đức Giêsu trao phó cho Simon-Phêrô : “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,32). Mặc cho thử thách mà đức tin các Tông Đồ phải chịu (Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo), đức tin của thánh Phêrô giữ vai trò nền tảng trong Hội thánh tiên khởi. Thánh Phaolô xác nhận Chúa Giêsu đã hiện ra với Céphas (Phêrô), sau đó cho nhóm Mười Hai (1 Cr 15,5); cũng thế, Phúc Âm thánh Luca xác nhận trong câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmaus : “Nhóm Mười Một và các bạn hữu nói với họ : Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon” (Lc 24,34)

Phụng Vụ nhấn mạnh việc “đức tin của thánh Tông Đồ Phêrô” là đá tảng, trên đó Chúa đã xây dựng chúng ta. Phúc Âm Thánh lễ soi rọi niềm tin này của thánh Phêrô (Mt 16,13-19), trong lời tuyên xưng của Phêrô : “Thầy là Đấng Mêssias, Con Thiên Chúa hằng sống” Đức Giêsu đáp : “Anh là đá, trên đá này Tôi sẽ xây Hội thánh của Tôi“ (câu 18) Lời tuyên bố của Đức Giêsu là nguồn gốc sứ vụ cao vời thánh Phêrô thực hiện trong cộng đoàn tiên khởi, và theo truyền thống Công giáo, là nguồn gốc Tối Thượng Quyền mà tất cả các Đức Giáo Hoàng được lãnh nhận từ thánh Phêrô.

b. Sứ vụ của thánh Phêrô, công bố niềm tin đích thực và chân chính vào Đức Giêsu Kitô, cũng là xác nhận niềm tin của anh em và khuyến khích những người có trách nhiệm trong Hội thánh (Các kỳ mục hay trưởng lão). Vì thế, trong bài đọc một (1 Pr 5,1-4) thánh Phêrô nhắc nhở các kỳ mục, có nghĩa là những người đứng đầu các cộng đoàn, trách nhiệm của họ : “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em : lo lắng vì lòng nhiệt thành… Đừng lấy quyền mà thống trị, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.”

Đoạn Công vụ Tông Đồ đọc trong Phụng Vụ Giờ Kinh nhắc đến việc những người đã cắt bì tranh luận với Phêrô. Sau khi thánh Tông Đồ “nhắc lại câu chuyện từ đầu và trình bày từng điểm một cho họ, các thính giả bình tĩnh trở lại và ca ngợi Thiên Chúa”. Như thế thánh Phêrô đã củng cố đức tin cho anh em và kết hợp mọi người trong Hội thánh. Đá góc là Đức Kitô, nhưng Đức Giêsu nói với Phêrô : “Con là đá, có nghĩa là: Ta là đá không thể lay chuyển…còn con, con cũng là đá, con cũng vững vàng nhờ sức mạnh của Ta” (thánh Lêô Cả, Phụng Vụ Giờ Kinh).

Ngày 23.02
THÁNH POLYCARPE, Giám mục, tử đạo
(khoảng 70-155/156)
Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Theo “lá thư của các Kitô hữu thành Smyrna” về cuộc tử đạo của thánh Polycarpe, vị thánh giám mục này bị thiêu trên giàn củi ở hý trường Smyrna, vào ngày Sabbat, vào giờ thứ 8, ngày 23.02.155/156, trước mặt toàn dân. Lúc đó ngài khoảng độ 86 tuổi. Kỷ niệm này được ghi trong Hạnh các thánh tử đạo của thành Nicomédie (361). Những người Syrie, Byzantin và Copte đều mừng lễ này. Phương Tây, lễ nhớ thánh Polycarpe xuất hiện vào thế kỷ thứ VI, cho đến lần canh tân Phụng Vụ cuối cùng, Thánh lễ mừng vào ngày 26.01.

Theo truyền thống, thánh Polycarpe (= có nhiều hoa trái) sinh khoảng năm 70, là môn đệ của thánh Gioan Tông Đồ và là thầy của thánh Irênê thành Lyon. Như thế, ngài đã tạo một dây liên kết giữa Giáo Hội nguyên thuỷ của các Tông Đồ với các thế hệ Kitô hữu sau này của Giáo Hội Tiểu Á và – nhờ vào môn đệ của mình là Irênê thành Lyon – nối kết với xứ Gaule.

