Phụng Vụ Chư Thánh – Theo lịch Phụng Vụ Rôma
Tác giả: ENZO LODI
Nhóm dịch: Linh Mục hạt Xóm Chiếu
THÁNG BẢY
Ngày 3 .7
THÁNH TÔMA TÔNG ĐỒ
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Tại Tây Phương, từ các thế kỷ VII – VIII, Lễ Thánh Tôma Tông Đồ được kính vào ngày 21 tháng Mười Hai. Nhưng rồi đã được đổi sang ngày 3 tháng Bảy, và từ nay trùng với ngày chuyển hài cốt của thanh nhân về Edesse. Đây cũng là ngày lễ kính trọng thể của các giáo dân, theo nghi lễ Syro-madabar ở Ấn Độ (họ vẫn tự coi là con cái thiêng liêng của Thánh Tôma), và của nghi lễ Syro Phương Tây.
Vị Tông Đồ mà các sách Phúc Âm gọi một cách đơn sơ là Tôma (Mt 10, 9; Mc 3, 18; Lc 6, 15; Cv 1, 13) thì Thánh Gioan gọi tên là Điđymô Song Sinh (11, 16; 20, 24) và ta thấy Người đóng vai trò quan trọng (14, 5; 20, 24-29; 21, 2). Truyền thống Antiochia, về cuộc đời truyền giáo của Người ở Ba Tư, nhất là ở Ấn Độ, xuất phát từ các văn bản ngụy kinh trong đó có lẽ chứa đựng vài yếu tố lịch sử.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Các lời nguyện cũng như các điệp ca và ca vãn của phụng vụ giờ kinh nhìn Thánh Tôma dưới ánh sáng Phúc Âm.
Lời nguyện của ngày và điệp ca hiệp lễ nhắc lại mẩu chuyện Phúc Âm, trong đó, Thánh Tôma công nhận Đức Giêsu là Chúa (Ga 20, 24-27). Vị tông đồ cứng lòng tin đã phải công nhận bằng một lời tuyên xưng niềm tin nối kết hai tước vị Chúa và Thiên Chúa.
Lời nguyện sau hiệp lễ, cũng như ca vãn giờ kinh, cầu xin Chúa Cha, cho chúng ta “cùng với Thánh Tông đồ Tôma, biết tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa” chúng ta. Niềm tin chúng ta vào sự phục sinh là vững chắc, và được dựa trên kinh nghiệm của các tông đồ, những kẻ đã tận mắt thấy và tận tay chạm vào Ngôi Lời của sự sống (xem 1 Ga 1, 1) và đã thấy Người sống lại.
Thánh Grêgoriô Cả mà Bài đọc trích dẫn có tuyên bố : “Câu nói, Phúc cho ai không thấy mà tin, thực sự đem lại cho chúng ta vui mừng. Vì câu nói đó chính để nói về chúng ta, những người bám víu bằng tinh thần vào Đấng mà chúng ta không thấy bằng xác thể” (xem điệp ca bài Ca vinh Giacaria).
Điệp ca thứ nhất giờ kinh mai, nhắc tới một khía cạnh khác trong nhân cách của Thánh Tôma: tính cách duy lý, bởi vì, trong bữa tiệc ly, Tôma đã thưa với Thầy : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao có thể biết được đường Thầy đi là đường nào?”
Ngày 4.7
THÁNH NỮ ELISABETH BỒ ĐÀO NHA
(1271-1336)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Lễ nhớ Thánh Nữ Elisabeth hoàng hậu nước Bồ Đào Nha được cửa hành đúng ngày thánh nữ qua đời ở Estremor ngày 4 tháng 7 năm 1336. Elisabeth là con gái của Pierre III xứ Aragon và Constance, cháu hoàng đế Frédéric II Hohenstanfen, sinh năm 1271 tại Saragosse, được đặt tên Elisabeth theo tên bà cô là Elisabeth nước Hungary. Mười hai tuổi, Elisabeth được gởi cho vua Denis nước Bồ Đào Nha. Bà sinh được hai người con là Constance sau này là hoàng hậu xứ Castille, và Alphonse sau này nối nghiệp cha làm vua nước Bồ Đào Nha. Bà đã kiên nhẫn chịu đựng một cách anh hùng những sự thiếu chung thủy của chồng, thậm chí còn yêu thương và nhận nuôi những đứa con ngoại hôn của chồng. Cuối cùng thì vua Denis cũng nghe lời bà trở về với Chúa và qua đời trên cánh tay bà vào năm 1325.
Trở thành góa phụ, bà nhập dòng ba Phanxicô, nhưng vì những tranh chấp nội bộ xâu xé gia đình, bà không được phép vào tu viện Thánh Nữ Clara ở Coimbra do chính bà xây cất. Bà sống cạnh tu viện đó, đón nhận một số nữ tu, và cùng với họ sống cuộc đời tu nữ. Bà có đi hành hương đến Saint Jacques de Compostelle hai lần. Được phong Thánh năm 1625, Thánh Nữ Elisabeth Bồ Đào Nha được ghi vào Sổ Tử Đạo Roma sau năm 1630.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Chúa đã cho Thánh Nữ Elisabeth ơn biết hòa giải những con người chia rẽ (lời nguyện của ngày), nên chúng ta xin Thánh Nữ giúp chúng ta biết “làm việc hầu phục vụ hòa bình”. Mối phúc an bình (Mt 5, 9) thích hợp đặc biệt với bà hoàng hậu có tên là “thiên thần hòa bình” này. Bị vu cho rằng bà sống buông thả và xúi giục làm loạn, bà vẫn giữ im lặng, toàn tâm toàn ý ăn chay cầu nguyện và gia tăng nỗ lực để tái tạo bình an. Nhiều lần bà đã phải giải hòa nhà vua (chồng bà) với con trai, bà không ngần ngại xông vào giữa đôi bên đang giao tranh ; ngày nay trên các tường thành Lisbonne còn lại một tấm bảng đá cẩm thạch ghi nơi xảy ra cuộc chiến đó. Bà từ chối vũ khí, quân đội và thành lũy do thuộc hạ dâng hiến để bà lấy lại ngôi báu mà bà đã bị tước đoạt một cách bất công, thậm chí bà còn khuyên họ nên trung thành với nhà vua. Sau cuộc hành hương đến Saint Jaques de Compostelle lần hai, năm 1336, bà không ngừng tìm cách hòa giải con trai bà là Alphonse II với em rể là vua Ferdinand xứ Castille. Bà mất vì bệnh sốt rét lúc 65 tuổi.
Phụng vụ Bài đọc đưa ra một bài giảng của Thánh Phêrô Chrysologue về an bình. Thánh Nữ Elisabeth đã sống mối phúc này một cách anh hùng khi còn là hoàng hậu cũng như khi đã gia nhập dòng ba Phanxicô, bên cạnh tu viện Clara của mình : “Các chị hãy sống an bình, mọi cái sẽ được yên tĩnh …” Đáp ca của bài đọc giáo phụ này lấy từ sách Isaia 58, 7 nhắc lại các công việc bác ái Thánh Nữ Elisabeth suốt đời luôn theo đuổi.
Nhà nguyện do bà cho xây dựng tại tu viện Chúa Ba Ngôi ở Lisbonne dâng kính Đức Trinh Nữ là nhà nguyện đầu tiên tôn kính Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm.
Ngày 5.7
THÁNH ANTÔN-MARIE ZACCARIA,
Linh mục (1502-1539)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Là Đấng sáng lập dòng Banabê (theo tên nơi trụ sở dòng mẹ là tu viện Thánh Banabê ở Milan), Thánh Antôn Giacaria được kính nhớ theo ngày qua đời năm 1539 ở Crémone lúc 37 tuổi. Được phong thánh năm 1897.
Sinh năm 1502, tại Crémone nước Ý. Antôn được mẹ giáo dục theo tinh thần đạo hạnh. Chồng chết lúc bà mới mười tám tuổi, bà từ chối tái hôn để được toàn tâm toàn ý lo cho đứa con duy nhất là Antôn. Tuy còn nhỏ tuổi, Antôn đã khấn giữ khiết trinh trọn đời ; sau khi tuyên thệ và từ chối không nhận tài sản cha để lại, Antôn theo học triết lý ở Pavie và ngành y tại Padone. Năm 1524, Antôn trở lại Crémone, dấn thân phục vụ các bệnh nhân. Cảm thấy được Ơn Gọi làm linh mục, Antôn chuẩn bị bước lên đời tư tế, dưới sự hướng dẫn của hai tu sĩ dòng Đaminh. Hai mươi sáu tuổi, năm 1528, Antôn thụ phong linh mục. Năm 1530, ngài tới định cư ở Milan. Tại đây, cùng với hai thành viên Hội Đấng Khôn Ngoan Vĩnh Cửu, ngài thành lập Hội dòng các Giáo sĩ Thánh Phaolô. Hội dòng có mục đích cải tạo hàng giáo sĩ cũng như giáo dân và đã được Đức Giáo Hoàng Clementê VII chuẩn thuận năm 1533.
Thánh Antôn Giacaria có thể được xem là người đi trước Thánh Carôlô trong cuộc phục hưng công giáo : khi Thánh Carôlô tới Milan, năm 1569, đã thấy các tu sĩ Banabê hoạt động ở đó từ nhiều năm trước.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện của ngày phác thảo diện mạo Thánh Antôn, người sống đồng thời với thời kỳ Luther nổi lên chống đối Roma (1520 – 1524). Lời nguyện xin Chúa ban cho chúng ta được sự hiểu biết khôn vời của Đức Kitô như đã ban cho Thánh Phaolô xưa và đã giúp Thánh Antôn Giacaria loan báo Lời Cứu Rỗi cho Hội Thánh.
Thánh Antôn đã thụ huấn tại trường học của Thánh Phaolô để “sống tình yêu Đức Kitô vượt mọi sự hiểu biết”
(Ep 3, 19). Bởi thế, Người đã muốn là thầy thuốc chữa bệnh tâm hồn hơn thầy thuốc chữa bệnh phần xác. Nhiệt tình bác ái của thánh nhân biểu lộ qua việc chuyên cần giảng dạy giáo lý và công tác giáo dục ; Ngài loan báo Lời Cứu Rỗi ngoài đường phố, trên các quảng trường, lôi kéo nhiều người trở lại, chấn chỉnh các tu viện, như ở Vicence và đem nhiều thành phố làm hòa lại với nhau.
Bài giảng cho các tu sĩ Banabê (Phụng vụ bài đọc) là một trong những bản văn quý hiếm của ngài còn giữ được (mười hai bức thư, sáu bài diễn văn và bản Hiến Pháp). Thánh Antôn Maria mô tả những công hiệu của cái khoa học làm ta “trở nên điên dại vì Đức Kitô” theo như giáo huấn của Thánh Tông Đồ mà thánh nhân gọi là “Đấng hướng dẫn và bảo vệ chúng ta”. Nhà cải cách không muốn thành lập một dòng tu gồm các tu sĩ hoặc tu huynh, nhưng muốn gồm những tông đồ được gọi vào sứ vụ phục vụ Lời và các bí tích, bởi ý đồ của người là muốn chống lại lạc giáo của Luther. Thánh nhân đã can đảm chịu đựng những hiểu lầm và bách hại gây nên cho mình trước khi được phục hồi sau hai phiên tòa mở ra để chống đối Ngài (1534 – 1537), do những người từng đồng hành trong các buổi đầu của viện do người thành lập. Thành viên của viện thời đầu được gọi là tu huynh Phaolô, về sau gọi là các tu sĩ Banabê ; hội dòng đã được thành lập, dưới sự bảo trợ của Thánh Phaolô Tông Đồ, xem Người như Đấng hướng dẫn. Thánh Antôn Maria viết : “Dưới sự lãnh đạo của một thủ lãnh như thế, chúng ta không có quyền nhát đảm hay chạy trốn, cũng không được là những đứa con thoái hóa của một người cha như thế”. Từ hội dòng này có hai vị thánh : Thánh Phanxicô Xavie Bianchi và Thánh Alexandre Sauli, một trong những giám mục nổi tiếng nhất của cuộc cải cách do Công Đồng Tridentê khởi xướng.
* * *
Ngày 6.7
THÁNH MARIA GORETTI
(trinh nữ tử đạo)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Cái chết tử đạo của cô gái mười hai tuổi này vào ngày 6 tháng 7 năm 1902 ở Nettuno vùng Latium là một sự kiện khủng khiếp xảy ra trong bối cảnh đói nghèo kinh tế và suy đồi đạo đức đang thống trị một số vùng trong nước Ý vào đầu thế kỷ XX. Maria Goretti được Đức Giáo Hoàng Piô XII phong thánh trước sự hiện diện của bà mẹ và của chính người giết mình nay đã hối lỗi.
Maria Têrêsa Goretti, mà người ta thường gọi một cách thân thương là Marietta – bé Maria, sinh gần Ancône nước Ý trong một gia đình rất nghèo. Mười tuổi đã mồ côi cha, Maria phải lo cho bốn đứa em của mình cũng như trông dùm những cháu bé các nhà bên cạnh lúc họ ra đồng làm việc. Nhà mướn một mẩu đất trong vùng lầy Pontius, cách Roma khoảng vài chục cây số về phía Nam. Một thanh niên cùng làm việc gần đó, tên là Alexandre Serenelli đã nhiều lần theo đuổi cầu thân với cô gái. Sau hai lần tìm các hãm hiếp không thành, lại còn buông nhiều lời hăm dọa giết chết nếu cô gái nói ra, Alexandre nổi điên trước sự chống cự của cô nên đã đâm cô mười bốn mũi nhọn. Maria chết ngày hôm sau tại bệnh viện Nettuno sau khi đã tha thứ cho kẻ giết mình. Sau tám năm tù, Alexandre cải hối vào năm 1910. Sau khi được tha, năm 1928, Alexandre đã xin lỗi mẹ của Maria và để tỏ dấu hòa giải, anh cùng rước lễ với bà trong đêm Noel.
Thi hài Thánh Nữ được tôn kính trong Nhà thờ Santa Maria Delle Grazie tại Nettuno.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện của ngày : “Lạy Chúa, Chúa là nguồn mạch của sự trắng trong, Chúa yêu thích đức thanh khiết và đã ban ơn tử đạo cho Maria Goretti”. Người ta có thể đạt tới thánh thiện bằng cách thực hành điều mà ngôn ngữ nước Ý mệnh danh là bậc đầu tiên của đức khiêm tốn, nghĩa là thà chết còn hơn phạm tội. Khi Maria nói rằng : “Alexandre muốn xúi con phạm tội, nhưng con không muốn”, chị đã tỏ ra một ý chí cương quyết và một nhân đức vững chãi. Chị tâm sự với mẹ : “Thà con bị giết còn hơn”.
Mẫu chuyện không mấy hay ho này đã đưa sự thánh thiện vào tầm tay tất cả những ai được Chúa ban cho “lòng can đảm tuân giữ các giới răn của Người” và tạo cho một ý nghĩa tiên báo. Cô gái mồ côi nghèo hèn, mù chữ này, người con gái từ một môi trường hèn hạ nhất, đã chứng tỏ một sức mạnh đạo đức lớn lao khi can đảm nói với kẻ tấn công mình : “Đừng làm thế, anh Alexandre, có tội đấy, hỏa ngục mất thôi”. Và chị đã trở thành biểu trưng cho những kẻ nghèo mà Phúc Âm nói tới và đã được hứa ban Nước Trời (xem Mt 5, 1-12). Trước lúc nhắm mắt, Maria Goretti tha thứ cho kẻ giết mình : “Con tha thứ cho anh ta và con muốn anh ta cũng được lên Thiên Đàng với con”.
Cuộc tử đạo của cô gái mười hai tuổi này cho thấy sự thánh thiện công giáo có thể phát triển ngay cả trong một môi trường nghèo hèn.
* * *
Ngày 11.7
THÁNH BIỂN ĐỨC
(viện phụ, khoảng 480 – 547)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Thánh Grêgoriô Cả trong cuốn Đối thoại của mình, khi kể về tiểu sử và phép lạ của Viện Phụ Biển Đức khả kính, không nhắc tới ngày qua đời của Người tại núi Cassin, vào khoảng năm 547, sau khi đến sống ở đây từ năm 529. Lễ kính được cử hành theo ngày mà bản phụng vụ cổ nhất các nước francs ghi lại, ngày 11 tháng Bảy. Ngày này trùng ngày hài cốt của Người có thể đã được chuyển từ núi Cassin về Flenry trên bờ sông Loire vào năm 703 như lời một tác giả vô danh thế kỷ VIII ghi lại. Tuy nhiên, các tu sĩ Núi Cassin, những người vẫn còn giữ di hài được coi là của Thánh Biển Đức thì vẫn không đồng ý với truyền thuyết đó.
Ngày 11 tháng Bảy đã thế chỗ cho ngày chết của Người, vì theo niên biển của núi Cassin, ngày đó chính là 21 tháng Ba.
Biển Đức (theo tiếng Latinh là Benedictus có nghĩa là được chúc phúc), sinh tại Norcia (Ombrie), vào khoảng năm 480, trong một gia đình La Mã dòng họAnicia, bảy mươi năm sau khi quân đội Wisigotho của Alaric vây hãm thành và bốn năm trước Odoacre, vua người Hérules, hạ bệ vị hoàng đế La Mã cuối cùng và chứng kiến sự xuống dốc của nền văn minh phương Tây do làn sóng tràn ngập của các dân man di, đặc biệt của người Goths do Totila lãnh đạo. Trong bối cảnh đó, Biển Đức, sau thời gian theo học tại Roma, muốn rút lui khỏi thế gian. Biển Đức thử nghiệm nhiều hình thức tu dòng khác nhau sau khi đã từng ẩn tu trong một hang núi gần Subiaco miền Latium ba năm : ban đầu Ngài sống cuộc đời bán-đơn tu tại Effide (nay là Affile), sau sống độc tu gần Aniene, nơi đây chỉ có một tu sĩ tên là Romain biết Ngài và mang thức ăn cho Ngài. Tuy nhiên những người chăn cừu cũng đã biết và họ đã thường lui tới với Người. Sau này, Biển Đức trở thành bề trên một tu viện gần đấy theo yêu cầu của các tu sĩ sống tại đây. Thế nhưng vì không đồng tình với kỷ luật cải cách của thánh nhân, một số tu sĩ tìm cách đầu độc Ngài. Biển Đức bỏ đi, đến sống ở Subiaco như một tu sĩ cộng đoàn và đã thành lập mười hai tu viện nhỏ cho các tu sĩ dưới quyền. Ngài rời Subiaco đến sống ở núi Cassin khoảng năm 529.
Thánh Grêgoriô Cả viết tiểu sử Thánh Biển Đức thành ba mươi tám chương theo văn phong khoa trương thời đại, kể lại ba mươi bảy năm của thánh nhân ở Norcia. Tác giả trình bày cho chúng ta một Biển Đức chọn câu “Ora et labora“(cầu nguyện và lao động) làm châm ngôn sống, lấy chiếc cày và thập giá làm biểu tượng. Thánh Biển Đức là người bảo vệ nền văn minh phương Tây bằng cách đối đầu với vua Totila người Ostrogoths. Khi sắp qua đời, Ngài yêu cầu được đưa tới nhà nguyện, nơi đây “đứng lên, hai tay hướng về trời, ngài cầu nguyện và trút hơi thở cuối cùng”. (Grêgoriô Cả, Tiểu sử …37, 3).
2. Thông điệp và tính thời sự :
Các kinh cầu nguyện trong Thánh Lễ hôm nay rút từ bản Qui luật của Thánh Biển Đức, tất cả đều nhắc tới giáo huấn của vị thầy cao cả trên đường tu đức này, người đã từ bỏ việc học hành sách vở, bỏ gia đình và tài sản thân phụ để lại, chỉ để làm vui lòng Chúa.
a. Lời nguyện của ngày nhắc tới bản Qui luật (lời nói đầu 45 và 49) : “Lạy Chúa, Chúa đã làm cho Thánh Biển Đức trở thành nhà hướng dẫn cho những ai đang học cách phụng sự Ngài, chúng con xin Chúa đừng để chúng con coi trọng điều gì hơn tình yêu Chúa và chúng con sẽ được tiến bước trên con đường các giới răn của Ngài với tâm hồn không gì vướng bận”. Qui luật của Thánh Biển Đức dung hòa kinh nghiệm tu đức của Thánh Basile với sự khôn ngoan của người Roma và sự kín đáo Phúc Âm “ngu dốt một các sáng suốt”, hầu biến nó trở nên bản hiến chương cho cái thành trì mới tức là tu viện này. Tại đây, viện phụ là hiện thân cho quyền cha của Thiên Chúa trong một thế giới được xây dựng trong an bình nhờ các sợi dây nối kết của tình ái Đức Kitô. Chúng ta có thể đọc thấy tinh thần Qui luật trong Phụng vụ Bài đọc : “Họ sẽ tuyệt đối không ưa chuộng gì hơn Đức Kitô”. Qui tắc này không phải chỉ dành cho các tu sĩ, nhưng liên hệ mọi tín hữu, vì mỗi người ai cũng có thể noi gương Thánh Biển Đức “nhanh nhẩu bước đi trên những nẻo đường Phúc Âm, trong sự êm ái của tình yêu và con tim không hề vướng bận” (xem Đáp ca của Phụng vụ Bài đọc).
b. Lời nguyện sau hiệp lễ nhắc tới một khía cạnh khác của tinh thần Biển Đức (xem Qui luật, 72) : “Ước gì chúng con có thể vâng theo lời giáo huấn của Thánh Biển Đức, biết trung thành phụng sự Chúa trong việc cầu nguyện và bác ái với anh em”. Các khu vực thuộc dòng Biển Đức luôn tìm cách lan tỏa tình bác ái huynh đệ ra chung quanh bằng việc giúp con người tự hoàn thiện nhờ lao động (kể cả lao động chân tay) và lòng hiếu khách.
c. Lời nguyện trên lễ vật (lấy tư tưởng từ Tông Hiến của Đức Phaolô VI khi công bố Thánh Biển Đức làm bổn mạng Châu Âu) thì cầu xin “ơn hiệp nhất và an bình”. Roma được hưởng một giai đoạn an bình với Théodoric và Cassiodore cho đến năm 526. Chiến thắng của Kitô giáo Roma đối với làn sóng man di đứng đầu là Totila trở thành biểu tượng của sự hiệp nhất tan rã nay đã tìm lại được. Việc tìm lại các giá trị nhân bản và giá trị của Kitô giáo đã cứu vãn nền văn hóa Châu Âu, trong khi hoàng đế Justinien cùng với những cuộc chiến chinh dữ dội và bất tận của ông cũng như nghị sĩ Cassiodore đã thất bại. Cassiodore vẫn sống trong ảo tưởng rằng nền văn hóa La Mã cũng như nền triết học của nó sẽ muôn đời vĩnh tồn.
Một ca vãn của Pierre le Vénérable viện phụ Cluny viết rằng : Thánh Biển Đức đã dạy “muôn dân biết phục tùng luật lệ và các ước nguyện của Đức Kitô”. Tinh thần qui hướng vào Đức Kitô của Thánh Biển Đức vốn cũng là một thứ nhân bản đích thực đã dung hoà tính siêu việt của lời cầu nguyện (ora) với việc làm của con người (labora), vì như Thánh Grêgoriô viết : Thánh Biển Đức “nhờ biết cân nhắc mọi sự cách chín chắn, đã nắm được đầy đủ tinh thần tất cả những người ngay lành”. (Tiểu sử … II, 8, 9).
* * *
Ngày 13.7
THÁNH HENRI
(973 – 1024)
Lễ nhớ
1. Tiểu sử – Phụng vụ:
Henri II là quận công Bavière và hoàng đế nước Đức, qua đời ngày 13 tháng Bảy năm 1024 tại Bamberg (Đức quốc), được phong thánh năm 1146. Hồi ức cho thấy ngài là một vị hoàng đế siêu vời, với đường lối chính trị đôi khi tạo ra những phản ứng quan trọng, thậm chí gặp cả chống đối của phía Giáo Hội. Chẳng hạn ngài đã liên minh với các dân ngoại, như dân Liutizes và dân Redars, để chống lại vị quận công công giáo và sau này sẽ là Boleslas I vua nước Ba Lan đang tìm cách hợp nhất các dân gốc Slaves ở phương Tây. Ngài sinh tại Bavière năm 973, là con của Henri I biệt danh Hay Gây Hấn và là anh của bốn người em, trong đó Bruno sau này là giám mục Augsbourg, Gisêla sẽ kết hôn với Stêphanô nước Hungari và Brigitte về sau là viện mẫu Saint Paul ở Ratisbonnes. Henri được giáo huấn đạo hạnh hầu hết là trong các tu viện, được Thánh Wolfgang dạy dỗ (vị tu sĩ gốc Einsiedeln sau này sẽ là giám mục ở Ratisbonne và là tông đồ truyền giáo ở Hungari), Henri quyết tâm bảo vệ Giáo Hội và đã cộng tác chặt chẽ với nhiều tu viện trong việc cải tạo kỷ luật hàng giáo sĩ.
Được bầu làm quận công Bavière, Henri tháp tùng vua Othon III sang Italia năm 996 để trấn áp cuộc nổi dậy của dân Roma chống lại Đức Giáo Hoàng. Người kết hôn với một phụ nữ đạo đức tên là Cunégonde ở Luxembourg (được phong thánh năm 1200). Sau bảy năm cai quản lãnh thổ quận công và sau khi Othon III qua đời, Henri được chọn kế vị ngai hoàng đế. Lễ đội vương miện được cử hành ở Mayence năm 1007, rồi ở Đền Thờ Thánh Phêrô do Đức Giáo Hoàng Beneđictô VIII, năm 1014. Nhân dịp này, đây là lần đầu tiên ở Tây phương, Ngài nhận được quả địa cầu hoàng đế, trên có chiếc vương miện và cây thập tự.
Henri hầu như suốt đời chỉ giao tranh. Trước hết là để trấn áp những cuộc nổi dậy trong đế quốc rộng lớn của Ngài vốn gồm phần lớn nước Đức, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, Áo và miền Bắc Ý. Sau đó là đương đầu với Boleslas, quận công Ba Lan. Sau nhiều cuộc chiến chinh chỉ đưa lại chán chường, năm 1018, Henri ký một hòa ước công nhận thực tế sự độc lập của nước Ba Lan. Ngài được Đức Giáo Hoàng Beneđíctô VIII triệu sang Italia ; tại đây, năm 1021, cùng với Đức Giáo Hoàng, và với sự đồng ý của vua nước Pháp là Robert biệt danh Đạo Đức, Ngài đã giúp hoàn tất công cuộc cải tổ Giáo Hội. Trở về Đức, Ngài qua đời ở tuổi năm mươi mốt tại hoàng cung ở Grona ; theo yêu cầu của Ngài, thi hài được chôn trong Nhà thờ Chánh Tòa Gottingen đã được Ngài xây cất.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Theo lời nguyện của ngày, Chúa “đã ban cho Thánh Henri tràn đầy Ơn của Người để thánh nhân biết quản cai vương quốc mình”. Thực vậy, đứng đầu một phần đế quốc bao la của Charlemagne đầy lộn xộn và chia rẽ, Henri đã thu phục được các vương hầu phản loạn thuộc các tỉnh miền Bắc trước khi xuôi Nam tới Italia để được phong vương năm 1004 ở Pavie. Mặc dầu bận bịu các cuộc hiến chinh, Ngài luôn lưu tâm đến các quyền lợi của Giáo Hội bằng cách tham dự các công đồng miền và lựa chọn những giám mục đạo đức. Ngài cũng cộng tác với các tu viện như Cluny, núi Cassin, Camaldoli để cải tổ giáo sĩ, lắng nghe ý kiến các vị đạo đức như Thánh Odilon ở Cluny và Chân Phước Richard de Saint Vanne. Trong bài diễn từ đọc tại đại công đồng Thionville lần I (1003), Ngài đã trách cứ các giám mục quá nhu nhược trước những đám cưới hỏi loạn luân, và năm 1023, Ngài đã hỗ trợ cuộc cải cách của Đức Giáo Hoàng Beneđíctô VIII trong việc thải hồi các linh mục và lên án việc mua bán chức thánh.
Thánh Henri cũng xây dựng nhiều đại giáo đường, cải tạo nhiều nhà thờ, lập thêm các tòa giám mục, chẳng hạn Tòa Giám Mục Bamberg, phục hồi Tòa Giám Mục Merseburg và cải cách tu viện Saint Maximin ở Trèves. Ngài là một vị hoàng đế thánh thiện luôn nêu gương tận tụy với Chúa và với Giáo Hội trong một giai đoạn đầy nhiễu nhương. Ngài cũng biểu lộ một lòng trung thành lạ lùng, một sự xả kỷ trọn vẹn cho bổn phận đối với đất nước, trong một lương tâm ngay thẳng và đạo đức. Phụng vụ Bài đọc trích từ bức thư thiết lập Tòa Giám Mục Bamberg in trong một cuốn Tiểu sử do một tác giả thời cổ viết : “Thánh Kinh dạy chúng ta những lời cứu rỗi, đã nhắc nhở và cảnh báo chúng ta điều này rằng : … vinh quang hiện thời chỉ chóng qua và vô bổ, nếu trong khi chiếm hữu nó, chúng ta quên nghĩ tới quê Trời vĩnh cửu”. Vậy nên, trong lời nguyện của ngày, chúng ta cầu nguyện thế này : “Lạy Chúa, … nhờ lời cầu khẩn của Người, xin dạy chúng con biết dẫu ở giữa những chuyển biến của thế giới, chúng con vẫn hướng về Chúa với tâm hồn đơn sơ”.
* * *
Ngày 14.7
THÁNH CAMILLE DE LELLIS,
Linh mục (1550 – 1614)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Thánh Camilô sống thời kỳ Phục Hưng và Phản Cải Cách. Người qua đời ngày 14 tháng Bảy năm 1614 ở Roma gần Nhà thờ Thánh Nữ Madalêna, nơi đây, người ta tôn kính di hài của Ngài. Ngài được phong thánh năm 1746, và năm 1886 được tuyên bố là bổn mạng các bệnh nhân, bệnh viện và nhân viên bệnh viện.
Sinh ra trong tiểu quốc Naples năm 1550, trong một gia đình quí phái có nhiều thành viên thuộc quân ngũ (người cha từng tham gia vụ vây hãm khủng khiếp thành Roma năm 1527), Camilô cũng chọn nghiệp quân nhân. Nhưng dần dần Camilô lại sống buông thả, gia nhập những băng đảng nổi tiếng xấu và say mê trò đen đỏ, bài bạc, nô lệ thực sự vào tập quán xấu.
Năm 1575, sau cuộc nói chuyện với một tu huynh Capucin, Camilô cảm kích, nên đã trở lại và nhập tu dòng Phanxicô, nhưng vào tập viện chưa được bao lâu, Camilô bỏ ra. Lúc này nhân bị thương ở chân, Camilô đến chữa trị tại bệnh viện nan y Thánh Giacôbê ở Roma. Nhìn thấy những bệnh nhân bị bỏ rơi co ro trong cảnh nghèo khổ và theo lời khuyên của Thánh Philipphê Nêri, năm 1582, Camilô nghĩ tới việc thành lập một hội “gồm những người thiện chí, đạo đức, chuyên săn sóc người bệnh không phải vì lợi nhuận thu được nhưng vì tình yêu Thiên Chúa”. Vậy là một hội dòng ra đời, gọi tên là dòng các tu sĩ tôi tớ người tàn tật (hội dòng Camilô). Nhưng chính trong bệnh viện Chúa Thánh Thần rộng lớn ở Roma mà các linh mục giúp chết lành (tên khác gọi các tu sĩ dòng Camilô) bắt đầu thực thi nhiệm vụ của mình, giúp đỡ người bệnh phần xác cũng như tinh thần, theo lời khấn đặc biệt về bác ái của dòng qui định.
Thụ phong linh mục, Camilô quyết định lập trụ sở hội dòng gần Nhà thờ Thánh Nữ Madalêna, sống tại đây non hai mươi năm cho đến khi qua đời. Năm 1607, ngài từ chức tổng quyền để toàn tâm toàn ý phục vụ các bệnh nhân thân thương của mình.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện của ngày nhắc tới đức bác ái siêu vời của Thánh Camilô đối với các bệnh nhân. Cuốn Tiểu sử của Ngài, do một người bạn viết và Phụng vụ Bài đọc trích dẫn, nói rằng Ngài “nhìn thấy nơi các người bệnh chính Đức Kitô với một sự tưởng tượng sinh động đến nỗi thường khi trong lúc phục vụ bữa ăn cho họ, Ngài xem họ như những “kitô”, tới mức Ngài khẩn khoản cầu xin họ ban ơn và tha thứ cho tội lỗi mình”. Ngài xem người bệnh như chính Chúa mà Ngài là kẻ phục vụ. Ngài ao ước bệnh viện trở thành Nhà tiếp đón cho các bệnh nhân. Đích thân Ngài đứng tiếp nhận bệnh nhân. Ngày nọ, trả lời một vị hồng y đến tìm, Thánh Camilô đã trả lời rằng đang bận việc “với Đức Kitô”, nghĩa là với một bệnh nhân nghèo, rằng chỉ có thể tiếp Đức Hồng Y sau khi xong việc.
Thánh Camilô chịu nhiều thử thách do đủ thứ bệnh, cả những đau khổ tinh thần mà Người qui cho là tại ma quỷ. Ngài là tông đồ của người hấp hối, các bệnh nhân và tất cả những ai kém may mắn, bất kể họ là ai. Con người say mê đó là một trong ba khuôn mặt bác ái lớn cùng với Thánh Vinh Sơn Phaolô, Thánh Gioan Thiên Chúa, Ngài thường nói : “Tôi ao ước có một quả tim rộng lớn như thế giới”. Ngài dạy chúng ta biết chú tâm tới các bệnh nhân, trọng kính và yêu thương họ.
* * *
Ngày 15.7
THÁNH BÔNAVENTURA,
Giám mục, tiến sĩ Hội Thánh (1221 – 1274)
Lễ nhớ
1. Tiểu sử – Phụng vụ:
Thánh Bônaventura qua đời trong nhà dòng Phan Sinh, ngày 15 tháng Bảy năm 1274, ở tuổi năm mươi ba. Được phong thánh năm 1482, Ngài được tuyên bố là “vị tiến sĩ thiên thần” (docteur séraphique) năm 1588. Tên thật của Ngài là Gioan, nhưng người ta quen gọi Ngài là Bônaventura, vì theo một giai thoại, Thánh Phanxicô Assise vừa trông thấy Ngài, đã buộc miệng la lên :”O bona ventura !”.
Thánh Bônaventura sinh năm 1221, tại Bagnorea gần Viterbe nước Ý. Nhập dòng Phanxicô, Bônaventura sang Paris để học triết lý và thần học. Là đồ đệ của Alexandre de Halès, vị “tiến sĩ không thể phủ nhận”, Ngài cũng đã trở thành đại sư (maýtre) vào năm 1253 và đã xuất bản cuốn Sách về các châm ngôn của Pierre Lombard.
Dòng Phanxicô năm mươi năm sau ngày thành lập đã có gần hai mươi ngàn thành viên và đã nhận được từ Thánh Bônaventura một cách tổ chức vững chãi dung hòa những khuynh hướng chia rẽ đã bộc lộ nơi các tu huynh. Được chọn làm bề trên tổng quyền dòng Phanxicô từ năm 1257 đến năm 1274, Thánh Bônaventura có ảnh hưởng lớn lao trên toàn dòng đến nỗi người ta xem Ngài như Đấng sáng lập thứ hai; tại tổng công hội ở Narbonne năm 1260, Ngài đã công bố bản Hiến Pháp của Dòng.
Vừa khước từ chức tổng giám mục York, Ngài buộc phải chấp nhận tước vụ hồng y giám mục Albano. Sau đó trong tư cách sứ thần, Ngài được sai sang dự Công đồng chung ở Lyon. Công đồng được triệu tập nhằm mục đích hiệp nhất hai Giáo Hội Hy Lạp và La Tinh. Ngài vui mừng thấy sự đoàn kết được thực hiện tại Lyon ngày 28 tháng Sáu năm 1274, nhưng chỉ chóng vánh, vì mười bảy ngày sau, Ngài qua đời trong yên ủi trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện của ngày nhấn mạnh “những sự phong phú trong giáo huấn” của Thánh Bônaventura và “đức ái nồng nhiệt” của Ngài. Quả thế Ngài từng là một nhà thần học sâu xa, đã xây dựng một sự tổng hợp về khoa học dưới ánh sáng Phúc Âm. Châm ngôn của Ngài là : “Vinh quang và danh dự chỉ dâng lên Thiên Chúa”. Là đồ đệ Thánh Augustinô và Thánh Phanxicô Assise, Thánh Bônaventura trước tiên là một nhà thần bí. Trong cuốn Đường tâm hồn hướng về Chúa, trong đó giải thích rằng khoa sư phạm của tình yêu muốn đạt tới Thiên Chúa, phải dựa trên triết lý và thần học, Ngài tuyên bố : “Trên chặng đường này, nếu muốn nên trọn hảo …, hãy hỏi nơi ân sủng chứ không phải nơi kiến thức, hỏi hứng khởi sâu xa nơi cõi lòng chứ không phải hỏi trí tuệ, nghe tiếng rên rỉ của lời cầu nguyện chứ không phải niềm đam mê đọc sách; hãy hỏi Đấng Phu Quân chứ không phải hỏi giáo sư …”. (Xem Phụng vụ Bài đọc).
Các tác phẩm khác của Thánh Bônaventura, như cuốn Cây trường sinh hoặc Năm đại lễ của Hài Nhi Giêsu vốn tạo nhiều thích thú ở thời Trung Cổ, thì dựa trên học thuyết cao siêu đặt ước vọng trên trí tuệ. Ở Paris, năm 1269, Ngài viết cuốn Biện minh cho người nghèo, nhằm chống lại những kẻ phản bác tinh thần khó nghèo Phan Sinh và năm 1273, Ngài có một loạt các bài Thuyết trình về Hexanméron nhằm chống lại thuyết Averoes La Tinh vốn chủ trương xây dựng nền triết lý thành môn học độc lập với Thánh Kinh.
Cuốn Tiểu sử Thánh Phanxicô do Ngài viết nhằm thúc đẩy sự thống nhất nơi các tu sĩ Phan Sinh, cho chúng ta thấy tinh thần hòa giải của vị “tiến sĩ thiên thần” chủ ý hòa hợp các khuynh hướng khác nhau nơi các môn đệ Thánh Phanxicô, lo lắng về việc trung thành với tinh thần hơn với chữ viết của Đấng sáng lập Dòng.
Trong cuốn Divina Comedia, Dante đặt Thánh Bônaventura trong số các vị thánh Thiên Đình (XII, 127), vì Ngài đã coi trọng tinh thần hơn vật chất.
Ngày 16.7
ĐỨC MẸ NÚI CÁT MINH
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Lễ này được cử hành dựa theo truyền thuyết của dòng Cát Minh, Đức Trinh Nữ ban áo Đức Bà núi Cát Minh cho Thánh Simon Stock trong một thị kiến tại Cambridge vào năm 1251.
Lễ kính nhớ biến cố này được thiết lập vào khoảng năm 1380 để kỷ niệm ngày luật dòng Carmes được Đức Giáo Hoàng Honorius III chuẩn thuận năm 1226. Bộ luật này do vị thượng phụ ở Jérusalem tên là Albert đọc cho một tu sĩ đạo đức và các bạn, những kẻ đã xây một Thánh Đường dâng kính Đức Trinh Nữ trên những hoang tàn đổ nát của một nhà nguyện thuộc thuộc thế kỷ XI, trên núi Cát Minh. Thế nhưng lễ kính Đức Mẹ núi Cát Minh chỉ được quyết định đưa vào lịch phụng vụ Roma mãi tới năm 1726. Ngày nay vì tính phổ biến khắp nơi của nó, Lễ này có thể được xem “như thực sự của toàn Giáo Hội” (Thông điệp Marialis Cultus, 8).
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện của ngày xin Chúa cho chúng ta nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, được “đạt tới đỉnh núi đích thực là Đức Kitô”. Việc nhắc tới núi Cát Minh, nơi ngôn sứ Êlia chiến thắng thói thờ ngẫu tượng bằng cách khẳng định tính cơ bản của đạo độc thần Do Thái, cũng nhắc tới đám mây nhỏ ngôn sứ thấy từ biển bốc lên, rồi đổ xuống thành một trận mưa tràn ngập vùng đất khô cạn (I các Vua 18, 44).
Điệp ca Magnificat lấy ý từ sách Tin Mừng Thánh Luca (2,19 ; 11,28) đặt Đức Maria vì Mẹ đã nghe Lời Chúa và chiêm niệm trong lòng, còn bài giảng Thánh Leô Cả do Phụng vụ Bài đọc trích dẫn lại trình bày Đức Maria như Đấng “thụ thai Đức Giêsu một cách thiêng liêng trước khi thụ thai nơi thân xác”.
Lễ kỷ niệm Đức Mẹ núi Cát Minh vào giữa mùa hè là cơ hội để nhắc lại việc tận hiến của chúng ta cho Đức Trinh Nữ Maria, mẫu gương và là Mẹ của những người sống đời chiêm tu.
* * *
Ngày 21.7
THÁNH LAURENT DE BRINDISI,
Linh mục, tiến sĩ Hội Thánh (1559 – 1619)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Lễ Thánh Lorensô Brinđisi được cử hành trước ngày chết của Người một ngày, vì thánh nhân qua đời ngày 22 tháng Bảy năm 1619 tại Lisbonne, trên đường đến triều đình vua Philipphê III để bào chữa cho những người dân thành Naples bị áp bức. Ngài được phong thánh năm 1881 và năm 1959, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII công bố Ngài là “tiến sĩ truyền giáo” do các tác phẩm của Ngài phần nhiều viết với văn phong bình dân.
Thánh Lorensô sinh năm 1559 ở Brindisi (nước Ý), cha mẹ đặt tên là Jules-César Russo. Mười sáu tuổi, Ngài vào dòng Capucins ở Vérone, nhận tên là Lorensô Brindisi. Nhà dòng gửi thầy Lorensô theo học ở Padua, thành trì của chủ thuyết Averroisme. Ngài sử dụng thành thạo nhiều ngôn ngữ như : Pháp, Đức, Hy Lạp, Syrie và Do Thái.
Thụ phong linh mục năm 1582, Ngài thường giảng ở Venise và Roma. Ngài từng là giám tỉnh Toscane, Vénétie, Thụy Sĩ và Gênes trước khi được chỉ định làm giám luật, rồi làm bề trên tổng quyền (1602 – 1605). Thời gian này, Ngài đã phát triển dòng ra nhiều nước ở Trung Âu. Năm 1605, Ngài trở về bên cạnh hoàng đế Rodolphe II (Đức) và bằng công việc của mình, Ngài đã góp phần vào công cuộc chiến đấu với người Thổ.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện của ngày ca ngợi “tinh thần khôn ngoan và mạnh mẽ” của Thánh Lorensô Brindisi, một trong những người tạo tinh thần cho cuộc chiến đấu chống người Thổ lúc ấy đang đe dọa Châu Âu và cả Kitô Giáo. Thánh Lorensô trở thành cánh tay phải của hoàng tử Philipphê Emmanuel vùng Lorraine khi ông đang chiến đấu ở Hungari để giải thoát xứ này khỏi ách thống trị của quân Thổ. Đứng trước hàng quân, Lorensô tay giơ cao Thánh Giá, la to : “Tiến lên ! Đây là điều Chúa muốn ! Chúa ở với chúng ta !”. Vị tu sĩ đơn sơ này cũng là đặc sứ của Đức Giáo Hoàng trong nhiều phái đoàn hòa giải, nhờ tài khôn khéo ngoại giao và biết nhiều thứ tiếng của mình.
Thánh Lorensô đã đi giảng khắp Châu Âu, Ngài xem việc giảng thuyết là “một chức năng truyền giáo, việc của thiên thần, của người kitô hữu, việc thần linh… Chính giảng thuyết đem lại đức tin, đức cậy, đức mến” (Bài giảng Mùa Chay của Thánh Lorensô, Phụng vụ Bài đọc). Bài giảng của Ngài bắt nguồn từ Thánh Kinh mà Ngài vốn thuộc lòng, thậm chí thuộc cả nguyên bản.
Ngày 22.7
THÁNH NỮ MARIA MAĐALÊNA,
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Vào thế kỷ thứ X, ở Constantinople, tại tu viện Thánh Ladarô, người ta đã cử hành lễ này, vì người ta tin rằng hài cốt của bà đưa từ Ephèse về chôn cất tại đây vào năm 899, sau khi bà theo Thánh Tông Đồ Gioan đến đó (Mađalêna có nghĩa là người thị trấn Magdala ND). Magdala là tên một thành phố nằm trên bờ hồ Galilée về phía Tây Bắc, giữa đường từ Tibériade đến Capharnaum. Từ thế kỷ XI, lễ Thánh Nữ Maria Mađalêna được cử hành ở Roma và ở phương Tây ; đến thế kỷ XII, sách lễ Latran vẫn lẫn lộn xem Maria thành Magdala và Maria làng Bêtania (mà phụng vụ Hy Lạp mừng lễ ngày 18 tháng Ba), và cả nữ tội nhân vô danh (phụng vụ Byzantin mừng lễ ngày 31 tháng Ba), người mà theo Luca 8, 2, được giải thoát khỏi bẫy quỉ trước khi theo phục vụ Đức Giêsu : cả ba phụ nữ được nêu danh trong Thánh Kinh được xem như một người. Thời Trung Cổ, việc tôn kính Thánh Nữ Maria Madalenna cũng phát triển ở Vézelay và Sainte Baume gần Marseille, vì tại đây có truyền thuyết rằng bà đã lui ẩn trong một hang núi sau khi lên bờ ở miền Provence.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Tất cả các bản văn trong Thánh Lễ và Phụng vụ giờ kinh (gồm 8 điệp ca, một số đáp ca và hai ca vãn riêng) đều nhắc đến Maria thành Magdala, người đầu tiên được Thầy “giao việc loan báo tin sống lại” (lời nguyện của ngày). Maria đã thấy Chúa phục sinh (Ga 20, 18), nhận sứ mệnh báo tin đó. Chúa bảo bà : “Hãy đi tìm các anh em của Thầy…” (cách Đấng Phục Sinh gọi môn đệ là anh em chỉ thấy trong Phúc Âm Thánh Gioan [20, 17]). Đức Giêsu hiện ra trước tiên với Maria thành Magdala (Mc 16, 9), đã giao cho bà sứ mệnh làm chứng nhân và là tông đồ của sự phục sinh. Nên bà trở thành mẫu gương cho chúng ta, vì chúng ta cũng được kêu gọi để “loan báo Đức Kitô Phục Sinh” (lời nguyện của ngày).
Bài Phúc Âm Gioan đọc trong Thánh Lễ (20, 1-18) nhấn mạnh một khía cạnh khác trong nhân cách của Maria Madalenna : bà là một tâm hồn đi tìm Chúa giữa đêm tối đức tin. Trời còn tối khi bà tới mộ. Bà khóc vì thấy mộ trống. Buồn bã, bà hỏi kẻ mà bà tưởng là người giữ mồ…Bấy giờ, Đức Giêsu mới tự tỏ lộ khi gọi tên bà : Maria ! “Bà liền thưa với Người : Rabbouni, nghĩa là Thầy ơi, bởi vì Đấng bà tìm bên ngoài là chính Đấng từ bên trong dạy bà đi tìm kiếm” (Bài giảng Thánh Grêgoriô Cả, Phụng vụ Bài đọc).
Maria thành Magdala, người được giải thoát khỏi bẫy quỉ (Mc 16, 9; Lc 8, 2) đã dâng mình phục vụ Đức Kitô. Bà đứng đầu trong danh sách các phụ nữ theo Chúa Giêsu (Lc 8, 2; Mc 15, 47; Mt 27, 56) và đứng gần Thập Giá (Mc 15, 40). Bà là biểu tượng của các dân trong giao ước mới.
* * *
Ngày 23.7
THÁNH BRIGITTE,
Nữ tu (1303 – 1373)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Thánh Nữ Brigitta qua đời ngày 23 tháng Bảy năm 1373 tại Roma. Bà được phong thánh năm 1391, được ghi vào sổ niên lịch Roma năm 1623.
Brigitta sinh năm 1303, gần Uppsala (Thụy Điển), con một hoàng tử người Thụy Điển và thuộc hoàng tộc người Goths ; bà lập gia đình với Ulf Gudmarsson, sinh được 8 người con, trong đó có Thánh Nữ Catarina nước Thụy Điển. Trung thành với tinh thần dòng ba Phan Sinh của mình, bà thường đến phục vụ các bệnh nhân tại một bệnh viện do chính bà thành lập. Sau một cuộc hành hương Saint Jacques de Compostelle với bà, năm 1342, người chồng nhập tu dòng Xitô Alvastra và qua đời ít lâu sau.
Trở thành góa phụ, bà sống đời chiêm niệm mới ở Vadstena (Thụy Điển), lập một nhà dòng tại đây. Từng là quí nhân tháp tùng (dame dhonneur) trong triều vua Magnus III Eriksson nước Thụy Điển, bà được nhà vua yểm trợ trong việc lập Dòng Chúa Cứu Chuộc cho cả nam và nữ sống trong những tòa nhà khác nhau nhưng cùng chung một nhà thờ.
Luật dòng được Đức Giáo Hoàng Urbain V chuẩn thuận năm 1370 sau nhiều thay đổi, đặc biệt trong vấn đề khó nghèo chung, nhưng chấp thuận cuối cùng chỉ có được vào năm 1378, sau khi Thánh Nữ Brigitta qua đời, dưới thời cai quản của con gái bà là Thánh Nữ Catarina Thụy Điển.
2. Sứ điệp và tính thời sự :
Lời nguyện trong ngày xuất phát từ cuộc đời của vị đại thần bí này, người được Chúa ban cho nhiều thị kiến: “Lạy Chúa, Chúa đã mạc khải cho Thánh Nữ Bringitta những bí nhiệm trên trời khi Người chiễm ngưỡng cuộc thương khó của Con Chúa…”. Quả thế, sau khi chồng chết, bà Brigitta sống đời cầu nguyện, khó nghèo và lao động. Suy niệm những điều huyền nhiệm trong cuộc thương khó và tử nạn của Đức Giêsu, bà đã nhận được nhiều mạc khải mà bà đã viết ra rồi được xuất bản thành chín tập. Ban đầu bà viết bằng tiếng Thụy Điển, sau được dịch sang La Tinh, chia làm bốn thời kỳ: ở Thụy Điển (1344 – 1349) ; Roma (1350 – 1363) ; những cuộc hành hương Italia (1364 – 1370) ; hành hương Đất Thánh (1372 – 1373). Phụng vụ Bài đọc đưa ra một lời kinh được coi là của Thánh Nữ Brigitta và cho ta thấy tình yêu của bà đối với Đấng Chịu Đóng Đinh. Châm ngôn của nữ thánh là “Đấng Chịu Đóng Đinh chính là Tình Yêu của tôi”.
Các mạc khải Thánh Nữ Brigitta nhận được chẳng những làm cho bà thành một nhà thần bí vĩ đại, gây nhiều ảnh hưởng rõ rệt lên nền đạo đức của thời Trung Cổ, mà còn biến bà thành “người mang sứ điệp của Chúa” như bà thường tự khẳng định. Sống giữa một thời chia rẽ, chiến tranh, bà cảm thấy mình được kêu gọi hoạt động cho hòa bình. Vì thế bà đã thỉnh cầu các vua nước Pháp và nước Anh tái lập bình an, thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng Clémentê VI rời Avignon để trở về Roma. Bà ý thức rõ tính cấp thiết của một cuộc cải cách trong Giáo Hội “từ đầu đến các chi thể” ; và để làm gương, bà đã chọn cuộc sống cầu nguyện, tự ý khó nghèo và hành động.
* * *
Ngày 25.7
THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ
(+ khoảng năm 44)
Lễ kính
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Thánh Giacôbê, thường gọi là Giacôbê Tiền, là anh của Thánh Gioan viết Phúc Âm, được phương Tây kính ngày 25 tháng Bảy từ thế kỷ VIII. Các Giáo Hội nghi lễ Copte và Byzantin mừng lễ Ngài vào một ngày gần lễ Phục Sinh hơn, vì theo sách Công vụ (12, 1-3), có thể Thánh Giacôbê đã bị Hérode Agrippa I chém đầu ngày 12 hoặc 30 tháng Tư năm 44. Ngài là tông đồ đầu tiên tử đạo. Ngược lại, từ thế kỷ IV – V, người ta quen mừng lễ Thánh Giacôbê đồng thời với Thánh Gioan, ngày 27 hoặc 28 tháng Mười Hai, như thấy ở xứ Ganle trong thế kỷ VII.
Giacôbê, con ông Zébédée và bà Salomé (Mc 5, 40; Mt 27, 59), là một trong ba môn đệ ưu tuyển của Chúa Giêsu : được chứng kiến việc nhạc mẫu Phêrô khỏi bệnh (Mt 1, 29-31), cô gái con Giairô sống lại (Mc 5, 37-43), Chúa biến hình (Mc 9, 2-8) và cơn hấp hối ở Gethsémani (Mt 26, 37).
Từ thế kỷ IX, việc tôn kính Thánh Giacôbê đã lan rộng ở Tây Ban Nha, người ta đã tôn kính mộ của Người tại Compostella (Galicie),khiến nơi đây thành một trong các trung tâm hành hương lớn thời Trung Cổ, sau Jérusalem và Roma. Một truyền tuyết thế kỷ XII kể trong Công vụ Thánh Giacôbê cho rằng ngài đã giảng đạo cho Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Vậy nên Thánh Giacôbê trở thành Thánh bảo vệ nước Tây Ban Nha trong cuộc chiến đấu bảo vệ đức tin, giải phóng khỏi tay người Maures. Việc tôn kính Người lan khắp Châu Âu, sang đến Châu Mỹ La Tinh, tại đây nhiều thành phố mang tên Người, như Santiago ở Chili, Cuba hay del Estero (Argentina).
2. Thông điệp và tính thời sự :
Các lời nguyện trong Thánh Lễ nhắc lại rằng Thánh Giacôbê là “tông đồ đầu tiên hiến dâng mạng sống vì Phúc Âm” (lời nguyện trong ngày) và “đã uống chén đắng của Đức Kitô” (lời nguyện trên lễ vật). Tám điệp ca trong Phụng vụ Giờ kinh nhắc lại việc Ngài là một trong các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu (Mc 1, 19; Mt 4, 21; Lc 5, 10) và đặt Ngài vào sổ những tông đồ thứ nhất. Ngài hiện diện cùng với Phêrô và Gioan lúc Chúa biến hình (điệp khúc ca vãn Giacaria) và lúc Chúa hấp hối trong vườn Gethsemani (điệp ca I và II Kinh chiều).
Bài giảng của Thánh Gioan Kim Khẩu do Phụng vụ Bài đọc trích dẫn giải thích cách Thánh Giacôbê hiểu thế nào là uống chén đắng của Đức Kitô. Thánh nhân nói rằng, Ngài sẵn sàng uống chén đó (Mc 10, 35), và Đức Giêsu tin vào lời Ngài. “Ngay từ phút đầu tiên, Người đã cháy lửa nhiệt tình, và trong sự khinh chê lạ thường các lợi lộc trần gian, Người đã tiến tới đỉnh cao đến độ tức thời bị đem đi giết”.
* * *
Ngày 26.7
THÁNH GIOAKIM VÀ ANNA
(song thân Đức Trinh Nữ Maria)
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Ngày lễ song thân Đức Trinh Nữ Maria trùng với ngày cung hiến Đại Thánh Đường Thánh Anna ở Constantinople vào khoảng năm 550. Từ thế kỷ XIII, lễ này đã phổ biến sang phương Tây qua các đoàn thập tự chinh, nhưng mãi đến 1584 mới thấy xuất hiện trong sách lễ Roma. Còn lễ Thánh Gioakim thì mãi 1522 mới thấy nhập vào phương Tây. Việc kết hợp hai lễ riêng lẻ này thành một lễ kính “ông bà” của Đức Giêsu, tức là hai vị “công chính” Gioakim và Anna, đã thấy xuất hiện trong phụng vụ dòng Phan Sinh vào ngày 20 tháng Ba, rồi vào nhiều ngày khác. Tại phương Đông, lịch Byzance mừng kính các Thánh Gioakim và Anna vào ngày 9 tháng Chín, ngày tiếp sau lễ sinh nhật Đức Maria, theo tập quán muốn mừng cha mẹ vì đã sinh con. Từ năm 1968, song thân của Đức Maria được mừng chung. Tất cả những gì chúng ta biết về các ngài là nhờ cuốn Ngụy Phúc Âm của Giacôbê, một bản ngụy kinh thuộc thế kỷ II, trong đó kể rằng, Đức Maria đã được sinh ra cách kỳ diệu do hai cha mẹ son sẻ : sứ thần báo tin cho ông Gioakim sau khi ăn chay bốn mươi ngày, rằng lời nguyện của ông được chấp nhận, trong khi Bà Anna đứng đợi ông nơi Cửa Vàng ở Jérusalem.
Thánh Anna được đặc biệt tôn kính ở làng Sainte Anne dAuray (Bretagne) và làng Sainte Anne de Beaupré (Canada).
2. Thông điệp và tính thời sự :
Các lời nguyện trong Thánh Lễ lấy từ sách lễ Paris 1738, nhấn mạnh hai điểm cùng có trong những bản văn phụng vụ khác.
Lời nguyện trong ngày và lời nguyện trên lễ vật mừng song thân Đức Maria, Đấng mang ơn cứu rỗi đến cho chúng ta cũng như mang “lời chúc phúc đã hứa cho Abraham và miêu duệ Người”. Đây chính là sự tiếp nối nhiệm cục cứu rỗi của Thiên Chúa, ý định này đã được thực hiện từ Abraham, qua các tổ phụ trong niềm tin, đến với hai thánh Gioakim và Anna, đến Đức Maria con của các ngài và Đức Giêsu Con Mẹ. Thiên Chúa vẫn trung thành suốt chuỗi dài các thế hệ đó, nhờ thế chúng ta cũng được hưởng những ân huệ trong sự cứu rỗi muôn đời và trong lời chúc phúc đã hứa với Abraham và miêu duệ Ông.
Lời nguyện hiệp lễ nhấn mạnh mầu nhiệm này : Thiên Chúa đã muốn Con Một mình “sinh bởi một gia đình nhân loại”. Quả thế, qua việc chọn dân riêng, Chúa đã tặng cho toàn nhân loại ơn cứu rỗi, nhân loại mà Người là thành viên không thể chia lìa. Vì thế đích thân Thiên Chúa trở thành liên đới với loài người.
Trong Phụng vụ Bài đọc, bài giảng của Thánh Gioan Đamascênô lấy lại tư tưởng đó : “Thánh Gioakim và Thánh Anna là cặp vợ chồng thanh khiết ! Khi các ngài tuân giữ sự khiết tịnh trong luật lệ tự nhiên, các ngài đã được thưởng điều vượt quá những gì thiên nhiên ban tặng, đó là đã sinh ra cho thế gian Đấng không ăn ở với chồng nhưng sẽ là Mẹ Thiên Chúa”.
* * *
Tại Canada : 26.7
THÁNH ANNA, THÂN MẪU ĐỨC TRINH NỮ MARIA, bổn mạng tỉnh Québec,
Lễ kính
1. Tiểu sử – Phụng vụ:
Ở Đông phương, việc tôn kính Thánh Nữ Anna đã xuất hiện từ thế kỷ VI tại Constantinople, và thế kỷ VIII tại Jérusalem, trong một đại giáo đường dâng kính Sinh Nhật Đức Maria, tại đây Thánh Gioan Đamascênô tôn kính song thân Đức Trinh Nữ.
Cùng với các cuộc thập tự chinh thế kỷ XI – XIII, việc tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria đã lan rộng sang phương Tây và trở nên rất phổ biến. Tới thế kỷ XVII, sau những lần Thánh Nữ Anna hiện ra với Yves Nicolazic, cư dân Ken Anna, gần Auray, miền Bretagne, năm 1623, việc tôn kính Thánh Nữ phát triển mạnh mẽ tại nước Pháp, và đền Thánh Nữ Anna ở Auray trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng. Một đại thánh đường đã được thánh hiến tại đây năm 1877 và từ đó luôn được xem như trung tâm tinh thần của Bretagne. Rất đông người đến kính viếng đền thờ Thánh Nữ Anna ở Auray, đặc biệt dịp hành hương gọi là “hành hương đại xá” (25 và 26 tháng 7).
Từ Bretagne, việc tôn kính “bà từ mẫu” (Thánh Nữ Anna), qua các thừa sai và thủy thủ người trong vùng, đã lan sang Canada, tại đây thân mẫu Đức Maria được tuyên bố là bổn mạng tỉnh Québec, được đặc biệt tôn kính tại đại giáo đường Thánh Nữ Anna ở Beaupré. Nằm trên bờ sông Saint Laurent, đền thờ thu hút nhiều khách hành hương, đặc biệt trong cuộc kiệu rước ngày 8 tháng 9, lễ Sinh Nhật Đức Maria.
Thánh Anna là bổn mạng nhiều nhà thờ và nhiều loại người: các mẹ, các bà, các cháu, thủy thủ,…. Trong nghệ thuật, Thánh Nữ thường được vẽ dưới dạng đang dạy con gái là Maria đọc Kinh Thánh.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Anna (tiếng Do Thái là hannah, có nghĩa là “lòng đạo đức”, hoặc là “ân phúc”) là tên mà truyền thống gọi thân mẫu Đức Maria. Các sách Phúc Âm không nhắc gì tới Bà, nhưng từ giữa thế kỷ II đã thấy xuất hiện những cuốn ngụy thư, trong đó Phúc Âm Giacôbê là cuốn “phúc âm thời thơ ấu” cổ nhất và hay nhất, được Origène nhắc tới. Trong sách thấy có tên song thân Đức Maria là Gioakim và Anna. Từ cuốn ngụy thư này, bắt đầu phát sinh lòng sùng kính; vậy nên Thánh Gioakim và Anna, sinh nhật Đức Trinh Nữ, Đức Mẹ dâng mình vào Đền Thờ đã được cho vào niên lịch phụng vụ, còn nghệ thuật và văn chương thì rất phong phú trong các vấn đề này.
“Phúc lành các thiên thần hân hoan tôn vinh Con Thiên Chúa về sự trọng đại hôm nay…. Qua Người (Thánh Nữ Anna) phúc lành hứa ban cho muôn dân đã đến được với chúng con” (ca nhập lễ). Vậy nên, khi mừng kính Thánh Nữ Anna cùng bạn của Người là Thánh Gioakim và con của Người là Đức Maria, chúng ta tôn vinh Đức Kitô, là “phúc lành đã hứa cho muôn dân”.
Cũng thế, lời nguyện nhập lễ trong khi nhấn mạnh rằng Chúa “đã chọn Thánh Nữ Anna để sinh ra mẹ của Con Chúa”, cũng nhắc lại rằng “lễ kính các thánh công bố những điều kỳ diệu của Đức Kitô nơi các tôi tớ Chúa và đưa lại cho giáo dân những gương mẫu thích hợp để bắt chước” (Vatican II, Phụng vụ thánh, số 111). “Tự bản chất của mình, mọi việc làm chứng đích thực cho tình yêu mà chúng ta trình diện các cư dân trên Trời, thì đều hướng tới mục tiêu của nó là Đức Kitô, triều thiên của mọi đấng thánh” (Vatican II, Giáo Hội…, số 50).
Các bài đọc đưa ra trong lễ Thánh Nữ Anna nhắc tới lòng tin của Thánh Gioakim và Thánh Nữ Anna, vì các ngài “được tràn đầy Thánh Thần, nên đợi chờ niềm an ủi của Israel” (lời tung hô Phúc Âm).
Đoạn thư Do Thái, đưa ra để tùy nghi lựa chọn, ca ngợi niềm tin các tổ tiên xưa : Abraham, Isaac, là những người thừa kế lời hứa, và Sara, người đã nghĩa rằng Thiên Chúa sẽ trung tín…. Mặc dầu các ngài không thấy lời hứa thực hiện, nhưng đã nhìn thấy và chào đón nó từ xa.
Đức Giêsu, trong Phúc Âm (Mt 13, 11-17), tuyên bố chúng ta có phúc, vì đã được cho biết những bí nhiệm Nước Trời. Tuy nhiên điều đó không được làm ta quên việc biết ơn và ca tụng các ngôn sứ và người công chính, những kẻ từng ao ước thấy những gì chúng ta được thấy, mà không được, nghe những gì chúng ta nghe nhưng không thể.
Giáo Hội liên lỉ chạy đến sự khẩn cầu của các thánh. Vậy nên trong ngày lễ kính Thánh Nữ Anna, chúng ta xin Chúa “ban cho chúng ta có được sự yểm trợ của các ngài” (lời nguyện mở đầu). Vì quả thực các thánh là “anh em chúng ta và ân nhân lớn lao cho chúng ta… bởi vì giờ đây đã được về quê hương, hiện diện trước mặt Chúa, thì qua Người, với Người và trong Người, các ngài không ngừng khẩn cầu cho chúng ta cạnh Chúa Cha” (Vatican II, Giáo Hội…, số 49).
* * *
Ngày 29.7
THÁNH NỮ MATTA
Lễ buộc
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Lễ Thánh Nữ Matta, chị của Maria và Ladarô, được cử hành tám ngày sau lễ kính Thánh Nữ Maria Mađalêna và đã phổ biến dưới thời Trung Cổ do ảnh hưởng cuốn Các truyền thuyết ở Pronvence. Tuy nhiên thật đáng tiếc vì không có một lễ chung kính ba vị thánh của Bêtania như trong phụng vụ dòng Phan Sinh ở thế kỷ XVIII và trong niên lịch dòng Biển Đức vốn vẫn thường mừng vào ngày 2 tháng Chín.
Quyển Cuộc đời Thánh Nữ Matta (thế kỷ XII) có kể lại một truyền thuyết rằng ba chị em Matta, Maria, Ladarô đã bị người Do Thái tống xuống một chiếc thuyền nhỏ không buồm, nhưng đã lên bờ được ở Marseille và tại đây bà Matta được đặc biệt kính trọng. Còn theo những truyền thuyết khác thì Thánh Nữ Matta đã truyền giáo ở miền Provence và đã giải thoát miền này khỏi một con quái vật tên là Tarasque. Người ta thấy sự tích đó được khắc trong Nhà thờ Thánh Nữ Matta (thế kỷ XII) ở Tarascon.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Các lời nguyện trong Thánh Lễ cũng như các điệp ca nhập lễ (nhắc tới bữa ăn ở Bêtania) và hiệp lễ (nhắc tới việc Ladarô sống lại) đưa ra ba giai đoạn nổi bật của Thánh Nữ Matta, được chọn làm bổn mạng các bà nội trợ và các dưỡng đường.
Lời nguyện trong ngày ca tụng tính hiếu khách của thánh nữ, và dạy chúng ta biết “phụng sự Đức Kitô trong mỗi người anh em chúng ta”. Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh “sự vội vã tận tụy” của thánh nữ trong việc đón tiếp Đức Giêsu vào nhà (Lc 10, 38).
Bài Phúc Âm Luca đọc trong Thánh Lễ (Lc 10, 38-42) nhắc lại lời Đức Kitô : “Matta, Matta ơi, chị lo lắng, sắp xếp nhiều chuyện. Nhưng duy nhất chỉ có một điều là cần thiết…“ Bởi thế, trong lời nguyện tạ lễ, chúng ta xin Chúa “đừng để chúng ta hướng về những gì hay hư nát”. Cũng vậy, bài giảng của Thánh Augustinô và Phụng vụ Bài đọc trích dẫn nhắc nhở chúng ta rằng “lời của Đức Giêsu Kitô mời gọi chúng ta chỉ nhắm một mục đích duy nhất khi chúng ta ngụp lặn giữa bao công việc của trần gian này”.
Điệp ca bài Benedictus : Lạy Chúa, Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã đến trong thế giới này, được trích dẫn từ Phúc Âm Thánh Gioan (11, 27) mà ta có thể đọc trong Thánh Lễ. Những lời này của Thánh Nữ Matta là một lời tuyên xưng đức tin rất vững chắc, đã được Giáo Hội giữ lại trong nghi thức khai tâm kitô giáo cho người trưởng thành và trong phụng vụ lễ tang.
* * *
Ngày 30.7
THÁNH PHÊRÔ KIM NGÔN
Giám mục, tiến sĩ Hội Thánh, (khoảng 180 – 451)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Lễ Thánh Phêrô Kim Ngôn, Giám Mục Ravenne, được cử hành một ngày trước ngày thánh nhân qua đời vào 31 tháng Bảy, khoảng năm 451. Xác Người an nghỉ dưới tầng hầm Nhà thờ Chánh Tòa Ravenne. Thánh Phêrô Kim Ngôn sinh khoảng năm 380 tại Imola (Italia), được Đức Giám Mục Corneille đào tạo và chọn làm Giám Mục Ravenne vào khoảng năm 430 vào thời điểm thành phố này trở thành một trong các thủ đô của đế quốc, cùng với Roma, Milan và Constantinople. Làm giám mục, Thánh Phêrô Kim Ngôn từng liên hệ với Galla Placidia lúc đó đang cai quản đế quốc phương Tây thay cho con là Valentinien III lúc đó còn nhỏ tuổi. Bà hoàng hậu có lòng trung thành với Giáo Hội nên ủng hộ Đức Giáo Hoàng Leô I trong việc chống lại Eutychès lạc giáo. Thánh Phêrô cũng liên lạc với các giám mục khác đương thời, như Thánh Germain ở Auxerre mà Ngài đón tiếp tại Ravenne với rất nhiều trọng đại. Biệt danh Kim ngôn (Lời Vàng) người ta gọi Ngài là do các bài giảng của Ngài, được thu thập tại Ravenne vào khoảng năm 710 ; tất cả có bảy mươi bảy bài (nhưng một số là ngụy thư). Các bài giảng của Ngài khởi hứng từ sách Tân Ước, thường là những nhắc nhở về đời sống kitô hữu, đôi khi nhằm sửa chữa một số lạm dụng hoặc quá trớn đặc biệt xảy ra trong dịp lễ hội tháng Giêng, giống như một thứ hội giả trang ngày nay. Ngài nói: “Ai muốn vui chơi với ma quỉ, sẽ không được hoan lạc với Đức Kitô”.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện trong ngày gọi Thánh Phêrô Kim Ngôn là “nhà giảng thuyết lớn về Ngôi Lời nhập thể”. Quả thế, Người đã giảng rất nhiều về Ngôi Hai nhập thể, Ngài trình bày tín lý của Giáo Hội bằng một văn phong đơn sơ, dễ hiểu, đúng với những gì Giáo Hội Roma, do Đức Giáo Hoàng đứng đầu hướng dẫn, nhằm chống lại những lệch lạc giáo lý đang thịnh hành thời bấy giờ. Năm 449, Thánh Phêrô Kim Ngôn tống khứ Eutychès, người chủ xướng lạc thuyết sang Roma bằng những lời sau đây : “Để duy trì an bình và đức tin, tất cả những gì liên hệ đến đức tin phải được sự chấp thuận của vị giám mục Roma, vì tông đồ Phêrô, Đấng vẫn sống và đứng đầu nơi Tòa của Người, không từ chối bảo ban chân lý cho những ai kiếm tìm”.
Bài giảng của thánh nhân về Nhập thể do Phụng vụ Bài đọc trưng dẫn chủ yếu trình bày mục đích của mầu nhiệm này cũng là nhằm mục đích “tái tạo chúng ta, biến chúng ta trở nên quí hóa đối với Chúa”. “Việc Đức Kitô sinh ra là mầu nhiệm đức tin, là sự cải tạo và cứu rỗi con người…. Đức Kitô đặt hình ảnh của Người vào hồn bạn, ngõ hầu hình ảnh hữu tình đó biến Đấng Sáng Tạo vô hình trở nên hiện diện trên trần gian…. Thiên Chúa đã muốn thực sự thấy mình trong kẻ Người từng muốn được nhận ra trước đó như trong một hình ảnh”.
Lời nguyện trong ngày đòi hỏi chúng ta cũng làm chứng các mầu nhiệm của sự cứu rỗi “bằng chính trọn cuộc đời”. Chúng ta hãy nghe vị giám mục Ravenne là Pierre I tuyên bố trong bài thuyết giảng số 103 : “Nói sao đây nếu trong ngày Noel vui mừng, người nghèo khóc, tù nhân rên rỉ, người phiêu cư than thân tủi phận, kẻ tù đày thổn thức? Tín đồ Do Thái Giáo mừng các lễ tôn giáo bằng những đóng góp; còn người kitô hữu thì nghĩ tới cái gì nếu không cho một xu nhỏ rút từ trong ví để mang lại vinh dự cho mình ? Không, thưa anh em, đừng tưởng tôi nói những điều đó là cường điệu, chính niềm đau của tôi nói lên đó. Tôi đau khổ, phải, tôi đau khổ khi thấy các nhà chiêm tinh đặt vàng vào máng cỏ Chúa, còn kitô hữu ngày nay để bàn thờ thân thể của Đức Kitô trống trơn, nhất là vào thời điểm đói khổ đang quất vào mặt những người nghèo và các tù nhân. Đừng ai bảo rằng : tôi không có gì ! Chúa đòi bạn lấy những gì bạn có chứ không phải những gì bạn không có, bởi vì Người đã đoái nhận với lòng biết ơn hai đồng xu nhỏ của bà góa kia. Chúng ta hãy quảng đại với Đấng Sáng Tạo, tạo vật sẽ quảng đại với chúng ta”.
Bài thuyết giảng số 130, được đọc nhân ngày kỷ niệm giáp năm thụ phong giám mục, cho thấy khuôn mặt của vị giám mục lý tưởng : “Người tỏ lòng tôn kính kẻ lớn tuổi, tử tế với các thanh niên, yêu thương bạn đồng nghiệp, âu yếm các trẻ nhỏ : trong Đức Kitô, Người tỏ ra là kẻ tôi tớ của mọi người”. Đó chính là giám mục Phêrô Kim Ngôn mà Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIII, năm 1729, đã tuyên bố là tiến sĩ Hội Thánh.
* * *
Ngày 31.7
THÁNH INHAXIÔ LOYOLA
Linh mục (1491 – 1556)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :
Thánh Inhaxiô Loyola qua đời tại Roma ngày 31 tháng Bảy năm 1556 và được phong thánh năm 1622. Ngài đã sống trong một thời kỳ nổi bật chủ nghĩa lạc quan nhân bản và chủ trương sức mạnh cá nhân vốn là đặc trưng của phong trào baroque.
Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491, là con thứ mười một trong một gia đình hiệp sĩ nổi tiếng vùng Basque, Tây Ban Nha. Sau một thời gian sống tại triều đình ở Castille và một thời thanh xuân không mấy đáng khích lệ, Inigo gia nhập quân ngũ. Bị thương nặng trong cuộc vây hãm Pampelune (1521) do François IV tấn công, Inigo đành phải chịu đựng một giai đoạn dưỡng thương dài tại lâu đài gia đình. Trong thời gian dưỡng thương bắt buộc, cậu mê say đọc các tiểu thuyết hiệp sĩ và cả một số tác phẩm về cuộc đời Chúa Giêsu và các thánh. Được Ơn Chúa thúc đẩy, Inigo de Loyola trở lại vào chính năm Luther bị khủng hoảng, rút lui về lâu đài Wartburg ở Đức. Từ đây cuộc đời Inigo bước qua nhiều chặng đường khác nhau. Trước tiên là Catalogne, tại đây Inigo dừng chân trong một buổi canh thức theo tập tục người hiệp sĩ, trước tượng Đức Mẹ ở Montserrat. Tiếp đến, tại Manrèse, trong một hang đá, ngài bắt đầu ghi những điểm đầu tiên trong cuốn Linh thao sẽ là cơ bản cho linh đạo của Dòng Tên. Năm 1523, ngài hành hương sang Jérusalem. Từ 1524 đến 1527, theo học ở Tây Ban Nha, buổi đầu ở Barcelone, về sau ở Salamanque. Tại Barcelone, bị coi là “người ảo tưởng”, Inigo bị bỏ tù, cũng như sau này ở Salamanque bị tố cáo là “tâm thần”.
Năm 1528, Inigo đến Paris, ở đó đến 1535, ban đầu là sinh viên, về sau là “tiến sĩ nghệ thuật” (maýtre ès arts) (dạy triết học). Chính tại Paris năm 1534, Thánh Inhaxiô thâu nhận các người bạn đầu tiên, trong đó có Thánh Phanxicô Xavie, để chia sẻ lý tưởng với mình. Tại Montmartre, trong nhà nguyện các thánh tử đạo, các ngài tuyên khấn ba lời khấn dòng thông thường, ngoài ra còn thêm lời khấn đi truyền giáo cho lương dân tại Đất Thánh và nếu dự tính không thể thực hiện thì sẵn sàng tuân theo ý Đức Giáo Hoàng. Năm 1537, sau khi thụ phong linh mục, Thánh Inhaxiô cùng các bạn sang Roma, nhưng không thể sang Palestine vì đang có chiến tranh giữa Venise với quốc vương Hồi Giáo, Đức Phaolô III sai các ngài đến các điểm truyền giáo ở Italia, và năm 1540, Đức Giáo Hoàng phê chuẩn luật Dòng Chúa Giêsu. Thánh Inhaxiô Loyola là bề trên tổng quyền đầu tiên của dòng. Hiến pháp cố định của dòng được phê chuẩn năm 1550. Thánh Inhaxiô qua đời tại Roma, thọ 65 tuổi, sau thời gian làm bề trên tổng quyền mười lăm năm.
2. Thông điệp và tính thời sự :
Lời nguyện trong ngày lấy tư tưởng từ bài đọc thứ nhất trong Thánh Lễ (1 Co 10, 31), nhắc lại châm ngôn lừng danh của Dòng Tên : “Ad majorem Dei gloriam – AMDG – Để Chúa được vinh danh hơn”: “Lạy Chúa, để danh Chúa được tôn vinh hơn, Ngài đã cho xuất hiện trong Giáo Hội Thánh Inhaxiô Loyola…”. Vị bề trên tổng quyền dòng tu này đã “sẵn sàng cho những công việc phục vụ ánh sáng” và “cho việc loan báo cứu rỗi trên khắp thế giới” (Ca vãn trong Phụng vụ Bài đọc). Để đạt mục tiêu trong cuộc chiến đấu vì Phúc Âm này, cần có kỷ luật, và việc thực tập nó được thực hiện là nhờ các bài đọc trong cuốn Linh thao, lấy theo tinh thần của bài Phúc Âm trong Thánh Lễ (Lc 14, 25-33) là : triệt để bước theo Đức Kitô bằng cách từ bỏ tất cả, sau khi đã nghiên cứu vấn đề một cách chính chắn trước ; suy nghĩ về mục đích của con người, về tội lỗi, suy niệm các mầu nhiệm trong cuộc đời Đức Kitô, kiếm tìm và nhìn thấy Chúa trong mọi sự, trở thành những nhà chiêm niệm trong khi vẫn hoạt động và tập phân biệt các loại tinh thần khác nhau…”
Lời nguyện trên lễ vật xin Chúa cho chúng ta cũng được “thánh hóa trong sự thật”, nhờ Thánh Thể là “nguồn mạch mọi sự thánh thiện”. Trong cuốn Nhật ký tinh thần, Thánh Inhaxiô trình bày Đức Kitô của Phúc Âm trong cái chết cũng như phục sinh, là mẫu gương cho cuộc sống tu đức Kitô Giáo. Việc bắt chước Chúa trước tiên phải được thực hiện bằng vâng phục vốn là nhân đức căn bản, sau đó bằng khó nghèo và sau hết bằng khiêm tốn, là điều kiện của đời sống thánh thiện đích thực.
Trong lời nguyện tạ lễ, chúng ta xin Chúa dẫn chúng ta tới chốn “ca tụng vinh quang Chúa không ngừng”. Thánh Inhaxiô từng là một con người chiêm niệm đồng thời là một con người hoạt động. Quả thế, ở Roma, Ngài đã không ngừng truyền giáo, giảng dạy, cứu giúp người nghèo khổ, kẻ mồ côi, thậm chí còn lập một trường dự tòng cho người Do thái Giáo và Hồi Giáo cải đạo và một nhà cho các phụ nữ hoàn lương …
Vậy nên Thánh Inhaxiô Loyola vẫn mãi mãi là gương mẫu diệu kỳ để bắt chước bởi tình yêu của Ngài đối với Đức Kitô, bởi sự quân bình trong đời sống và tư tưởng của Ngài, bởi tình yêu say đắm đối với Giáo Hội, bởi tình gắn bó của Ngài với Đức Giáo Hoàng. Dòng Tên do Ngài sáng lập qua bao thế kỷ sẽ là một hoạt động do sự quan phòng của Chúa trong việc Phục hưng công giáo, huấn luyện giới trẻ và phát triển Giáo Hội Chúa sang vùng truyền giáo.