Là giám mục thành Smyrna, ngài đón nhận Ignatiô thành Antiochia, người bị dẫn độ đến Rôma để chịu cực hình tử đạo. Theo thánh Irênê, thánh Polycarpe thích nhắc lại liên hệ của mình với thánh Tông Đồ Gioan và “những người đã thấy Chúa”. Ngài nhắc lại các lời nói của họ về đề tài Đức Giêsu và “sau khi nhận tất cả từ các chứng nhân của Ngôi Lời Hằng Sống, ngài đã nhắc lại đúng như Sách Thánh.”

Thánh Ignatio thành Antiochia, trong Lá thư gởi cho Polycarpe, đã động viên người bạn thân yêu này : “Hãy vững vàng như đe dưới búa. Một lực sĩ vĩ đại không thể thất bại dưới những cú đập như thế, nhưng phải thắng.” Thánh Polycarpe cũng đã chiến đấu cho đến khi bị thiêu sống để làm chứng cho tình yêu Chúa Kitô.

Khi Tổng trấn đề nghị : “Ta thề, ta sẽ thả ông ra, nếu như ông nguyền rủa ông Kitô !” Vị thánh giám mục đã trả lời : “Đã 86 năm tôi phục vụ Người và không bao giờ Người làm một điều gì xấu cho tôi. Làm thế nào tôi có thể xúc phạm Vua của tôi, Đấng cứu tôi?”

Sau khi Polycarpe bị thiêu, các Kitô hữu đến lượm xương còn lại, đặt vào một nơi đáng kính, nơi mà họ thường tụ tập “trong hân hoan và niềm vui để cử hành ngày lễ giỗ cho ngài.”

2. Thông điệp và tính thời sự

Sứ điệp của thánh Polycarpe chính là cuộc tử đạo của ngài, như “Lá thư Hội thánh Chúa ở Smyrna” đã nói.
Trong lời Tổng hợp, chúng ta cầu xin Thiên Chúa, nhờ lời cầu bầu của thánh nhân “được như ngài chia sẻ vào chén của Chúa Kitô để được sống lại vào đời sống vĩnh cửu”.

Lời cầu nguyện này nhắc nhớ lại lời cầu nguyện của thánh Polycarpe, lúc bị trói vào cột, sẵn sàng hiến tế : “Lạy Chúa, Thiên Chúa của vũ trụ, Cha của Đức Giêsu Kitô, con chúc tụng Chúa vì xét thấy con xứng đáng được chia sẻ vào chén của Chúa Kitô, để được sống lại cả hồn lẫn xác vào cuộc sống vĩnh cửu, trong sự bất tử do Chúa Thánh Thần ban tặng.” (Phụng Vụ Giờ Kinh).

Trong lời tuyên xưng đức tin của thánh Polycarpe, chúng ta thấy rõ bản chất của mầu nhiệm Kitô giáo được nói lên rõ ràng : Thiên Chúa là Cha và là Đấng Sáng Tạo ; Đức Giêsu là Tôi Tớ của Thiên Chúa, đồng thời cũng là Con duy nhất, rất được Cha yêu quí, Tư tế vĩnh cửu và thiên linh ; Chúa Thánh Thần là nguồn sống và sự bất tử.

Các Kitô hữu đã thấy và đã chứng kiến cuộc tử đạo của thánh Polycarpe như đang tham dự một buổi Phụng Vụ. Trong lời nguyện của thánh nhân, chúng ta gặp được các yếu tố của Kinh Nguyện Thánh Thể : “Con ca tụng Ngài …con chúc tụng Ngài nhờ vị Thượng Tế vĩnh cửu và thiên linh là Đức Giêsu Kitô”. Vị tử đạo, bị trói, được nhìn như con dê được chọn, giữa bầy để hiến tế, một lễ vật xứng đáng dâng lên Thiên Chúa”.

Cuối cùng ngài xuất hiện giữa vùng lửa “như tấm bánh đang được nung lên, như vàng hay bạc rực lên giữa lò lửa, xông lên mùi như hương, như trầm”. Thánh nhân được vẽ như một “vị tử đạo đúng Phúc Âm” có nghĩa là giống Đức Giêsu Kitô, một hiến tế của người mục tử thành Smyrna trước mắt dân chúng như một mẫu gương đức tin và kiên nhẫn. Khi bắt chước cuộc khổ nạn của Đức Kitô, người ta sẽ được đồng hình đồng dạng với Người.

Vì thế thánh Polycarpe đã viết cho dân thành Philliphê : “Hãy trở thành những người bắt chước sự kiên nhẫn của Chúa Kitô và nếu như chúng ta đau khổ vì danh Người, hãy chúc tụng Người”(7,2).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *