Phụng vụ Chư Tháng tháng 8

Phụng Vụ Chư Thánh Tháng 8

Phụng Vụ Chư Thánh – Theo lịch Phụng Vụ Rôma

Tác giả: ENZO LODI

Nhóm dịch: Linh Mục hạt Xóm Chiếu

 

THÁNG TÁM

Mục Lục

Ngày 1.8
THÁNH ALPHONSE-MARIE DE LIGUORI
Giám mục tiến sỹ Hội Thánh (1696 – 1787)
Lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Alphonse (An-phong) là Đấng sáng lập hội dòng Chúa Cứu Thế vào một giai đoạn chủ nghĩa duy lý thống trị. Qua đời ngày 1 tháng tám năm 1787 tại Campanie (nước Italie), Ngài được phong thánh năm 1839 và năm 1871, Giáo hội tuyên bố Ngài là tiến sỹ Hội thánh.

Alphonse-Marie de Liguori sinh năm 1696 gần Naples, trong một gia đình quí tộc. Đỗ tiến sĩ luật đời và cả luật đạo năm mười bảy tuổi, nhưng năm 1723, Alphonse rời bỏ tòa án để đi làm linh mục (năm 1726). Trước tiên Ngài lo đào tạo các thừa sai sang Trung quốc tại một chủng viện ở Naples, nhằm phục vụ các bệnh nhân và giảng dạy giới bình dân. Về sau, Ngài giảng dạy trong các vùng quê miền Naples, nơi đây Ngài khám phá thấy sự thiếu thốn lớn trong vấn đề đạo đức. Điều này đưa Ngài tới việc thành lập một hội dòng mới (Dòng Chúa Cứu Thế) vào năm 1732 nhằm mục đích truyền giáo cho các miền quê, đặc biệt là cho giới bình dân và dạy dỗ về bí tích hòa giải. Năm 1749, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV sẽ phê chuẩn luật dòng mới này. Mặc dầu có các khó khăn buổi đầu, hội dòng đã nhanh chóng phát triển, đặc biệt nhờ công của thánh Clément Hofbauer phổ biến sang Ba Lan và trong các xứ thuộc Đức.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện trong ngày cầu khẩn Chúa là Đấng không ngừng thúcb đẩy phát sinh trong Hội Thánh “nhưng gương mẫu nhân đức mới”. Qủa thế, vào thời đó giữa hai chủ trương lạc quan tôn giáo và nhặt nhiệm do Janséniste chủ xướng, thánh Alphonse đã xây dựng một hệ thống thần học luân lý được mệnh danh là “thuyết trung dung”, dựa trên nguyên tắc lòng nhân từ vô biên của Chúa, và đứng giữa hai thái cực nhặt nhiệm và thả lỏng của những người chủ trương “có thể”. Qua công trình của nhà luân lý quân bình, thánh Alphonse đã đặc biệt có công trong việc giải phóng các giáo hữu đương thời khỏi chủ trương qúa nhiệm nhặt của phái Jansenius. Là nhà giảng thuyết và nhà luân lý lớn, thánh nhân cũng biết khai thác các tài năng thơ – nhạc của mình phục vụ cho nhiệt tình truyền giáo.

Ngài là một trong những tác giả thánh ca Noel nổi tiếng. Người ta gán cho thánh Alphonse một trăm sáu mươi tác phẩm thần học hoặc đạo đức, trong đó phải kể Viếng Mình Thánh Chúa (1745), Vinh quang của Đức Maria (1750), Phương pháp lớn là cầu nguyện (1759), Luận về tình yêu của Đức Giêsu kitô và Thần học luân lý (1753 – 1755). Tác phẩm trọn bộ của Người đã được dịch sang tiếng Pháp (1834 – 1842).

b. Phụng vụ bài đọc trích dẫn từ bộ Luận về tình yêu của Đức Giêsu Kitô cho ta thấy linh đạo của thánh An-phong là dựa trên tình yêu : “Vì Chúa biết rằng con người thường bị các ân huệ chinh phục, Chúa đã muốn buộc nó yêu Chúa vì các ơn của Người. Chúa nói, Ta muốn lôi kéo chúng bằng những thứ lưới mà loài người mắc phải, để chúng yêu Ta, vì đó là những sợi dây yêu thương”.

c. Lời nguyện trên lễ vật nhắc lại rằng thánh Alphonse đã tự dâng hiến chính mình “như một hy lễ thánh”. Đặc biệt là khi đã lớn tuổi, vị sáng lập dòng Chúa Cứu Thế đã gặp phải bao thử thách do những đau khổ lớn lao, nhưng ngài đã đón nhận tất cả với sự kiên nhẫn anh hùng : bệnh tật, ngờ vực, thậm chí cả sự xa lánh của chính gia đình dòng tu của mình, những cuộc tranh giành gây đối chọi giữa các thành viên hội dòng, kết cuộc đi đến chia rẽ, và sau hết nổi lo bị kết án, đã hằn sâu những năm cuối đời thánh nhân.

d. Lời nguyện tạ lễ gọi thánh An-phong là “nhà giảng thuyết và tư tế trung thành của Thánh thể”. Ngài luôn tận tâm với việc canh tân lòng tôn sùng Thánh thể, – cách riêng, việc thực hiện các cuộc Viếng Mình Thánh Chúa-, và Ngài đòi hỏi phải tôn kính Thánh Thể cách xứng đáng. Vị chủ chăn lớn thường nói : “ Chính nhờ việc cầu nguyện mà các thánh nên thánh”; chình vì ý thức rõ tính cách quan trọng của cầu nguyện mà bản thân Ngài luôn thực hành và rao giảng, thánh nhân cũng đã thành lập một ngành nữ của hội dòng Chúa Cứu Thế với hoạt động chủ yếu là thần vụ, suy gẫm và đọc sách thiêng liêng. Thánh nhân đặt “tình yêu vô biên” của Cha vĩnh cửu đối với nhân loại làm nền tảng cho toàn bộ giáo lý của Người, bởi vì “Đấng đã không từ chối giao phó chính Con Một mình vì tất cả chúng ta, làm sao Chúa lại không ban tất cả cho chúng ta, cùng với Con của Người ?” (Luận về tình yêu Đức Giêsu Kitô).
* * *

Ngày 2.8
THÁNH EUSÈBE DE VERCEIL
Giám mục Verceil (khoảng 283 – 371).
Lễ nhớ

1. Tiểu sử – phụng vụ

Thánh Eusèbe, giám mục Verceil (Piérmont), qua đời ngày 1 tháng tám năm 371. Trong lịch cũ, ngài được tôn kính như thánh tử đạo vì những đau khổ phải chiụ do sự trung thành với tín điều bản tính Thiên Chúa của Đức Kitô vốn bị lạc giáo Arius phủ nhận.

Eusèbe sinh tại Sardaigne vào khoảng năm 300. Sau thời gian theo học tại Roma, Ngài nhận chức đọc sách trước khi được chỉ định làm giám mục Verceil năm 345. Là giám mục, thánh Eusèbe là người đầu tiên du nhập thói quen các linh mục sống chung với giám mục sang phương Tây, một cuộc sống theo Phúc âm, đơn sơ, khó nghèo theo một qui luật chung.

Trong giai đoạn lạc giáo Arius được hoàng đế Constance bảo vệ và nâng đỡ nên phát triển mạnh, Eusèbe đã mạnh mẽ bảo vệ tín điều về Thiên tính của Đức Kitô. Bị hoàng đế bách hại, thánh nhân bị đày sang Palestine, rồi Cappadoce, sau tới miền Thượng Thébaide ở Ai-cập. Constance băng hà (361) ; nhờ Julien lên ngôi hoàng đế, Eusèbe trở về địa phận của mình, sống cuộc đời chủ chăn đạo đức, được cả hàng giáo sĩ và giáo dân quí mến.

2. Sứ điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày ca tụng đức can đảm của thánh Eusèbe, Ngài đoạt kỷ luật ngoan cường trong việc bảo vệ tín điều thiên tính của Đức Kitô, đương thời bị nhóm Bán-Ariens (semi – ariens) từ chối, những kẻ gọi là “bọn khùng theo Arius”. Ngài nhất mực không chịu ký tên vào việc kết án thánh Athanase, giáo chủ Alexandria, đối thủ chính của phe lạc giáo này, và Ngài đã tham dự công đồng Milan năm 355 do Đức Giáo Hoàng Libère triệu tập để kết án Arius. Ngài cũng cộng tác với thánh Hilaire thành Poitiers trong việc phục hồi nền nếp chính thống.

Trong ba bức thư thánh nhân còn lưu truyền tới chúng ta, phụng vụ bài đọc trích dẫn lá thư Ngài viết ở nơi lưu đày, ở Scythopolis (Palestine) gửi giáo sỹ và giáo dân Verceil (sau năm 355), trong thư ta đọc được lòng nhiệt thành của vị chủ chăn : “ Tôi khẩn khoản nài xin anh chị em hãy giữ vững đức tin với sự cảnh giác cao độ, hãy giữ sự thuận hòa, siêng năng cầu nguyện, không ngừng nhớ đến chúng ta để Chúa Đoái thương giải thoát Giáo hội của Chúa đang khổ đau khắp nơi trên thế giới…” Tiếp theo, Người viết theo những lời đầy tình người : “Tôi xin anh chị em cũng gửi lời chào trân trọng của tôi đến những kẻ ngoài Giáo Hội nhưng vẫn tốt bụng yêu mến anh chị em”.

* * *

 

Ngày 4.8
THÁNH JEAN-MARIE VIANNEY
Linh mục (1786 – 1859)
Lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ thánh Jean-Marie Vianney được mừng vào ngày Ngài qua đời là 4 tháng 8 năm 1859. Được phong thánh năm 1925 và Đức Giáo Hoàng Piô XI tuyên bố là bổn mạng các Cha xứ khắp thế giới, năm 1929.

Jean-Marie Vianney sinh ngày 8 tháng 5 năm 1786 ở làng Dardilly gần thành phố Lyon trong một gia đình nông dân. Mặc dầu có những dặt dè về phía ông bố, Gioan vẫn muốn làm linh mục và mãi tới 20 tuổi mới bắt đầu đi học ở nhà trường do linh mục Balley thành lập gần Ecully. Được nhận vào chủng viện Verrières, rồi chủng viện Lyon, Gioan gặp rất nhiều thử thách. Vì từ chối đăng ký theo lệnh Napoleon, Gioan phải trốn tránh trong vòng một năm rưỡi. Lại thêm ít khả năng học tập, Gioan bị đuổi khỏi chủng viện Lyon với lời phê “debilissimus” (rất yếu). Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ của linh mục Balley, người đã nhận ra ơn gọi của học trò mình, Gioan được chấp thuận cho thụ phong linh mục tại Grenoble ngày 13 tháng 8 năm 1815, lúc 29 tuổi, tân linh mục được chỉ định làm cha phó tại Ecully, bắt đầu thực tập công tác mục vụ với Balley, về sau được bổ nhiệm làm cha sở giáo xứ Ars, năm 1818. Cha ở lại giáo xứ bé nhỏ miền Dombes này suốt bốn mươi hai năm, cho đến ngày qua đời, mặc dù đã có những lần thử trốn trách nhiệm giáo xứ để sống đời chiêm tụ.

Cha Gioan Maria Vianney đã từ bỏ chức kinh sĩ, bán chiếc áo khoác kinh sĩ lấy tiền giúp người nghèo cũng như cả cái huy hiệu Bảo Quốc huân chương nhận được năm 1843. Ngài qua đời vì kiệt sức ở tuổi bảy mươi tư, mà theo lời một người chứng kiến, “trong ánh mắt biểu lộ một vẻ tin tưởng và đơn sơ lạ thường”. Trong những năm cuối đời của thánh Gioan, khách hành hương đến Ars ngày càng đông, có thể đến trăm nghìn người.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện trong ngày khẳng định thánh Gioan Maria Vianney thực là một “linh mục đáng khâm phục, tận hiến cho chức vụ”. Qủa thế, Ngài đã tận hiến cho sứ mệnh linh mục cho đến kiệt sức, tự đặt ra cho mình những việc đền tội nặng nề với mục đích cải tạo giáo xứ mình, và luôn sẵn sàng ngồi tòa cáo giải đến mười sáu giờ hoặc mười tám giờ mỗi ngày. Các bài giảng của Ngài, buổi đầu chịu ảnh hưởng của chủ trương nghiêm ngặt phái Jansenime, nên khá nghiêm khắc, về sau trở nên quân bình hơn, nhờ sự dịu dàng và đơn sơ. Ngài đã viết trong cuốn Giáo lý (xem Phụng vụ bài đọc) : “Cầu nguyện không gì khác hơn là hiệp nhất với Chúa”.

b. Lời nguyện trong ngày cũng xin Chúa cũng ban cho chúng ta một đức bác ái có khả năng chinh phục các linh hồn về cho Chúa. Qủa thật, miền ưu tư là một mục tử tốt của giáo dân trong xứ đã thúc đẩy Cha thánh xứ Ars thực hiện một công cụ dạy giáo lý liên tục bằng những lời dạy cũng như những thúc giục đánh đông lòng tín hữu. Họ thường bảo : “ Chưa bao giờ có linh mục nào nói với chúng tôi như thế”. hoạt động mục vụ của Cha cũng thực hiện cả trong lĩnh vực giáo dục những bé gái nhà nghèo, nên năm 1824 Cha đã mở một trường nữ miễn phí cho các em. Cha cũng lập một nhà mồ côi và tới đây dạy giáo lý mỗi ngày. Hoạt động mục vụ của vị linh mục Thánh thiện này cũng nhằm chiến đấu chống phong trào xa rời Kitô giáo của dân chúng, không còn thánh hóa Chúa nhật và đôi khi còn sa đà vào rượu chè, trụy lạc. Còn việc chiến đấu với ma qũi – Ngài thường gọi là Grappin , Ngài phải chịu đựng khá lâu năm, từ 1824 đến 1858.

c. Lời nguyện tạ lễ nhắc chúng ta nhớ rằng Cha thánh xứ Ars đã chịu đựng “một mâu thuẫn chống đối không sờ lòng”. Quả thế, Ngài từng là nạn nhân chính của một số anh em linh mục, thậm chí người ta còn vu oan cho Ngài, nhưng Ngài đã chịu đựng tất cả một cách rất Kitô giáo, đón nhận sức mạnh và can đảm trong sự sùng kính cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và nơi Thánh Thể. Vào cuối đời, vị mẫu gương lớn trong việc truyền giáo, người mục tử lớn sẽ nói rằng : “Tốt lành biết bao được chết sau khi từng sống trên thập giá !”
* * *

Ngày 5.8
CUNG HIẾN ĐỀN THỜ ĐỨC BÀ CẢ
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Sách Tử đạo của thánh Hiêrônimô đặt lễ cung hiến Đền thờ Đức Bà Cả tại Roma vào ngày này. Nghi lễ đã được Đức Giáo Hoàng Sixte III cử hành khoảng năm 435, sau một thời gian sửa chữa. Nhưng chính Đức Giáo Hoàng Libère đã xức dầu nhà thờ này khoảng năm 366, vì thế có tên gọi là đại giáo đường Libêrô (Libérienne). Nhà thờ cũng còn gọi là Nhà thờ Đức Bà xuống tuyết, vì có một truyền thuyết kể rằng nguồn gốc Nhà thờ là do một lần có tuyết rơi lạ lùng vào giữa tháng tám, trên đồi Esquilin ở Roma. Cũng còn một tên khác là Nhà thờ Đức Bà Máng Cỏ vì có một cái máng cỏ được lưu giữ tại đây.

Nhà Thờ Đức Bà Cả là đại giáo đường đầu tiên kính Đức Bà ở phương Tây và là Nhà thờ quan trọng nhất ở Rôma dân kính Đức Trinh nữ. Lễ kỷ niệm dâng hiến đền thờ này buổi đầu chỉ có ở địa phương, năm 1586 đã được ghi vào lịch sử Giáo hội Rôma.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày kêu gọi sự chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ Con Thiên Chúa. Vì qủa thật Đại Thánh Đường Đức Bà Cả được Đức giáo hoàng Sixte III xức dầu dâng hiến khoảng năm 435, sau khi công đồng Êphêsô năm 431 đã khẳng định tính cách Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria và gọi Người là Théotokos (Mẹ Thiên Chúa).

Phụng vụ bài đọc trích dẫn một đoạn trong một bài giảng tại công đồng Êphêsô năm 431. Bài giảng này người ta nói là của thánh Cyrille thành Alexandria là bài giảng nổi tiếng nhất trong cổ thời về Đức Trinh nữ Maria. Bài giảng ghi : “Chúng ta được tôn kính, thờ lạy tính duy nhất bất khả phân li …, được kính tôn, thờ lạy Thiên Chúa Ba Ngôi bất khả phân ly khi hát ca Đức Maria luôn khiết trinh (tức là Hội thánh), hát ca con của Mẹ và của Hôn phu vô nhiễm vết tỳ của mẹ”.
* * *

Ở Canađa : Ngày 5.8
CHÂN PHƯỚC FRÉDÉRIC JANSSOONE
Linh mục (1838-1916)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Frédéric Janssoone sinh năm 1838 tại Ghyvelde, miền Bắc Pháp. Cái chết sớm của ông bố lúc Frédéric mới chín tuổi, đã đẩy gia đình vào cảnh túng quẫn. Frédéric đành bỏ học để đi làm, nhưng năm 1864, sau khi mẹ qua đời, cậu vào tu dòng Phan sinh tại Amiens.

Thụ phong linh mục năm 1870, ngài lần lượt làm tuyên úy quân đội, bề trên tại Bordeaux, bề trên hạt dòng Đất thánh, tuyên uý tại Le Caire … từ 1878 đến 1888, ngài là hướng dẫn viên cho các đoàn hành hương tại các Nơi thánh tái lập việc đi đàng thánh giá ở Jérusalem và nhất là cộng tác hợp thức hóa các tập quán trong việc sử dụng và bảo tồn đền thánh tại Bethléem và Mồ thánh

Năm 1888, Cha Frédéric định cư hẳn ở Canada. Được đón tiếp tại Trois-Rivières cha đóng vai quan trọng trong việc phát động và thực hiện ba cuộc hành hương lớn ở Canada. Cha thực sự là một nhà cổ vỏ nhiệt thành việc hành hương đền thánh nữ Anna ở Beaupré, và cũng được xem là đồng sáng lập và phát ngôn viên của nhà Notre-Dame-du-Cap. Sau cùng cha yểm trợ mạnh mẽ cho vị sáng lập nhà thứ ba : Nguyện đường thánh Giuse ở Montréal, công trình của sư huynh chân phước Anđrê.

Hoạt động tông đồ của cha Frédéric cực kỳ đa dạng : Lập dòng ba Phan sinh, thiết lập các đàng Thánh giá, tổ chức các đại hội, các cuộc hành hương, biên tập và phổ biến một loạt xuất bản quan trọng … từng là nhân viên lữ hành, ngài đi chổ này sang chổ khác, không ngại rao bán các tác phẩm của mình.

Ngày 4 tháng 8 năm 1916, cha Frédéric Janssoone qua đời tại Montréal, thọ sáu mươi tám tuổi. Được an táng tại Trois-Rivières, Ngài được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước tại Roma ngày 25 tháng 9 năm 1988. Nhiều bệnh tật được chửa lành do lời cầu bầu của Ngài cả trước và sau ngày Ngài qua đời.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện mở đầu nhắc lại các công phúc của chân phước Frédéric, người đã sống ở Đất thánh theo các vết chân Con Thiên Chúa và đã giúp cho “các tín hữu hiểu rõ hơn những bí nhiệm trong cuộc sống của Chúa”. Lòng mộ mến Sự Thương khó Chúa đã thúc giục Ngài tái lập việc đi đàng Thánh giá trên chính nẻo đường ở Jérusalem, và nhất là Ngài đã nhiệt tình lo việc đổi mới các đoàn hành hưong đến Đất thánh.

Điệp ca mở đầu nhắc lại cuộc đời tông đồ của Đấng chân phước, đã từng là tông đồ Chúa Kitô trên ba lục địa : “Đẹp biết bao bước chân người sứ giả loan báo hòa bình trên các núi đồi, người sứ giả Tin Mừng đi báo tin cứu rỗi” (Is 52,7). Bài phúc âm cũng vậy : “Chúa sai họ đi tuyên bố nước Thiên Chúa và chữa bệnh tật … Họ lên đường, đi làng này sang làng khác, loan báo Tin Mùng và chữa lành bệnh tật khắp nơi” (Lc 9,1-6).

Với nền giáo dục nhân bản, tài khéo léo giao tiếp, khả năng quan sát thấu đáo và lòng nhiệt tình kể chuyện cha Frédéric đã thực sự là người khởi xướng một phong trào đổi mới tin thần rộng lớn chủ yếu dựa trên việc suy niệm sự thương khó Chúa.

Bài đọc thứ nhất trong thánh lễ nhắc lại : Chúng ta loan truyền một Đấng Mêssia chịu đóng đinh.
Rũ bỏ tất cả, chân phước Frédéric Janssoone chỉ có một tham vọng : “Lạy Chúa xin Chúa làm cho con biết đưa những ai tới gần con được lại gần Chúa”. Vậy nên giáo dân Canada cảm động trước lòng tốt của Ngài, thường gọi Ngài là “Cha Frédéric tốt lành”, hoặc thậm chí còn gọi là “Cha thánh Frédéric ”.

Ngày 7.8
THÁNH SIXTE II
Giáo hoàng và các bạn, tử đạo (258)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ :

Có hai tài liệu làm chứng về cuộc tử đạo của Đức Sixte II, giáo hoàng từ năm 257 đến 258, bị trảm quyết ngày 6 tháng 8 năm 258. Thánh Cyprien trong một bức thư gửi cho Đức giám mục Successus năm 258 (xem phụng vụ bài đọc) cho chúng ta biết rằng “Đức Xít-tô đã bị hành quyết trong một nghĩa trang ngày 6 tháng 8, có bốn phó tế cùng bị hành quyết với Người”. Cũng thế, quyển Depositio martyrum năm 354 cử hành ngày 6 tháng 8 mừng kỷ niệm Thánh Sixte tại nghĩa trang Calliste, cùng với hai vị tử đạo khác, tên Agapit và Félicissimc là phó tế của Đức Sixte tại nghĩa trang Prétextat. Vậy là Đức giáo hoàng đã bị hành quyết cùng với toàn nhóm phó tế chung quanh Người, vì mấy ngày sau, phó tế Laurent cũng bị xử tử.

Việc tôn kính thánh Sixte đã có từ lâu, ngôi nhà nguyện đầu tiên xây trên mộ hành của ngài ở hang toại đạo chứng minh điều đó. Còn bên trong thành phố Roma tước hiệu nhà thờ thánh nữ Crescentienne (xây cất chậm nhất là thế kỷ thứ IV), vào thế kỷ thứ VI đã được ghi dưới tên thánh Sixte và trong chính ngôi nhà thờ này trên con đường Latina, hài cốt của Ngài đã được chuyển về đây vào thế kỷ thứ IX. Thế kỷ V, trong danh sách các vị tử đạo và các vị tuyên xưng đạo an táng nơi hầm mộ các giáo hoàng tại nghĩa địa Calliste, đã thấy khắc trên đá cẩm thạch dòng chữ này : “Vị trước tiên là thánh Sixte đã chết làm một với Agapit, Félicissime và mười một vị khác”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày, lấy từ Sách lễ Paris năm 1738, cầu xin Chúa là Đấng “đã ban cho Thánh Sixte và các bạn ơn hy sinh mạng sống để được trung thành với lời Chúa và để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô”.

Đức giáo hoàng Damase, có lòng mộ mến đặc biệt đối với thánh Sixte, đã có một câu bi ký nổi tiếng khi nhắc đến tên thánh Sixte trong số các thánh rằng thánh Sixte và các bạn “mang các chiến tích của kẻ thù”. Một mảnh bi ký còn lưu lại mô tả cái chết của thánh nhân như sau : “vào lúc lưỡi gươm đâm tạc cõi lòng thánh thiêng của (Giáo hội) mẹ chúng ta, tôi (Sixte) người chủ chăn chôn tại đây, tôi đã dạy bảo những lệnh truyền của trời cao. Người ta đã bắt ngờ đột nhập, khi tôi đang ngồi ở ghế, họ túm lấy tôi, bọn lính đã được người ta sai đến, còn dân chúng thì giơ cổ cho họ chém. Nhưng ông lão là người đầu tiên đưa đầu ra để cơn thịnh nộ không kìm chế của kẻ thù không gây thương tích cho ai khác. Đức Kitô, Đấng ban cuộc sống vĩnh cửu làm phần thưởng, bày tỏ công phúc của người chủ chăn và đang vác đàn chiên trên lưng của người”

Những lời trên đây cho ta hiểu rõ hơn dây liên kết giữa việc tử đạo để làm chứng và lòng trung thành với Phúc âm mà chúng ta cũng có bổn phận biết dấn thân trong cuộc đời chúng ta. Vì thế Thánh Cyprien đã biên thư cho Đức giám mục Successus về vấn đề các nạn nhân của cuộc bách hại do Valérien như thế này : “ Tôi xin Đức cha cũng thông báo các tin tức này cho các anh em khác trong hàng giám mục của chúng ta, để bất cứ nơi nào anh em cũng được mạnh mẽ nhờ những khích lệ đó và chuẩn bị tinh thần cho cuộc chiến ; ước gì mỗi người chúng ta nghĩ đến cái chết hơn là việc trường sinh bất tử”. Thánh Sixte mà tác giả Ponce viết tiểu sử của Ngài, gọi Ngài là linh mục “Tốt lành và an hòa”, mãi mãi là gương mẫu cho mọi chủ chăn sẵn sàng dâng hiến cuộc sống cho đàn chiên của mình. Sự liên đới của các thầy phó tế chịu tử đạo hiến dâng mạng sống cùng với Đức giáo hoàng Sixte là dấu hiệu của tình hiệp nhất có để nối kết các thừa tác viên trong Giáo hội với chủ chăn của mình.

* * *

 

Ngày 7.8
THÁNH GAÉTAN
Linh mục (1480-1547)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Gaétan qua đời tại Naples ngày 7 tháng 8 năm 1547 và được phong thánh năm 1671. Thánh nhân sống giữa thời kỳ nóng bỏng cuộc Cải Cách Tin Lành và cuộc Canh Tân của công giáo.

Thánh Gaétan sinh tại Vicence (nước Ý) thuộc gia đình các bá tước dòng họ Thienne. Cuộc khám phá châu Mỹ xảy ra khi Gaétan lên mười hai tuổi. Sau khi đậu tiến sỹ ở Padoua năm 1506, Ngài được triệu đến Roma, phục vụ Đức giáo hoàng Jules II trong tư cách thư ký riêng. Thụ phong linh mục năm 1516, cha Gaétan ở lại Roma mười ba năm, nhờ đó Cha hiểu rỏ những vẻ bề ngoài huy hoàng và những cực khổ trong triều Đức Giáo Hoàng Léo V. Ngài rất cảm kích trước những tuyên bố của công đồng chung thứ năm tại Latran ước ao có một cuộc cải cách tận căn và đều khắp Giáo hội.

Năm 1517, thánh Gaétan cùng với người bạn thân Jean Pierre Caraffa tức Đức Phaolô IV sau này, thành lập tại Rôma một tu hội đã được thánh nữ Catherine đặt nền móng hai mươi năm trước tại Gênes và đặt tên là Hội Tu tình yêu Thiên Chúa. Năm 1523, cùng với ông bạn Caraffa, Ngài lập một Hội dòng gồm các giáo sỹ dòng nhằm đáp ứng các nhu cầu của Giáo hội. Thành viên Hội dòng giữ ba lời khấn thông thường và chuyên về giảng thuyết cũng như phụng vụ thánh. Các tu sĩ được gọi là Théatins theo tên thành phố Chieti (Théate) miền Abruzzes nơi có Đức giám mục Jean Pierre Caraffa đang cai quản địa phận. Đức Cha Caraffa sẽ là bề trên tổng quyền đầu tiên của dòng, trước khi làm hồng y tổng giám mục Naples (1536) và giáo hoàng (1555).

Năm 1527, dòng tu non trẻ chịu nhiều thử thách trong thời kỳ Roma bị vây hãm, thánh Gaétan phải trốn sang Venise. Năm 1533, ngài được bầu làm bề trên ở Naples, và năm 1536 ở Venise. Trở lại Naples năm 1543 và qua đời tại đây, thọ sáu mươi bảy tuổi, sau khi kiệt sức lực phục vụ hội dòng và đem lại bình an trong thành phố Naples. DI hài người an nghỉ trong nhà thờ Thánh Phaolô-cả.

2. Thông điệp và tính thời sự

Chúa đã soi sáng thánh Gaétan “sống như các tông đồ” (Lời nguyện trong ngày). Việc trở về với Phúc âm này bằng một đời sống giống như các cộng đoàn tông đồ tiên khởi
(Cv 2,41-47 ; 4,32.35) khác với cách các dòng khất thực chú trọng nhiều hơn đến việc sai Nhóm mười hai đi truyền giáo (Mt 10,7-15).

Phong cách sống của các tu sỹ Théatins bao gồm một quyết tâm tu đức cao độ qua việc thực thi khó nghèo tận căn cho mình nhưng hào phóng đối với các hoạt động tông đồ. Hội dòng đã đáp ứng được các nhu cầu của thời đại, vì các tu sỹ sống một đời sống chung giống như các dòng tu đích thực, thực hành sự khó nghèo tuyệt đối như các dòng khất thực, còn hoạt động tông đồ trong đời sống linh mục của họ trải ra nhiều lãnh vực nhằm lôi kéo giới linh mục triều. Đây cũng là kết quả của kinh nghiệm có được ở nhiều thành phố do các nhóm Tình Yêu Thiên chúa, những tu hội đôi gồm các giáo dân ước vọng mang lại một luồng gió mới trong Giáo Hội qua việc tham dự sốt sắng các Bí tích và thi hành bác ái với người nghèo.

Tên Hội dòng Chúa Quan phòng để gọi dòng Théatins nói lên lòng tin tưởng tuyệt đối của Thánh Gáetan vào sự Quan Phòng của Chúa. Tinh thần là câu nói trong Phúc âm : “Các con hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính, mọi cái khác sẽ ban cho các con dư thừa” (Mt 6,33). Qua lời cầu nguyện trong ngày chúng ta cầu xin Chúa cho ta luôn tin tưởng nơi Người theo gương Thánh Gaétan.

Phụng vụ bài đọc trưng một lá thư thánh Gaétan gửi Élisabeth Porto. Thánh nhân thúc giục bà tin tưởng : “Cho dầu tất cả các thánh và mọi tạo vật bỏ rơi chị, thì Người (Chúa) sẽ luôn ở cạnh chị trong các nhu cầu”. Chính lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa đã gợi ý cho Người chọn sống khó nghèo cho mình và cho dòng tu của mình : “Tôi nhìn thấy Đức Kitô nghèo … Tôi muốn bước một bước đến với Người”. Bước chân đến với Chúa đó cũng là bước đến với người nghèo, người bệnh giống như Ngài đã chứng minh trong một trận dịch hạch ở Naples chẳng hạn.
Nên biết rằng mô hình sống tận hiến này (đã nhanh chóng được Đức Giáo Hoàng Clément VII chuẩn nhận) sẽ là gương cho những nhà cải cách lớn ở thế kỷ thứ XVI như các thánh Jérôme Emilien, Camille de Lellis et Ignace de Loyola.

Tại Bỉ : Ngày 7.8
THÁNH NỮ JULIENNE DU MONT – CORNILLON, Đồng trinh (1191 hoặc 1192-1258).
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Tiểu sử thánh nữ Julienne đã được một giáo sỹ ở Liège viết, dựa vào các chứng liệu do nữ chân phước Ève de Saint-Matin, bạn thân và là người tâm phúc của thánh nữ Julienne cung cấp.

Julienne sinh tại Rétines, gần Liège nước Bỉ vào khoảng năm 1191. Mồ côi từ nhỏ, Julienne được giao cho các nữ tu dòng Augustine tại Núi Cordillon, nhờ thế Julienne được đào tạo sâu xa và khấn dòng năm 1207. Nhận được nhiều thị kiến siêu nhiên, chị vận động cho một thánh lễ đặc biệt kính thờ Thánh thể. Vào khoảng năm 1225, chị đề cập vấn đề này với người bạn tâm phúc là Ève de Saint-Martin và nhiều người khác, trong đó có linh mục Jean de Cornillon sẵn sàng giúp chị chuẩn bị một bộ thần vụ cho lễ kính Thánh Thể. Bốn năm sau, Đức giám mục Robert de Tarote thiết lập và cho cử hành lễ này tại Liège. Nhưng thánh nữ gặp nhiều chống đối dữ dội, nên đã lui về Fosses và sống tại đây cho đến khi qua đời (5-4-1258). Di hài thánh nữ được an táng tại tu viện Xi-tô ở Villers.
Thánh nữ Julienne qua đời trưóc khi thấy công trình đạt đích. Quả thế, chỉ sáu năm sau, Đức giáo hoàng Urbain IV cho phép cử hành lễ kính Mình Thánh trên khắp Giáo hội phương Tây.

2. Thông điệp và tính thời sự

Qua lời nguyện riêng, chúng ta xin Chúa đã đặr “vào lòng thánh nữ Julienne một lòng nhiệt thành lạ lùng trong việc cổ võ tình yêu Thánh Thể”, cũng cho chúng ta “ngày sau trên trời được diện kiến chiêm ngưỡng Đấng chúng ta thờ lạy ở trần gian dưới bức màn Thánh Thể là Đức Giêsu Kitô”.

Lòng nhiệt thành của thánh nữ trong việc khơi dậy “tình yêu Thánh Thể” đã góp phần tạo nên trong Giáo hội một phong trào rộng lớn cho tới nay vẫn mang nhiều kết quả, đó là việc tôn thờ Thánh Thể, siêng năng rước lễ và một sự hiểu biết hơn về ơn ích của Thánh Thể là bác ái, chia sẻ, ý thức về Giáo hội nhiệm thể Đức Kitô.

Việc tôn thờ Thánh Thể giúp chúng ta khám phá ân sủng mà Đức Giêsu qua sự hiện diện thật sự mang lại cho thế giới và cho cuộc đời chúng ta. Chúng ta có thể cầu nguyện rằng : “Đến dự bàn tiệc một mầu nhiệm lớn lao thế này, chúng con được thấm đẫm ân huệ của Chúa và đã nếm trước cuộc sống Nước trời” (kinh Tiền Tụng lễ Thánh Thể).
Cũng thật ích lợi nếu chúng ta suy niệm vài đoạn trong ca vãn Pange lingua do thánh Thomas Aquinô sáng tác cũng trong thế kỷ XIII này và được sử dụng trong lễ Kính Mình-Máu Thánh Chúa : “Nầy là bánh các thiên thâm / Nay thành bánh người lữ khách, bánh thật cho con cái Chúa … / Ôi chủ chăn tốt lành, bánh thật của chúng con, ôi lạy Chúa Giêsu, / xin thương chúng con, / xin nuôi dưỡng và bảo vệ chúng con, / xin cho chúng con thấy được những của muôn đời,/ nơi vùng đất của những kẻ sống”.
* * *

Ngày 8.8
THÁNH DOMINIQUE (ĐA MINH)
Linh mục (khoảng 1170-1221)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ thánh Đa-minh được cử hành hai ngày sau ngày Ngài qua đời (6 tháng 8 năm 1221) ở Bologne. Ngài được Đức Grégoire IV phong thánh năm 1234.

Dominique de Guzman sinh tại Caleruega gần Burgos, Tây Ban Nha, vào khoảng năm 1170. Mẹ Người là chân phước Jeanne dAza. Sau khi học xong trường kinh sĩ ở Palencia, Dominique nhận chức thành viên kinh sĩ hội ở Osma. Năm hai mươi bốn tuổi, Dominique theo Đức giám mục Diego de Azevedo sang Rôma, nhưng Đức giáo hoàng Innocent III sai người sang miền Nam nước Pháp lúc đó đang bị các lạc giáo Albigeoir và Cathare gây rối. Tại đây Ngài tổ chức một đoàn truyền giáo, và trong nơi trú ngụ của mình tại Prouille, gần Toulouse, Ngài thành lập một tu viện nữ theo luật dòng thánh Augustin để các chị trợ giúp công việc truyền giáo. Cũng tại đây, năm 1215, gần nhà thờ Saint-Romain ở Toulouse, đã xuất hiện hạt nhân đầu tiên của cộng đoàn tu sĩ thuyết giáo, theo luật dòng thánh Augustin. Các tu sỹ đặc biệt chú trọng lời khấn khó nghèo và việc giảng thuyết, sau một thời gian chuẩn bị nghiêm túc về mặt trí thức. Đức Giáo Hoàng Honorius III chấp thuận dòng mới năm 1216.

Dòng thuyết giáo (hay còn gọi là dòng Đa minh) trước tiên phát triển tại các thành phố đại học như Paris, Roma và Bologne. Cũng tại Bologne này đã có cuộc tổng hội đầu tiên của dòng năm 1220-1221. Nhưng hao tổn do một cuộc sống căng thẳng lao động và đền tội, thánh Đa minh đã qua đời lúc mới năm mươi mốt tuổi, chỉ năm năm sau khi Dòng của ngài được chuẩn nhận. Di hài Người an nghỉ tại Bologne, trong đại thánh đường Saint-Nicôlas-des Vignes. Nữ chân phước Cécile dAndalo, nữ tu Đa minh, tả về con người của thánh Đa minh : “Thánh nhân tầm thước trung bình, mình hơi dẹp, mắt đẹp, tay đẹp và dài, tiếng nói rổn rảng. Vành tóc của Người thật hoàn hảo, thỉnh thoảng có điểm sợi bạc. Nét mặt người lúc nào cũng tươi cười, vui vẻ, trừ khi bị xúc động trước nổi khổ nào đó của tha nhân”.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện trong ngày gọi thánh Đa minh là “Nhà giảng thuyết siêu việt của chân lí”. Ngài bắt đầu sứ mệnh tại Languedoc bằng một cách sống nghèo, đi bộ, không tiền bạc, giống như các tông đồ xưa. Trong mười năm, Ngài hoàn toàn việc “ giảng thuyết thánh”, nghĩa là loan báo phúc âm và làm chứng bằng nếp sống nghèo của phúc âm. Dòng của Ngài đã có công đem tin mừng đến khắp các thành phố lớn bằng lời giảng thuyết và các trường đại học qua việc giảng huấn. Các trách nhiệm quản trị trong Dòng được trao phó qua việc bỏ phiếu bầu chọn với nhiệm kỳ ngắn hạn.

b. Lời nguyện trên lễ vật nhắc tới “những người chiến đấu cho đức tin”. Quả thế, thời nào cũng vậy, cũng có những sai lầm mà Kitô hữu được kêu gọi phải chiến đấu ; khí giới chiến đấu cũng chính là những thứ thánh Đa minh sử dụng xưa là lấy sự tinh truyền của phúc âm chống lại lạc giáo, lấy tự nguyện nghèo khó chống lại của cảic. Lời nguyện tạ lễ cầu xin Chúa cho Giáo hội “được nâng đỡ nhờ lời cầu nguyện của đấng đã soi chiếu Giáo hội bằng lời giảng của mình”. Phụng vụ bài đọc trích dẫn một đoạn trong bản phong thánh cho thánh nhân, theo đó Ngài “chỉ nói với Chúa trong khi suy niệm, hoặc nói về Chúa, và Ngài thúc giục các tu sỹ của mình cũng làm như thế”. Lòng mộ mến việc suy niệm đó bắt nguồn từ tình yêu và việc học tập Kinh thánh : “Ngài luôn mang theo mình cuốn Phúc âm thánh Matthêu và các thư của thánh Phaolô, và ngài siêng năng nghiên cứu đến nỗi thuộc lòng những sách đó” (Phụng vụ bài đọc).

Họa si Fra Angelico đã vẽ thánh Đa minh với một ngôi sao chiếu phía trên đầu. Anh sáng của ngôi sao ban đầu hiểu là hình ảnh sự thánh thiện của đấng sáng lập dòng Đa minh, người mà Đức giáo hoàng Grégoire IV nói : “Tôi biết cha Đa minh là một người hoàn toàn tuân thủ qui luật các thánh tông đồ”. Nhưng ngôi sao đó cũng chính là hình ảnh ánh sáng lớn mà thánh Đa minh cùng các đệ tử đã chiếu giải lên thế giới qua các thế kỷ, bởi vì Dòng Thuyết giáo đã đem lại cho Giáo hội những vị thánh lớn, như thánh Albert Cả và Thomas Aquinô. Ngài cũng còn được trình bày với cổ chuỗi trên tay để nhắc nhớ lòng sùng kính của ngài với chuỗi Mân Côi mà Ngài thường giải thích các mầu nhiệm trong khi thuyết giảng.

* * *

Ngày 10.8
THÁNH LAURENT (LÔ-REN-XÔ)
phó tế tử đạo (+ khoảng 258)
Lễ kính

1. lịch sử – phụng vụ

Theo Depositio Martyrum trong lịch thánh Jérôme, thánh Lôrensô đã tử đạo tại Rôma, trên đường Tiburtina ngày 10 tháng 8 năm 258, bốn ngày sau các phó tế khác bị xử tử cùng với Đức giáo hoàng Sixte II, lễ kính ngày 7 tháng 8 (xem Cyprien, Ep 80). Từ thế kỷ thứ IV, người ta đã mừng lễ kính Ngài với một đêm canh thức trọng thể và từ Roma, việc tôn kính Ngài đã lan khắp Giáo hội rất sớm. Các thánh Ambroise ở Milan, Augustin ở Châu Phi và Maxime ở Turin đều có lưu lại những bài giảng về lễ kính thánh nhân. Và sau thánh Ambroise, thánh Prudence cũng kể lại cuộc tử đạo của thánh nhân (công vụ của Polychrone và các bạn, khoảng năm 550). Mặc dầu nhiều chi tiết trong cuộc khổ nạn đó mang tính huyền thoại, nhưng lại là nguồn gốc cho các điệp ca trong thần vụ. Thánh Ambroise khi kể lại cuộc tử nạn đó một thế kỷ sau nói rằng thánh Laurent bị thiêu trên một giàn sắt. Xác Ngài được an táng trên đường Tiburtina, nửa thế kỷ sau, hoàng đế Constantin cho xây một thánh đưòng trên mộ Ngài : Đây chính là đại giáo đường thánh Laurent ngoại thành, một trong bảy nhà thờ lớn ở Roma, và là nhà thờ chính trong tám nhà thờ của thành phố Rôma dâng kính thánh nhân.

2. Thông điệp và tính thời sự

Các lời nguyện thánh lễ cũng như các bản văn khác trong phụng vụ Giờ kinh tô điểm hình ảnh phó tế Lôrensô, vị tử đạo nổi tiếng nhất của Giáo hội Rôma.

Lời nguyện trong ngày nhắc lại lòng bác ái nồng nhiệt của vị thánh phó tế luôn trung thành với việc phục vụ đến nổi được vinh quang tử đạo, như lời thánh Augustin đã mô tả rất xác đáng : “Anh em biết đấy, trong Giáo hội ở Rôma, Ngài thi hành chức năng phó tế. Chính tại đây Ngài trình bày về Máu thánh Đức Kitô, và chính tại đây Ngài đổ Máu mình vì thánh danh Đức Kitô” (phụng vụ bài đọc : bài giảng của thánh Augustin)

Chuyện về các hành vi trong cuộc khổ nạn của thánh Laurent kể rằng thánh nhân bị bắt vì không tuân luật thếu quan buộc nộp các tài sản Giáo hội cho chính quyền hoàng đế. Sau khi xin khất lại, Ngài tập hợp những người nghèo khó, ốm đau lại và hai ngày sau, Ngài đưa họ đến trước mặt quan quyền và thưa : “Đây là tài sản của Giáo hội !”. Thánh nhân liền bị bắt và tra khảo nhiều lần. Ngài đã trả lời các lý hình : “Tôi tôn thờ Thiên Chúa của tôi, tôi chỉ phụng sự một mình Chúa, nên tôi đâu sợ cái tra khảo của các ông”. Bị đặt trên một vỉ sắt dưới để than cháy, Ngài còn quay lại phía lý hình, đùa : “Anh trở tôi được rồi đấy, bên này chín rồi”. Đức giáo hoàng Damase cho khắc trên mộ ngài : “đòn roi, lý hình, lửa thiêu, hình khổ, xích xiềng, tất cả điều thua đức tin của Lôrensô”.

Niềm tin và lòng bác ái của thánh Laurent cũng như đức can đảm anh hùng của Ngài qua nhiều thế kỷ là nguồn cảm hứng cho lời cầu nguyện của Giáo hội, lòng đạo đức của giáo dân, rất nhiều tranh ảnh, thậm chí cả kiến trúc … quả thế, Philippe II, để thực hiện lời hứa với thánh Lôrensô, đã xây Escorial trong tỉnh Madrid, theo dạng thiết kế một giàn sắt nhắc nhớ dụng cụ tra tấn thánh phó tế Lôrensô xưa. Còn thánh Bênado thế kỷ XII thì dâng tu viện Thoronet vùng Var để kính thánh nhân. Thánh Lôrensô được nhắc tới trong lời nguyện Thánh Thể và có tên trong kinh cầu các thánh.

* * *

Ngày 11.8
THÁNH NỮ CLAIRE (CLARA),
Đồng trinh (1193-1253)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh nữ Clara qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 tại Saint-Damien và được Đức giáo hoàng Alexandre IV phong thánh hai năm sau. Ngày lễ thánh nữ đưa ta lên tới cội nguồn dòng Phan sinh và giúp ta hiểu được lý tưởng của Poverello (Anh Nghèo, thánh Phanxicô) mà thánh nữ đã thể hiện một cách tuyệt diệu. Chính thánh nữ thường cũng đã tự gọi mình là “cây bé nhỏ do Phanxicô trồng” .

Clara sinh tại Assise khoảng năm 1193, con gái hiệp sĩ Favarone và phu nhân Ortolana. Hồi còn là thiếu nữ, Clara đã gặp gỡ cha linh hồn nhiều lần. Năm 1208 Phanxicô trở lại và trở thành “người điên có lời nói rực lửa và những việc làm siêu nhân”. Đêm lễ lá năm 1212, sau khi tham dự thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa và nhận cành lá từ tay Đức giám mục, cùng với người em họ là Philippa, Clara trốn khỏi nhà, đến với thánh Phanxicô tại Sainte Marie-des-Anges, ngôi nhà thờ bé nhỏ thánh nhân vừa sửa chữa lại. Chính tại đây Poverello cắt tóc cho Clara, đội cho một chiếc lúp và mặc một cái áo vải thô để đánh dấu việc trút bỏ trần gian và tận hiến cho Đức Kitô. Thánh Phanxicô tìm cho Clara một chỗ tạm lánh thân, trước hết là ở nhà dòng các bà Biển Đức. Tại đây em gái của Clara là Agnes cũng đến theo chị. Sau nhà dòng các bà Biển Đức là một căn nhà cũ gần nhà thờ Saint-Damien cạnh cổng thành Assise. Đây là nơi khai sinh Dòng các nữ tu nghèo hay nữ tu Clara, cũng còn gọi là Dòng Hai Phan sinh. Trong bốn mươi ba năm tu dòng ở Saint-Damien, trong đó hai mươi chín năm bệnh tật đau đớn, Clara đã thực hiện trọn vẹn ơn gọi theo lý tưởng thánh Phanxicô qui định thành một “công thức sống” do Poverello thành Assise và được Đức Giáo Hoàng Innocent IV phê chuẩn. Ngày 5 tháng 10 năm 1226, tại Saint-Damien, Clara chào từ biệt lần cuối thi hài thánh Phanxicô. Trước đó Poverello lúc ấy đã rất đau yếu đã được đón về và săn sóc ở một căn lều dành riêng trong khu vườn nhà dòng suốt mùa thu năm trước.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày nhấn mạnh đến “tình yêu khó nghèo” của thánh nữ Clara. Không một đệ tử nào của thánh Phanxicô đã sống sự khó nghèo phúc âm một cách triệt để và nhiệt thành như thánh nữ. Trong khoảng thời gian 1247 đến 1252, thánh nữ đã vạch ra một bản luật rất nhặt nhiệm cho dòng mình được Đức Giáo Hoàng Innocent III chấp thuận cho “đặc ân không có đặc ân”, nghĩa là khó nghèo tuyệt đối. Đức Giáo Hoàng Innocent IV khẳng định “đặc ân” ấy bằng một sắc chỉ, được trao cho thánh nữ hai ngày trước hôm thánh nữ qua đời.

Phụng vụ bài đọc trích một phần bức thư thánh nữ gửi chân phước Agnès ở Pragué trong đó thánh nữ đề cao “sự khó nghèo phước hạnh và đức khiêm hạ thánh thiện”. Mỗi ngày hãy nhìm ngắm bức gương đó (hình ảnh Đức Kitô), nơi “rực rỡ sự khó nghèo phước hạnh, đức khiêm tốn thánh thiện, lòng bác ái không thể diễn tả nổi …”. Nơi thánh Clara, lòng bác ái đó cũng trở thành tình thắm thiết như thấy trong lời chúc của thánh nữ : “chị Clara, môn đệ của Chúa Kitô, là cây nhỏ do thánh Phanxicô trồng, người chị, cùng là mẹ của em cũng như của các chị em nữ tu nghèo khác mặc dầu chị bất xứng … chị chúc lành cho em khi còn sống cũng như sau khi chị qua đời hết sức có thể và cả hơn sức có thể”. Tương tự như thế, những lời Bà nói với linh hồn mình lúc gần chết chứng tỏ sự thắm thiết đó : “Hãy yên tâm tiến bước, vì em đã đi đúng đường tin tưởng mà bước tới, bởi vì Chúa tạo hóa đã thánh hiến em, gìn giữ em không ngơi, đã yêu thương em với tất cả sự dịu dàng của một bà mẹ đối với con mình. Ôi lạy Chúa, con ca ngợi Chúa vì Ngài đã dựng nên con!”

Người phụ nữ nghiêm nhặt, mạnh mẽ nhưng dịu dàng đó cũng là gương mẫu can đảm. Người ta kể lại rằng thánh nữ đã hai lần đứng ra xua đuổi người Sarrasins lúc họ đang tìm cách đột nhập nhà dòng ở Saint-Damien

* * *

 

Ngày 13.8
THÁNH PONTIEN GIÁO HOÀNG
VÀ THÁNH HIPPOLYTE LINH MỤC
tử đạo (+ khoảng 235)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Chúng ta mừng hai thánh tử đạo này vào 13 tháng tám là ngày kỷ niệm di chuyển hài cốt các ngài về Roma. Theo cuốn Depositio Matyrien năm 354 và theo lịch Philocalien hai thánh Hippolyte được an táng tại nghĩa trang trên đường Tiburtina, còn hài cốt thánh Pontien tại nghĩa trang Calliste. Hai vị tử đạo này đã bị đày qua Sardaigne vào khoảng năm 235 bị buộc lao động trong các hầm mỏ và chết vì kiệt sức tại đây.

Theo các yếu tố lịch sử, cần phân biệt thánh Hippolyte tử đạo người Roma với hai nhân vật khác : một là giám mục, nhà văn phương Đông trú ngụ tại Roma, một nữa là nhà văn lạc giáo tác giả bộ Philosophoumena và một số tác phẩm khác khăc dưới đế tượng Hippolyte ở thư viện Vatican những gì Đức giáo hoàng Damase cho khắc kính thánh Hippolyte được tôn kính ở đương Tiburtina cho thấy truyền thống cũng đã cho thấy điểm không chắc về điều này : “Khi các lệnh của bạo vương đổ ập xuống thì (Hi-pô-li-tô) là linh mục và vẫn trung thành với lạc giáo Novatien. Vào lúc lưỡi gươm đang xé nát lòng của mẹ (Giáo hội), thì, vì lòng trung thành với Đức Kitô ngài đã tiến bước về nơi vương quốc các thánh, dân chúng hỏi ngài phải theođường nào, Ngài bảo mọi nười đều phải tin theo đức tin công giáo. Bởi thế Ngài đã tuyên xưng đức tin, xứng đáng được tử đạo. Damase ghi lại những gì đã được nghe”. Những dòng không chắc trên có thể làm ta lẫn lộn linh mục Hippolyte với văn hào nghiêm nhặt cùng tên Hippolyte đã đứng lên chống lại Đức giáo hoàng Zéphyrin, tố cáo người quá nhân từ rộng rãi và sau đó thành giáo hoàng giả chống lại Đức Giáo Hoàng Calliste năm 217. Về sau bị đi đày và từ nơi tù đày, ông đã làm hòa với Đức giáo hoàng Pontien (235) và từ chức để cổ võ cho sự hiệp nhất của Giáo hội. Sự đồng nhất giữa vị tử đạo Hippolyte với nhà văn Hippolyte như thế là không chắc; vậy nên phụng vụ bài đọc đã chỉ chọn một lá thư của thánh Cyprien gửi các vị tử đạo và các vị tuyên xưng đạo, viết vào khoảng năm 250.

Những gì chúng ta biết về thánh Pontien cũng không rõ rệt hơn, Người kế vị Đức Giáo Hoàng Urbain I năm 230. Khi Maximin le Thrace lên ngôi hoàng đế tiếp nối Alexandre Sévère (+ 235), các cuộc bách hại lại bùng lên. Đức Giáo hoàng Pontien cùng với linh mục Hippolyte bị kết án khổ sai, nên đã từ nhiệm trước khi bị đày đi Sardaigne rồi qua đời ít lâu sau tại đó. Trong giai đoạn an bình tiếp sau, Đức giáo hoàng Fabiren đã cho di xác hai vị về Roma, an táng thánh Pontien nơi hầm mộ giáo hoàng tại nghĩa trang Calliste với lời bia đơn sơ : “Pontien giám mục”. Ở cổng vào hầm mộ, còn thấy một lời khắc khác, có thể cũng cùng thời kỳ : “Pontien đang sống trong Chúa cùng với các vị thánh giám mục khác”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày ca ngợi tình liên đới trong cuộc tử đạo hai vị tư tế của Giáo hội, một là giám mục, một là linh mục.

Thánh Cyprien phấn khởi : “Hạnh phúc thay Giáo hội chúng ta được rực sáng bởi sự kỳ diệu nơi lòng nhân lành Chúa và rạng rỡ ngay thời đại chúng ta bởi dòng máu vinh quang của các thánh tử đạo. Xưa kia Giáo hội tinh tuyền do đời sống thánh thiện của các anh em, ngày nay lại đỏ hồng vì dòng máu các vị tử đạo … Mỗi người chúng ta đều phải chiến đấu, đạt tới đỉnh cao nhất trong hai dạng vinh quang đó hầu nhận được triều thiên : triều thiên trắng cho cuộc sống hoặc triều thiên đỏ cho phúc tử đạo của mình” (phụng vụ bài đọc, thư thánh Cyprien gửi các vị tử đạo và tuyên xưng đạo).

* * *

Ngày 14.8
THÁNH MAXIMILIEN KOLBE ,
Linh mục, tử đạo (1894-1941)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ kỷ niệm thánh Maximilien qua đời ngày 14 tháng 8 năm 1941 tại Auschwitz, được phong thánh và công bố tử đạo năm 1982 do Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, nhắc ta nhớ lại những trang hải hùng nhất trong cuộc thế giới chiến tranh thứ hai và tính cách man rợ của những người quốc xã nơi các trại tập trung.

Maximilien sinh ngày 7 tháng giêng năm 1894 tại Zundska-Wola, Balan, bố mẹ đặt tên là Raymond. Năm 1907, Ngài nhập dòng Phan sinh tu viện (Conventuel), nhận tên là tu huynh Maximilien. Ngài được gửi sang học triết lý và thần học tại Roma và thụ phong linh mục năm 1918. Trở về Balan, Cha Maximilien thành lập đội Đạo binh Đức Mẹ vô nhiễm. Năm 1927 Cha thành lập hội “thành đô Đức Mẹ vô nhiễm” (Nipokalanow). Hội “Thành Đô” nhanh chóng lan rộng ở Balan và nhiều nước khác, chỉ mười năm sau đã có tới một trăm sáu mươi hai tu sỹ thừa sai sang Nhật, cha lập vườn Đức Mẹ vô nhiễm ở ngoại ô Nagasaki. Trở về Balan năm 1936, cha phải chịu đựng cuộc bách hại của Gestapo (Mật thám Đức quốc xã), họ đã biến thành đô Đức Mẹ vô nhiễm của cha thành trại tập trung. Bi bắt lần thứ hai ngày 17 tháng 2 năm 1941, cha bị nhốt vào trại Auschwitz với số tù 16.670. Tháng 7 năm đó, sau vụ một tù nhân trốn thoát, mười người bị lên án để đói đến chết. Cha Kolbe xung phong chết thay cho một người cha gia đình, nên bị giam chung với những người bị kêu án giam đói, trong một cái hầm boong ke. Người ta đã kết thúc mạng sống cha bằng một mũi chích ngày 14 tháng 8 năm 1941 lúc cha mới bốn mươi bảy tuổi. Nét mặt cha sau khi chết vẫn bình tĩnh và đẹp đẽ. Xác cha bị thiêu cháy tại lò thiêu ngay ngày hôm sau, ngày lễ Đức mẹ Mông Triệu.

2. Thông điệp và tính thời sự

Kinh nguyện trong thánh lễ nhấn mạnh đến những nét tiêu biểu của cuộc đời vị thánh chết vì bác ái này.

a. Lời nguyện trong ngày nhắc tới việc tông đồ về lòng sùng kính Đức Mẹ Maria nơi thánh Maximilien, đấng sáng lập các “thành đô Đức Mẹ vô nhiễm” với mục đích “động viên mọi nổ lực thành một phong trào bảo vệ Đức Kitô tNợt chinh phục các linh hồn, đặc các trạm tiền tiêu, cắm cờ của Người trên nhà xuất bản các báo thường kỳ, định kỳ, trên các cơ sở in ấn, trên các ăngten truyền thanh, trên các viện nghệ thuật và văn chương, các rạp hát , rạp xi nê … tắt một lời, trên khắp địa cầu”. Trong niềm phấn khởi phấn khích vì lý tưởng, cha toàn tâm toàn ý nhắm mục đích chinh phục cả thế giới cho Đức Kitô. Chính trong mục đích đó, cha đã sang truyền giáo ở Nhật Bản, đã triển khai nhiều nhà xuất bản, nhiều nhà dòng hầu trải công cuộc của mình ra khắp thế giới.

b. Lời nguyện trên lễ vật và lời nguyện tạ lễ nêu bật “ngọn lửa bác ái thiêu đốt thánh Maximilien và đã thúc đẩy Ngài hiến mạng sống vì anh em”. Các tù nhân thường gọi Ngài là “ông linh mục thân mến của chúng tôi”. Còn Ngài thì thường nói : “Ghét ghen không phải là luật sáng tạo, chỉ tình yêu mới sáng tạo”. Do tình bác ái thúc đẩy, cha đã không ngần ngại yêu cầu viên chỉ huy trại : “Tôi muốn chết thế cho người này (Francois Gajowniczed, bị chỉ định cho chết đói) vì anh ta còn có vợ con”.

Vị chứng nhân bác ái đó lúc còn ít tuổi, năm 1920, đã viết : “Tôi phải trở nên một vị thánh, thánh lớn hết sức có thể”, đã “mang lại chiến thắng bằng tình yêu và Đức tin trong một nơi được xây dựng để chối bỏ niềm tin vào Thiên Chúa và con người” (Đức Gioan Phaolô II).
* * *

Ngày 15.8
LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI
Lễ trọng

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Việc kính trọng thể Đức Maria Théotokos (Mẹ Thiên Chúa) cử hành ngày 15 tháng 8, đã được chỉ định rõ rệt trong một sách bài đọc miền Géorgien thế kỷ thứ VIII, cho thấy cùng ngày hôm đó ở Jérusalem cũng có một lễ kính Đức Mẹ tại một nhà thờ do nữ hoàng Eudoxie cho xây tại Gethsémani. Lễ Đức Mẹ An giấc (Dormitio) mà hoàng đế Maurice (+ 602) cho thực hành trong thế kỷ thứ VI khắp Đế quốc Roma, đã được cử hành ở Roma trong thế kỷ thứ VII dưới tước hiệu Đức Mẹ An nghỉ (Pausatio), cùng với một số lễ Đức Mẹ khác như Lễ Dâng con vào Đền thánh, Lễ Truyền tin, Lễ sinh nhật Đức Mẹ, còn lễ Mẹ Thiên Chúa thì cử hành ngày 1 tháng giêng. Chỉ từ thế kỷ thứ XIII, mới có tên là lễ Đức Mẹ lên Trời trong sách phụng vụ Bí tích Grégorien. Sách ghi : “Người đã chịu cảnh chết tạm thời nhưng không bị khuất phục bởi xiềng xích sự chết”. Thánh lễ đã thực sự trọng thể nhờ một cuộc kiệu đêm từ nhà thờ Saint-Adrien-au-Forum đến Đền Đức Bà Cả, một đêm canh thức, một ngày chay, đến thế kỷ thứ VIII có thêm tuần bát nhật.

Một số câu chuyện ngụy thư trong thế kỷ V và VI về bước Chuyển dịch (Transitus) của Đức Maria tìm cách giải thích cái chết của Đức Mẹ trong đó đã nói tới tư tưởng việc thân xác Người được triệu về trời. Truyền thống liên tục trong Giáo hội -mà thánh Grégoire thành Tours (+594) là người làm chứng đầu tiên, tiếp theo là các giáo phụ khác như Pseudo-Modeste ở Jérusalem (+khoảng 700)- minh nhiên khẳng định có việc đưa lên trời của Đức Mẹ. Trong khi một tác giả tên là Timothée linh mục ở Jérusalem (thế kỷ VI-VII) cho rằng “cho đến bây giờ Đức trinh nữ vẫn là bất tử (nghĩa là không chết)”, ý kiến của hầu hết các Giáo phụ, cũng như phụng vụ và truyền giáo điều công nhận cái chết của Người.

Việc khắp nơi tin tưởng Đức Maria được gọi về trời càng được khẳng định do việc hàng giám mục công giáo trả lời Đức Piô VII năm 1946. Quả thế, Đức giáo hoàng, sau khi gữi một bức thư hỏi ý kiến tất cả các Giám Mục trên thế giới xem có thể công bố thành tín điều việc thân xác Đức Maria được đưa về trời, và nhận được câu trả lời khẳng định của hầu như tất cả các vị, ngày 1 tháng 11 năm 1950, qua Hiến chế Munificentissimus Deus Đức Giáo hoàng đã công bố chân lý đức tin sau đây : “Đức Maria vô nhiễm trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau cuộc sống trần gian, đã được cất nhấc cả hồn và xác về vinh quang trên trời”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện lễ vọng, lấy từ Sách các phép Giáo hoàng thế kỷ VIII (của Đức Grégoire) nhấn mạnh dây liên đới giữa việc Đức Mẹ được triệu về trời với tính cách Mẹ Thiên Chúa của Người :
“Chúa đã ban cho Người ân phúc và vinh dự được làm mẹ con Một Chúa và đã ban triều thiêng vinh hiển không ai sánh bằng Người trong ngày hôm nay …”. Trong ngày đại lễ, chúng ta thấy ba tư tưởng chính xoay quanh hai chiều kích vừa cá nhân vừa giáo hội của biến cố này.

a. Lời nguyện trong ngày đặt tương quan giữa việc Đức Maria được triệu về trời với ơn vô nhiễm nguyên tội và ơn làm mẹ Thiên Chúa. Một trong các nền tảng của tín điều là lời tiên báo cuộc chiến thắng của Người phụ nữ trên con rắn (St 3,15), và ba điều chúc dữ, trong đó có cái chết (xem 1Co 15,55). Hơn thế nữa : trong phúc âm Luca, Đấng Đầy ân phúc (1,28) được bà Elisabeth chào là Người được phúc lành duy nhất (1,42) chứng tỏ Đức Maria đã không bị ảnh hưởng của lời chúc dữ bởi sách Sáng Thế 3,19, nhưng gắn liền với phúc lành Con của Người.

b. Kinh tiền tụng, lấy tinh thần từ Hiến chế Lumen Gentium của Công đồng Vatican II (số 68) gọi Đức Maria là “hình ảnh trọn vẹn của Giáo hội mai sau” và tung hô “(Lạy Chúa), Chúa đã giữ gìn khỏi hư nát thân xác của Đấng từng cưu mang Con Một Chúa và sinh ra Đấng tạo nên cuộc sống …” Trong ngày này khi mừng việc Đức Maria được triệu về trời, chúng ta cũng mừng mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô. Sợi dây liên kết bất khả phân ly nối kết Mẹ với Con mang lại một ý nghĩa đặc biệt cho biến cố này, như các bài đọc sách thánh trong thánh lễ (1 Co 15,20-26) và trong phụng vụ giờ kinh (Ep 1,16-2,10) hôm nay nhấn mạnh. Đấng được cứu chuộc trước (Pré-rachetée) cũng là Đấng được phục sinh trước (Pré-ressuscitée) : “Đức Kitô lên trời đã chuẩn bị cho mẹ mình một chổ ở vĩnh hằng- Alleluia” (điệp ca thứ nhất kinh chiều ngày vọng). Tôn vinh Đức Maria chính là tôn vinh cuộc hành trình đức tin và ân sủng đã đưa Người đến chân thập tự giá (Ga 19,25).

c. Bài đọc thứ nhất trong thánh lễ (Kh 11-12) có vẻ muốn đặc một sự song hành giữa Người phụ nữ, Con gái Sion và Giáo hội của thời Tân Ước. Vậy nên Đức Maria được đưa lên trời, trở thành hình ảnh thời thế mạt của Giáo hội và nhờ lời khẩn cầu của mình, Người giúp nhân loại “đạt tới vinh quang phục sinh” (lời nguyện tạ lễ)

* * *

Ở Pháp Ngày 15.8
LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI,
bổn mạng chính của nước Pháp
kính trọng thể

Lễ Đức Mẹ lên trời đã được cử hành tại các nhà thờ Gallo-Roma từ giữa thế kỷ thứ VI, vào ngày 18 tháng giêng. Từ thế kỷ thứ VIII lễ được dời sang ngày 15 tháng 8 và trở nên rất phổ biến, đến nay hầu hết các nhà thờ xây cất thời Trung cổ tôn kính Đức Trinh nữ Maria đều dâng hiến kính Đức Mẹ lên trời. Khi Louis XIII vua nước Pháp, năm 1638 đặc nước Pháp dưới sự bảo trợ đặc biệt của Đức thánh Trinh Nữ, hành động của ông chỉ đi theo truyền thống trong dân chúng nhiều thế kỷ. Cũng vậy, khi Đức Giáo Hoàng Piô XI năm 1922 tuyên bố “Đức trinh nữ Maria trong mầu nhiệm lên trời là bổn mạng chính của nước Pháp” thì chỉ là chính thức hóa một việc sùng kính có từ thế kỷ thứ VI.

* * *

Ngày 16.8
THÁNH ÉTIENNE DE HONGRIE
khoảng 969-1038
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Étienne de Hongrie qua đời ngày 15 tháng 8 năm 1038 sau bốn mươi hai năm ở ngôi vua, được phong thánh năm 1083.

Sinh khoảng năm 969, cha mẹ đặt tên là Vajk trước khi nhận bí tích thánh tẩy, lấy tên Étienne. Năm 997, Étienne thế ngôi cha là Géza, tức quận công người Magyars, không công giáo, nhưng đã cưới một kitô hữu tên Sarolt. Étienne trở thành vua đầu tiên nước Hungari. Đón tiếp các thừa sai miền Bavière, dân tộc Magyars một dân tộc có nguồn gốc châu Á nhưng đã đồng hóa với dân Slave đồng bằng sông Danube, hướng về Kitô giáo. Cưới vợ là công chúa Gisèle xứ Bavière, em hoàng đế Thánh Henri, Người đã cùng hoàng hậu mở mang việc truyền giáo xứ mình bằng cách đặc biệt kêu gọi các tu sỹ Biển Đức Cluny. Là nhà điều khiển tài ba, cương nghị, Ngài theo đuổi một nền chính trị độc lập và thống nhất quốc gia. Vua đã chiến đấu với các thủ lãnh phản loạn, thiết lập vững chãi quyền binh trên khắp đất nước bằng những luật lệ, một nền hành chính thống nhất . Là một vị vua giỏi Ngài cũng là một nhà truyền giáo nhiệt thành biết sử dụng những người cộng tác quí hóa. Ngài lập nhiều tu viện, chẳng hạn tu viện Saint-Martin ở Pannonhalma và ở Pecsvarad, các nơi này thành những trung tâm truyền giáo lớn. Đức giáo hoàng Sylvestre khi nghe biết lòng nhiệt thành của Ngài, đã gửi triều thiên vua tới và Ngài đã đội triều thiên đó ngày lễ Nôel năm 1000. Ngài cũng nhận được từ Đức giáo hoàng một cây thánh giá đi kiệu và quyền lập các tòa giám mục cũng như cắt cử các chức sắc Giáo hội.

Thánh Étienne đã nhờ thánh Gérard Sagredo giáo dục con trai mình làthánh Émeric, nhưng hoàng thái tử sớm qua đời. Ngược lại thánh Étienne mãi tuổi bảy mươi mới qua đời năm 1038. Di hài ngài được an táng tại Szekesfehervar ngày lễ Đức Mẹ lên trời mà ở Hungari gọi là “ngày Đức Bà”. Hài cốt Ngài cùng với hài cốt con là thánh Émeric được đóng hòm kính và được tôn kính dưới đời Đức Grégoire VII bằng một nghi lễ tương đương lễ nghi phong thánh ngày nay. Đức Innocent XI đã cho mừng lễ Ngài khắp Giáo hội trên toàn thế giới, năm 1686.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày trình bày thánh Étienne Hungari như “một nhà truyền bá phúc âm”. Qủa thế, nhờ Ngài mà dân tộc Hungari đón nhận niềm tin vào Đức Kitô. Ngài đã dâng hiến vương quốc mình trong tay Đức Maria (mà người ta gọi là Đức Bà ), bảo vệ kẻ nghèo hèn và đích thân dạy giáo lý cho họ. Trước lòng nhiệt thành của Ngài, Đức giáo hoàng gọi Ngài là “nhà vua truyền giáo”

Thánh Étienne tổ chức cơ cấu Giáo hội trong các nước thành các giáo phận, chọn các chủ chăn thánh thiện đứng đầu, chẳng hạn thánh Gérard, tu sỹ thông thái dòng Biển Đức. Ngài cũng xây dựng nhiều nhà thờ, trong đó có nhà thờ chánh tòa thủ đô Eztergom, nhà thờ chánh tòa Szekesfehervar. Sau hết, Ngài yểm trợ công cuộc xây dựng các nhà dòng, đặc biệt là dòng Biển Đức, nhờ thế tạo thành một hệ thống phục vụ khách hành hương tới Jérusalem, Byzance, Roma hoặc Ravenne. Thánh Étienne hàng năm có thói quen từ nhiệm một lần trong nhà thờ Saint-Martin để chứng tỏ mình thi hành chức vụ là đại diện Chúa, Ngài là một gương mẫu khôn ngoan cho chúng ta. Sau đây là những lời Ngài khuyên hoàng thái tử Émeric con mình : “Con yêu dấu, Giáo hội trong đất nước chúng ta còn non trẻ nên đang đặc biệt cần những người bảo vệ chăm sóc và sáng suốt. Không thế, ân huệ do lòng nhân lành Thiên Chúa ban cho chúng ta không phải do công phúc ta sẽ bị hủy hoại không còn gì do tính ù lì, ươn lười, chễnh mãng của con” (Phụng vụ bài đọc, các lời khuyên của thánh Étienne với con trai).

Thánh Étienne không phải chỉ là một lãnh tụ quốc gia lớn, nhưng còn là một vị thánh thực sự đã chiếu rọi ánh sáng Phúc âm lên đất nước mình. Chính những người Hungari trở thành tiền đồn của thế giới Kitô giáo chống hiểm họa Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ.
* * *

Ngày 19.8
THÁNH JEAN EUDES,
Linh mục (1601-1680)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ kỷ niệm thánh Jean Eudes qua đời ở Caen, miền Normandie ngày 19 tháng 8 năm 1680, được phong thánh năm 1925, nhắc chúng ta nhớ lại một thời kỳ đậm nét giáo phái Jansénisme.

Sinh tại Ri, gần Argentan vùng Normandie năm 1601, Jean Eudes là anh cả trong bảy anh em. Buổi đầu Jean theo học trường các cha dòng tên ở Caen, về sau nhập tu hội Oratoire do Cha Bérulle lập ở Paris.

Thụ phong linh mục năm 1625, cha bắt đầu công tác mục vụ giữa những ngưòi bị dịch hạch trong vùng Argentan, nhiều lần suýt chết. Về sau giữa khoảng năm 1623 đến 1675, cha phụ trách các công tác giáo xứ. Năm 1639, được chỉ định làm bề trên tu hội Oratoire ở Caen, cha vẫn tiếp tục công việc truyền giáo cho giới bình dân, giảng thuyết cho các giáo sỹ miền Normandie và Bretagne.

Năm 1643 cha Jean Eudes thành lập hội dòng Chúa Giêsu và Mẹ Maria, đặt tên là các linh mục dòng Ơ-đơ (les Pères Eudistes), tại Caen, để điều khiển các chủng viện và đào tạo linh mục. Vậy là cha thành lập đại chủng viện Caen, và sau này thêm các đại chủng viện Lisieux, Coutances, Rouen, Evreux, Rennes. Năm 1642, cha thành công trong việc tổ chức viện nữ tu Đức Bà Bác ái để phục hồi gái lầm lỡ. Trong thế kỷ XIX, từ viện này sẽ phát xuất hội dòng Chúa Chiên lành ở Angers. Giữa bao bộn bề thánh Ơ-đơ vẫn không ngừng tuyên truyền việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria, đặcbiệt là từ năm 1641. Vì thế, Đức thánh giáo hoàng Piô X đã tuyên bố ngài là “người khởi xướng, là tiến sỹ và là tông đồ của Thánh tâm Chúa Giê-su và Mẹ Maria. Thánh Jean Eudes (Gioan Ơ-đơ) qua đời tại Caen năm 1680, thọ bảy mươi chín tuổi sau khi từ bỏ chức bề trên tổng quyền hội dòng của người.”

2. Thông điệp và tính thời sự

Giữa một thời kỳ lòng đạo đức trong Giáo hội bị chế ngự bởi sự ngu dốt của các tín hữu cũng như giáo sỹ và sự mê tín, Chúa đã sai thánh Jean Eudes đến để loan báo “sự phong phú khôn lường của Đức Kitô” (lời nguyện trong ngày)

Phụng vụ bài đọc trích một đoạn trong cuốn Luận về Thánh tâm diệu kỳ của Chúa Giêsu trong đó giải thích ý nghĩa của lòng sùng kính này như sau : “Thánh tâm không những chỉ để cho bạn, nhưng còn muốn ở trong bạn, sống trong bạn và thống trị trong đó …Người muốn rằng tất cả những gì ở trong Người cũng được sống và thống trị trong bạn ; Thần linh của Người trong tinh thần bạn, Tâm hồn Người trong tâm hồn bạn, ngõ hầu các lời chí thánh Người đươc thực hiện cho bạn. Hãy tôn vinh Chúa và mang Người trong mình; ước chi đời sống Chúa Giêsu xuất hiện rõ rệt nơi bạn”

Trong hoàn cảnh tôn giáo thế kỷ XVII, kết quả của phong trào truyền giáo này, thực đáng trân trọng: đã có một sự canh tân đức tin và thực hành đạo đích thực nhớ công cuộc của các chủng viện và tu sỹ các hội dòng mới. Ngày nay thánh Jean Eudes vẫn còn kêu gọi chúng ta : “bởi vì các bí nhiệm của Chúa Giê-su vẫn chưa trọn vẹn hoàn tất … Bởi vì con Thiên Chúa có ý định đặt một sự tham gia và làm như một sự phát triển và tiếp nối với các bí nhiệm của Người trong ta và trong toàn thể Giáo của Người” (Phụng vụ bài đọc : thứ sáu tuần thứ 33 trong T.O. Luận về Nước Chúa Giêsu, do thánh Jean Eudes)

* * *

Ngày 20.8
THÁNH BERNARD (BÊNAĐÔ),
viện phụ tiến sỹ Hội thánh (1090-1153)
Lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Bênađô, qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1153 tại Claivaux, phong thánh năm 1174 và được tuyên bố là tiến sỹ Hội thánh năm 1830, đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên một phần lớn thế kỷ XII mà người ta mệnh danh cách chính đáng là “thời kỳ thánh Bernard ”. Vì thánh nhân thực sự là một trong những nhân vật chính của phương Tây Kitô giáo và mãi tới nay, vẫn thuộc số những vị thánh được yêu mến nhất.

Bênađô người Clairvaux sinh năm 1090 tại Fontaine-lès-Dijon, trong một gia đình lãnh chúa quyền quí. Thân phụ, ông Tescelin, là lãnh chúa Fontaine hiệp sỹ của quận công Bourgogne và thân mẫu, phu nhân Alets de Montbard, có nhiều con và con thánh. Bà Aleth sẽ được tôn phong là chân phước. Hai mươi ba tuổi, Bênađô quyết định trở thành tu sỹ dòng Xi-tô lúc ấy đang dưới quyền điều khiển của thánh Etienne Harding tu viện trưởng. Bề trên tu viện đang buồn bã vì thiếu thỉnh sinh tu dòng thì Bênađô tới, kéo theo ba mươi thanh niên quí tộc, trong đó một số là anh em. Ông bố và các anh em khác sẽ tiếp theo sau..

Sau ba năm tu tại Xi-tô, năm 1115, Bênađô được sai đến làm tu viện trưởng, thành lập dòng tại Clairvaux và sẽ làm bề trên tại đó cho đến lúc chết. Người chăm chú cuộc đời trong chiêm niệm nhưng đồng thời cũng chuyên tâm giảng thuyết và hoạt động, bương chải khắp các nẻo đường nước Pháp, nước Đức và nước Ý, giảng rao về an bình, nhưng cũng tuyên truyền cho cuộc thập tự sinh thứ hai (Véjelay 1146) theo yêu cầu của Đức giáo hoàng Eugène III từng là tu sỹ Clairvaux. Suốt thời làm tu viện trưởng, thánh Bênađô chỉ chuyên trách về toàn dòng Xi-tô và đã thành lập sáu mươi tám nhà dòng mới. Cùng thời gian đó, trên hầu khắp châu Au xuất hiện nhiều nhà dòng mới, đến nỗi năm 1153 khi thánh nhân qua đời, đã có tới ba trăm bốn mươi ba nhà. Vậy nên người ta có lý khi gọi Người là vị sáng lập thứ hai Dòng Xi-tô.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện trong ngày : “Lạy Chúa, Chúa đã muốn thánh Bênađô được tràn đầy lòng yêu mến Giáo hội Chúa, trỏ trên ngọn đèn qỉ ấm và chiếu sáng trong nhà Chúa”. Đây là điểm đặc trưng thứ nhất của vị thánh viện phụ mà người ta, xét theo tính lịch sử, gọi là thánh giáo phụ cuối cùng căn cứ vào nền giáo lý của Ngài phù hợp với Thánh kinh phụng vụ và truyền thống Giáo hội. Bênađô đã rời bỏ lâu đài Fontaine để đến tu tại viện ở Xi-tô nơi đây các tu sỹ sống nghiêm nhặt tuân thủ qui luật thánh Biển Đức. Đức viện phụ Robert de Molesme đã xây dựng tu viện nổi tiếng này năm 1098, cùng với thánh Etienne Harding và thánh Albéric. Anh sáng của thánh tiến sỹ Bênađô rạng rỡ một cách đặc biệt trong các tác phẩm thần học và tu đức, chẳng hạn cuốn Luận về ân sủng và tự do ý chỉ. Cuộc thăng tiến của linh hồn tiến Chúa, các bài giảng về cuốn Diễm ca, và trong tuyệt tác của Người, cuốn Luận về tình yêu Thiên Chúa. Trong những cuộc tranh luận với thuyết duy lý của Abélard cho rằng “biết mọi sự trên trời dưới đất, chỉ trừ động từ không biết”, thánh Bênađô trình bày một nền giáo lý in đậm một nền thần bí điều độ và bình tĩnh.
Điệp khúc của thánh thi Zacharie lập lại đề tài của lời nguyện trong ngày : “Ôi lạy thánh Bênađô, sức sáng rạn rỡ của Ngôi Lời đã chiếm được hồn Ngài, nên Ngài đã trải ánh khôn ngoan và đức tin trên khắp Giáo hội”.

b. Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh một khía cạnh khác trong nhân cách thánh Bênađô, đấng được gọi là “tiến sỹ ngọt ngào” đã “làm hết sức bằng lời nói và hành động để giúp xây dựng trật tự và bình an”. Quả thế năm 1130, khi ở Roma xãy ra việc chia rẽ giữa ngụy giáo hoàng Anaclet II với Đức giáo hoàng Innocent II, Thánh Bênađô đã chạy Đông chạy Tây khắp châu Au hầu đem lại bình an cho Giáo hội. Cũng trong mục đích đó, ngài liên tục chống các lạc giáo đang làm tan nát giáo đoàn Kitô, đến nỗi người ta gọi Ngài là “cái búa đánh bọn lạc giáo”

c. Lời nguyện tạ lễ khẩn cầu Chúa ban cho chúng ta được “tình yêu đối với Ngôi Lời nhập thể thu phục”, được cổ võ bởi gương sáng và lời khuyên của thánh Bênađô là một nhà thần bí lớn. Cuốn Luận về tình yêu Thiên Chúa đích thực là sự minh họa rõ ràng nhất : trong tác phẩm, thánh nhân đã nhiệt tình mô tả lịch sử của Ngôi Lời, cuộc đời Đức Kitô từ khỏi thủy trong chốn vĩnh hằng, đồng thời cũng ca ngợi Mẹ Đức Kitô một cách tuyệt mỹ. Giáo thuyết của tình yêu cảm tính được phát triển trong một nền linh đạo lấy Đức Kitô làm trọng tâm.

Con người vốn yêu mến tình bạn và thường thúc giục : “chúng ta hãy cứ thương yêu nhau đi và sẽ được yêu thương”, con người ấy là một nhà linh hướng tâm hồn vĩ đại, bị thúc đẩy bởi tình yêu thúc bách nhất, đồng thời cũng dịu dàng nhất. Phát biểu với các ông hoàng, vua chúa, các giám mục, các giáo hoàng, Ngài thường nói : “Nếu các ngài không nghe tôi, tôi sẽ nhắc lại những lời của Gióp : Người nào không cảm thấy thương bạn mình thì đã đánh mất lòng kính sợ Thiên Chúa”. Bài ca vãng của thần vụ ca ngợi nỗi hoài cảm siêu tuyệt và dịu dàng của linh hồn đối với Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng chí ái của chúng ta : “Ngài đi đâu rồi ? Ta nào có biết / nhưng hồn ta mãi bị tổn thương, do tình yêu đối với Ngài” (Thần vụ trong ngày). Thánh Bênađô, con người bị nồng nhiệt thiêu đốt bởi tình yêu đó đã đi qua thế kỷ của Ngài như một “ngọn đèn sưởi ấm và chiếu sáng” và qua các thời gian vẫn không ngừng nhắc nhở chúng ta điều cốt lõi trong nền Giáo lý của Ngài : “Khi Chúa yêu thương, Chúa không muốn điều gì khác ngoài việc được yêu … Nhưng sao Đấng tình yêu lại không được yêu kia chứ?” (Phụng vụ bài đọc : Bài giảng thánh Bênađô về sách Diễm ca).
* * *

Ngày 21.8
THÁNH PIÔ X, GIÁO HOÀNG (1830-1914)
Lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Đức thánh giáo hoàng Piô X, qua đời tại Roma ngày 21 tháng tám năm 1914, phong thánh năm 1954, nhắc ta nhớ tới một giai đoạn rối rắm và đau thương trong lịch sử Giáo hội. Các lý thuyết duy lý, duy tân và Jansenis đe dọa đức tin nguyên truyền trong lúc lửa chiến tranh thế giới thứ nhất trên đà bộc phát.

Giuseppe Sarto sinh năm 1835 tại Riese, một làng nhỏ miền Vénétie, là con một gia đình nông dân tầm thường. Sau những năm học chủng viện ở Padoua, thầy Giuseppe Sarto thụ phong linh mục, rồi lần lượt làm phó xứ, cha sở, giám mục Manton, giáo chủ Venise và hồng y năm 1893. Tại hội nghị hồng y năm 1903, Ngài được bầu kế vị Đức Lêô XIII. Triều giáo hoàng của Ngài nổi bật với những cải tổ phụng vụ liên quan đến sách nhật tụng, Phép Thánh thể, bình ca và việc rước lễ thường xuyên. Ngài cũng cho ấn hành một cuốn giáo lý mới mà đích thân Ngài giải thích nó mỗi ngày Chúa nhật. Ngài bắt đầu công việc sửa đổi bộ Giáo luật. Việc quản trị Giáo hội đặc biệt Giáo triều Roma, cũng được sửa đổi. Thế nhưng vị giáo hoàng hiền lành đạo đức này lại gặp nhiều khó khăn, trái ý ; Ngài cũng bị vướng vào nhũng rối rắm chính trị và giáo lý của một thời đại nhiều xáo trộn. Hơn nữa, Ngài linh cảm sự đe dọa của chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ năm 1914. Ngài qua đời hai mươi ngày sau chiến tranh bùng nổ. Ngài nói : “Các con yêu dấu, cha hiến dâng mạng sống của cha. Hằng triệu người chết … Cha muốn giúp tránh nó, nhưng lực bất tòng tâm”. Trong chúc thư để lại, Ngài viết : “Tôi sinh ra trong cảnh nghèo và tôi muốn chết nghèo”. Thân xác Ngài vẫn còn nguyên vẹn, được tôn kính nơi Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Chúa đã ban cho thánh Piô X được tràn đầy sự khôn ngoan thần linh và đức can đảm tông đồ (lời nguyện trong ngày). Ngài biểu lộ rõ rệt các đức tính đó trong suốt triều đại giáo hoàng của mình. Trước hết Ngài bãi bỏ luật Veto (phủ quyết) mà một số quốc gia vẫn còn giữ về vấn đề bầu chọn giáo hoàng, tiếp theo Ngài giải tán Opera dei Congressi, đồng thời các phong trào mà sau này, dưới đời Đức Piô XI sẽ lấy tên là công giáo tiến hành. Tại Pháp, Ngài lên án chính sách bài giáo sỹ của Combes và phản đối luật tách biệt Giáo hội khỏi Quốc gia. Cuối cùng là vụ kết án thuyết duy tân, ban đầu bằng sắc lệnh Lamentabili, sau là thông điệp Pascendi (1907)

b. Lời nguyện trên lễ vật thúc đẩy chúng ta học “theo các bài học của thánh Piô X hầu hết các mầu nhiệm thần linh với lòng kính cẩn, thông hiệp với chúng bằng đức tin”. Trong công cuộc của vị thánh giáo hoàng này, cải tổ phụng vụ là trọng tâm. Chính Ngài tuyên bố : “Từ nguồn suối duy nhất không thể thiếu đó tức là việc tham dự các mầu nhiệm thần linh, chúng ta có thể múc được tinh thần Kitô hữu đích thực” (Motu propio ngày 22-11-1903). Một cách nào đó, Ngài đã mở đường cho việc canh tân phụng vụ của Vatican II khi nhấn mạnh việc tham gia tích cực của giáo dân vào thánh lễ, việc canh tân âm nhạc thánh và cổ võ việc hát bình ca truyền thống. Ngài cũng thực hiện việc sửa đổi sách thần vụ bằng cách đặt ưu tiên cho việc đọc toàn bộ thánh vịnh (Hiến chế Divino Afflatu 1911) như trong phụng vụ bài đọc có nhắc lại. Trên lãnh vực thánh kinh, Đức Piô X đã có một số biện pháp như thành lập Ủy ban giáo hoàng nghiên cứu thánh kinh (1907), lập viện kinh thánh (1909), rà soát lại bản phổ thông

c. Lời nguyện tạ lễ khẩn cầu Chúa, nhân lễ thánh Piô X, cho chúng ta “kiên vững trong đức tin”. Vào một giai đoạn nhiễu nhương khi các Kitô hữu cần được bảo vệ trong đức tin, thánh Piô X đã chứng tỏ sự vững chắc trong lãnh vực giáo lý công giáo, ý thức trách nhiệm chủ chăn tối cao của mình. Nhưng vị bảo vệ chính thống nồng nhiệt đó trước hết là một con người “nghèo khó, hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Phản ứng chống lại các luồng do phái Jansenius, quá khắc khổ và duy lý của thời đại, Ngài dần nổ lực để minh chứng Chúa là yêu thương. Chính vì thế Ngài đã cho tái lập việc thường xuyên đến với các bí tích, việc cử hành thánh lễ có sự tham gia tích cực của giáo dân và việc rước lễ thường xuyên Đặc biệt, qua sắc lệnh Quam singulari (1910). Người cho phép trẻ đến tuổi có lý trí được rước lễ.

Đức Piô X khi chấp nhận làm giáo hoàng, đã thốt lên : “In crucem = đến với thánh giá”. Quả thế, các khó khăn đã chỉ gia tăng trên bước đường của Ngài, nhưng lại trở thành nguồn gốc cho tính khiêm nhu, thậm chí hiền lành trong công việc mục vụ của Ngài. Mộ chí Đức Piô X tóm tắt sâu sắc sự thánh thiện cao cả của vị thánh giáo hoàng này : “nghèo nhưng phong phú, hiền lành và khiêm nhường trong lòng, bảo vệ nhiệt thành chân lý công giáo, Người đã hiến trọn nổ lực để cải tạo lại tất cả trong Chúa Kitô”.
* * *

Ngày 22.8
ĐỨC MARIA NỮ VƯƠNG
Lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ Đức Maria nữ vương được Đức Piô XII thiết lập năm 1955 vào ngày 31 tháng 5, nay chuyển sang tám ngày sau lễ Đức Mẹ lên trời để nhấn mạnh hơn dây liên lạc giữa tư cách nữ vương của Đức Trinh nữ với việc thân xác Người được gọi về trời. Công đồng Vatican II đã tuyên bố : “Đức trinh nữ vô nhiễm, được Chúa gìn giữ khỏi mọi tỳ vết tội nguyên tổ, sau khi vượt qua cuộc đời trần gian, đã được đưa cả hồn và xác về vinh quang trên trời, được Chúa đặt làm nữ hoàng vũ trụ để nhờ thế hoàn toàn phù hợp với Con mình hơn” (Vatican II, GH.59).

Ngay từ thế kỷ thứ IV, ảnh tượng đã thường biểu thị bên cạnh Đức Kitô Pantocrator (Đức Kitô uy nghiêm) hình ảnh của Mẹ Người mà từ trung cổ người ta đã gọi là Nữ vương. Chẳng hạn nhiều ca vãn rất cổ ca tụng Người là nữ hoàng như : Salve Regina, Regina coeli, Ave Regina coelorum… cũng như các mầu nhiệm trong chuỗi Mân côi và trong kinh cầu Đức Bà Lorette.

Việc thiết lập lễ này là theo lời thỉnh cầu của các đại hội Thánh mẫu ở Lyon (1900), Fribourg (1902), Einsiedeln (1906), nhưng nhất là sau việc Đức Piô lập lễ Chúa Kitô Vua năm 1925. Sau hết, ngày 11 tháng 10 năm 1954, nhân kỷ niệm trăm năm tuyên bố tín điều vô nhiễm nguyên tội, Đức Piô XII đã thiết lập lễ Đức Maria Nữ vương, nêu lên các lý do lịch sử và thần học trong thông điệp Ad coeli Reginam

Các bản văn phụng vụ chọn nhân lễ Đức Maria Nữ vương năm 1955 nêu bật chân lý sau đây mà Tông Huấn Marialis cultus (số 6) cũng sẽ nhấn mạnh : “Đức Ma-ri-a ngồi bên cạnh Vua muôn đời, rạng rỡ trong tư cách Nữ hoàng và khẩn cầu cho ta trong tư cách bà mẹ”. Cũng vậy, điệp ca Maguificat nhắc lại rằng Đức Ma-ri-a “cùng với Đức Kitô thống trị muôn đời”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày nhấn mạnh nền tảng cuả vương quyền Đức Maria mẹ Chúa Kitô, đồng thời cũng là mẹ và nữ hoàng của chúng ta. Lý do cuối cùng của “chức nữ vương” nơi Đức Trinh Nữ trước hết do tính cách mẹ Thiên Chúa của Người. Vì quả thực, cũng như Đức Kitô là Chúa và là vua mọi loài thụ tạo, Đức Maria , mẹ Chúa cũng tham gia một cách tương tự vào quyền vương đế của con mình. Chức nữ vương của Đức Maria cũng dựa trên sự tham dự sâu xa vào công trình cứu chuộc của Đức Giêsu con mình, cùng chịu đau khổ với Con và dâng Con lên Chúa Cha (xem thông điệp Ad coeli Reginam, của Đức Piô XII. Như công đồng Vatican II đã viết : “Đức Maria, khi dâng lên Chúa sự ưng thuận của mình, đã trở thành mẹ của Đức Giêsu và không chút vướng víu tội lỗi, Người chấp thuận ý định cứu rỗi của Chúa, Người hiến thân trọn vẹn cho con người và công việc của Con mình như là tỳ nữ của Chúa, hầu phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc trong sự lệ thuộc và cùng với Con, nhờ ơn Thiên Chúa toàn năng” (GH.56)

Đức Kitô con Thiên Chúa và con Đức Ma-ri-a là trưởng tử một đoàn anh em đông đúc (Rm 8,29) thế nào, thì Đức Maria cũng là mẹ của toàn dân Chúa, được chỉ định về vinh quang trên trời, hứa cho con cái Thiên Chúa (xem phần cuối lời nguyện trong ngày). Vậy nên vương quốc Đấng thiên sai được Đức Maria chia sẻ cũng được hứa ban cho mọi người, trước hết là các tông đồ, sau đến mọi Kitô hữu, hầu hoàn tất những lời này của Đức Kitô : “Phần anh em, anh em đã trung thành với Thầy trong các thử thách. Vậy nên Thầy đã sắm vương quốc cho anh em, như cha Thầy đã sắm cho Thầy, ngõ hầu anh em cùng ăn cùng uống nơi bàn tiệc trong vương quốc của Thầy và anh em ngồi trên các ngai để xét xử mười hai chi họ It-xra-en” (Lc 22,28-30).

Bài giảng thánh Amédée ở Lausanne trong lễ Đức mẹ lên trời nhấn mạnh tính cách trung gian của Đức Maria vì Người đứng bên hữu của Con mình : “Là hôn thê, mẹ của Hôn Phu duy nhất, mẹ như suối từ những mãnh vườn thiêng liêng và là giếng phát sinh những mạch nước hằng sống, mạch nước nuôi sống vọt thành suối từ đỉnh Liban Thiên Chúa. Bởi thế từ núi Sion mẹ cho tuôn trào những con sông an bình, những con suối ân phúc xuống đến mọi dân tộc”.

Ca vãn trong thần vụ ca tụng Đức Maria nữ tỳ của Chúa “đã được Chúa chấp thuận như một công trình hoàn hảo” và đang ngự trị trong vinh quang. Ca vãn giải thích sứ mệnh của Đức Maria, là mẹ và là nữ vương, được kêu gọi trở nên sự phản chiếu lòng nhân từ Chúa và là sự nâng đỡ chúng ta bằng những lời : “Hỡi người phụ nữ / được Chúa khoác áo choàng ánh sáng / khi bóng tối sự chết / bủa vây trên vũ trụ / Mẹ soi chiếu con đường về Nước trời” .
Vai trò của Đức Ma-ri-a là Mẹ và là Nữ vương càng được ca khen một cách tuyệt diệu trong một Điệp ca cuối trong kinh tối : “kính lạy Bà vị Nữ hoàng Thiên quốc (Ave Regina coelorum) …”

“Kính lạy Bà, vị nữ hoàng Thiên quốc
Lạy nữ vương trên chín phẩm thiên thân,
Là cội thiêng, là cửa trời vinh phúc,
Đem vầng hồng rực rỡ xuống trần gian.
Mừng vui lên, mừng vui lên Trinh nữ,
Bà hiển vinh, Bà diễm lệ khôn tày
Bên tòa Chúa Kitô, ngôi Thánh Tử
Cúi lạy Bà, xin nguyện giúp cầu thay”

(Bản dịch UB Phụng Tự HĐGMVN 1991)

* * *

Ngày 23.8
THÁNH NỮ ROSE DE LIMA
Đồng trinh (1586-1617)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh nữ Rosa Lima qua đời ngày 24 tháng 8 năm 1617 được Đức Clément IX phong chân phước năm 1668, Đức Clément X phong thánh năm 1671 và tôn phong Ngài làm bổn mạng chính của Châu Mỹ, Phi-lip-pin và miền Tây An. Cùng với thánh nữ Rosa Lima, chúng ta mừng vị thánh nữ đầu tiên Mỹ châu mà thời đó người ta gọi là An Độ.
Isabelle Flores y de Oliva sinh năm 1586 tại Lima (Pêru), cha mẹ là người Tây Ban Nha. Isabelle còn có tên Rose là vì có nước da hồng hào. Lãnh bí tích thêm sức do Đức Tổng giám mục Turibio de Mogrovejo, lúc 20 tuổi, Rosa nhập dòng ba Đa Minh, gọi thêm là Rosa de Sainte Maria. Quyết tâm giã từ thế gian, tận hiến cho Chúa, Rose làm cho mình một chái lều nhỏ ở một góc vườn cha mẹ, noi gương thánh nữ Catarina Siena, chị bắt đầu hãm mình nghiêm nhặt. Được Chúa, Đức Mẹ và các thánh hiện đến nhiều lần, nhưng chị gặp đủ thứ nghịch cảnh, bệnh tật. Ba năm cuối đời chị sống với hai vợ chồng thương yêu chị, và qua đời trong nhà họ, miệng vẫn lắp bắp : “Ôi Giêsu ! Giêsu ! xin đến với con !”

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện thánh lễ nêu bật “tình yêu cao cả” và việc đền tội nhặt nhiệm của thánh nữ Rosa Lima. Thánh nữ đã sống một cuộc đời cực kỳ nghiêm nhặt bằng cách chấp nhận trong vòng tay yêu thương các tật bệnh và khổ đau với một sự kiên nhẫn anh hùng. Thánh nữ thường nói : “Nếu nhân loại biết thế nào là ân sủng thì tất cả mọi người muốn có nó, cần phải ước ao chịu khổ nạn, đớn đau …, bởi vì đó là cái giá vô biên của sự kiên nhẫn”. Thánh nữ Rosa thường chơi các đàn dây và sáng tác nhiều bài hát, nhiều thơ văn, nhưng ngài chỉ muốn thuộc về “kho tàng núi Canvê” (académic du Calvaire). Mặc dù sống đời ẩn tu đơn chiếc, Ngài vẫn cứu giúp các bệnh nhân và giúp đỡ kẻ túng quẩn nghèo hèn.

Phụng vụ bài đọc nhắc lại một lá thư thánh nữ Rosa gửi bác sĩ Castillo, cho thấy mức độ tinh thần sâu xa của người trinh nữ nói với Đấng hôn phu thần linh : “Ôi lạy Chúa, xin gia tăng các khổ đau cho con miễn sao Chúa gia tăng tình yêu của Chúa trong con”. Cũng trong thư đó, thánh nữ viết : “Sẽ không ai phàn nàn về thánh giá hoặc khổ sở xãy đến nếu biết được cái cân để cân chúng hầu chuộc lại loài người”. Thánh nữ đã chịu đựng tất cả những khổ đau đó không phải chỉ vì tình yêu Đức Kitô vì Chúa đã nói với chị : “Rôsa của hồn Ta, con là hôn thê của Ta”, nhưng còn vì phần rỗi nhân loại, đặc biệt là của người Anh-điêng.”

Một phụ nữ trẻ lại vừa quảng đại với Chúa và với thế giới như thế mãi mãi vẫn là một gương mẫu đặc biệt về sự trong trắng và tình yêu, “dẫn đường cho ta về cuộc sống chân thực” (lời nguyện trong ngày) và nhắc chúng ta nhớ rằng “nếu không có thánh giá, con người không tìm được đường về trời. Dưới ánh sáng thánh nữ Rosa Lima năm 1623 người ta đã thành lập nhà dòng chuyên tu đầu tiên tại Nam Mỹ.

Ngày 24.8
THÁNH BARTOLOMÊÔ, TÔNG ĐỒ
Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ thánh Bartôlômêô được cử hành từ thế kỷ thứ VIII trong các xứ Francs, đến thế kỷ thứ IX-X thì lan sang Roma. Lễ cử hành vào ngày 24 hoặc 25 tháng tám; với người Byzance, ngày 25 trùng lễ kính chuyển hài cốt của Người, còn lễ chính là ngày 11 tháng 6, chung với thánh Banabê. Lịch thánh Piô V đã ấn định lễ này vào ngày 24 tháng tám.

Bartôlômêô (có nghĩa là con của Tolamai) là một trong Nhóm Mười hai, các phúc âm thường nhắc chung với Philipphê (Mt 10,3). Người ta thường cho rằng Bartôlômêô cũng là Nathanael, nhưng điều này không có cơ sở. Nếu phải là Nathanael, chắc hẳn người có gốc ở Cana (Ga 21,2) và đã được Philipphê đem đến trình diện Đức Giêsu (Ga 1,45). Một số tài liệu ngụy thư cho rằng thánh Bartôlômêô đã sang giảng Phúc âm ở Tây An (theo Eusèbe) hoặc các vùng gần Ethiopie (theo Rufin và Socrate), hoặc thậm chí còn tới Đại Arménie (theo kinh nghiệm các Tông đồ). Hình như Ngài đã bị lột da sống, theo luật hình Ba Tư, sau đó bị chặt đầu rồi đóng đinh thập giá. Người ta cho rằng hài cốt của Ngài được tôn kính ở Roma, nơi đảo Tibérine, và ở Francfort nước Đức. Thánh Bartôlômêô được coi là người bảo vệ các bệnh nhân, các ông bà bán thịt, thợ thuộc da và thợ đóng sách.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày ca ngợi “đức tin ngay thực” của thánh Bartôlômêô. Hiển nhiên điều này muốn liên hệ đến lần Nathanael gặp Đức Giêsu được Phúc âm Gioan kể lại (1,45-49). Theo lời Chúa nói: “Đây là một người Israen đích thực không giả dối”, và Nathanael đáp lại : Rabbi, Thầy là con Thiên Chúa, là vua Israen. Người môn đệ mới đã hào hứng nhận ra nơi Đức Giêsu Thầy, Con Thiên Chúa và vua Israen.

Câu kết của lời nguyện trên lễ vật xin Chúa cho Giáo hội “trở nên bí tích cứu rỗi muôn dân”. Bài giảng của thánh Gioan Kim Khẩn -Phụng vụ bài đọc trích dẫn- nhấn mạnh rằng, để loan truyền phúc âm ra khắp thế giới, Chúa đã muốn dùng “mười hai con người ngu dốt, nhát đảm, sợ sệt, hầu chứng tỏ rằng sự yếu đuối của Chúa còn mạnh hơn mọi người”. Từ đó, cũng như mọi tông đồ trong Phúc âm, Giáo hội có thể cùng lặp lại với thánh Phaolô : Tôi có thể làm tất cả mọi điều trong Đấng bổ dưỡng tôi. Trong yếu đuối, chửi bới, áp bức, bách hại cũng như lo lắng. Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh (2 Co 12,10 -đáp ca Phụng vụ bài đọc).
* * *

Ngày 25.8
THÁNH LOUIS NƯỚC PHÁP
(1214-1270)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Louis IX, nạn nhân trận dịch hạch ở cửa thành Tunis ngày 25 tháng 8 năm 1270 trong cuộc thập tự chinh thứ tám, ngay khi mới qua đời đã được tôn kính như một vị thánh và được Đức giáo hoàng Boniface VIII phong thánh năm 1297. Thánh nhân sống trong thời kỳ nước Pháp có được sự rực rỡ về trí tuệ, nghệ thuật và đạo đức, nhờ công của thánh Thomas Aquinô, Albertô Cả, Bônaventura, Roger Bacon và Siger de Brabant. Là con vua Louis VIII và hoàng hậu Blanche, thánh Louis sinh ở Poisy gần Paris, và rửa tôi tại đây. Bởi thế Ngài thích ký tên là “Louis người Poisy”. Mười hai tuổi, lên ngôi vua, dưới quyền nhiếp chính của mẹ ; năm 1234, nhà vua cưới Marguerite de Provence và có mười một người con. Sau khi chiến thắng Henri III và các chư hầu phản loạn, nhà vua lo bảo vệ vững chắc và cai trị vương quốc của mình. Sau một trận bạo bệnh rồi qua khỏi, phó thác cho mẹ nhiếp chính, vua khởi xướng cuộc thập tự chinh VII (1248-1254), tiếp sau khi Gérusalem thất thủ (1244) và quân đội người Francs bị quốc vương hồi giáo nước Ai cập đánh tan. Chiến thắng tại Damette nhưng thua ở Mansourah (Ai Cập) năm 1250, nhà vua bị bắt làm tù binh và chỉ được giải thoát với một số tiền chuộc khổng lồ. Tiếp theo vua sống ở Syrie bốn năm, tăng cường cho các thành phố do thập tự quân chiếm giữ và chuộc lại được một số lớn tù binh. Được tin hoàng thái hậu qua đời (1252), nhà vua trở về Pháp và ở luôn tại Paris. Là người rất sùng đạo, vua cho xây Sainte-Chapelle để lưu giữ những gì còn lại từ gỗ cây Thánh giá và nhất là Mũ Gai nhà vua mua được của Baudoin II, hoàng đế Constantinople.

Với hy vọng cải đạo vua hồi giáo nước Tunisie, vua Louis IX mở một cuộc thập tự chính mới, đây là thập tự chính thứ tám (1280). Nhưng mới đổ bộ ở Carthage ít lâu cả đoàn quân tan rã bởi một trận dịch hạch, chính nhà vua cũng bị. Trong lều trại nhà binh, nằm trên một cái giường rải đầy tro, nhà vua tắt thở miệng vẫn đọc : “Lạy Chúa con sẽ vào nhà Chúa và sẽ thờ lạy Chúa trong thánh điện Ngài” (Tv 5,8)

2. Sứ điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày nhắc lại công việc vua Louis nước Pháp đã thực hiện vì vinh quang trên trời. Trước hết mọi sự, nhà vua đã lo sao có được đức công chính. Ngài thường nói: “Ai có bổn phận người nấy”. Ngài căn dặn hoàng thái tử : “Cha cầu cho con biết làm cho dân nước mến thương, vì cha thực sự mong muốn thà có một người Xcốt-len đến cai trị đất nước một cách tữ tế ngay lành còn hơn thấy con cai trị một cách tồi tàn”. Trong cuộc tranh chấp giữa hai nhà Anh-Pháp từ Philippe Auguste, Jean sans Terre, nhà vua đã chấm dứt sự bất hòa bằng hòa ước Paris. Cũng trong tinh thần đó, vua đã ký hiệp ước Corbeil năm 1258 với Jacques I xứ Aragon. Ngài cũng thường xuyên được các nhà quyền thế thời đó tham khảo ý kiến. Nhờ thế Ngài đã giải quyết được vấn đề kế vị ở Flandre (1246), góp ý với các hầu tước Anh quốc nổi loạn chống lại vua Henri III (1264). Vậy nên thời vua thánh Louis IX nền quân chủ có uy tín hơn bao giờ hết.

Thánh Louis cũng có công yểm trợ việc canh tân nền kinh tế đất nước, thành lập nhà thương, phát triển các hoạt động bác ái nhất là khuyến khích công bằng thông qua rất nhiều chỉ thị khôn ngoan. Các chỉ thị này nhằm chống lại tệ tham nhũng hủ hóa, ngăn cấm đặc biệt lối đấu gươm hai ngưỡi để xét thắng bại, đĩ điếm và mạ lị. Những luật lệ đó và việc Ngài đích thân xét xử đã góp phần rất lớn trong việc đưa lại an bình, ỗn định cho đất nước. Hơn thế nữa, với tinh thần của người đệ tử dòng ba Phan sinh, Ngài đặc biệt lo chăm sóc người nghèo, thậm chí đích thân phục vụ các bệnh nhân dịch hạch trong cuộc thập tư chinh thứ tám, đến nỗi người hồi giáo gọi Ngài là “quốc vương công chính”. Thánh nhân cũng là người khởi xướng hòa bình nên không muốn can thiệp vào cuộc tranh chấp giữa Tòa Thánh và vua Frédéric II. Là người luôn lo lắng cho công bằng, nhà vua giao phó cho các luật gia công việc xử án, kiểm tra việc quản trị tiền bạc, thực hành kế toán nghiêm minh. Đó là lý do ra đời của Quốc hội và Ngân khố.

Lời nguyện trong ngày cũng cầu xin Chúa ban cho ta biết làm việc cho nước Chúa trị đến bằng cách chu toàn bổn phận trần gian nhờ lời cầu khẩn và noi gương thánh Louis. Bản di chúc tinh thần của thánh nhân để lại cho thái tử Philippe Can Đảm, Phụng vụ bài đọc trưng dẫn, cho chúng ta thấy lòng nhân từ đã thành châm ngôn và đức công bình gương mẫu của vị quân vương này mà ảnh tượng Pháp thường trình bày như một gương mẫu của sức mạnh tâm hồn và lòng nhân từ : “Con phải tránh tất cả những gì mà con nghĩ sẽ làm mất lòng Người (Thiên Chúa), những gì thuôc quyền hạn con, đặc biệt phải có ý chí không bao giờ phạm một tội trọng nào vì bất kỳ lý do nào có thể xãy đến, và trước khi phạm một tội gì trọng có ý thức, hãy để người ta chặt tay chân con giết chết con bằng cái chết dữ dằn nhất”.

Thánh Louis trung thành việc đọc kinh thần vụ phù hợp với ngày tháng của dòng. Liêm chính và bác ái đến độ anh hùng, Ngài để lại nhiều gương mẫu kiên nhẫn và khiêm nhường, được các nhà viết tiểu sử ghi chép. Bằng các đức tính nhân bản, đầy bản sắc Kitô giáo cách lạ lùng, Ngài mãi là gương mẫu sống động cho người giáo dân thánh thiện
* * *

Cùng Ngày 25.8
THÁNH JOSEPH CALASANZ
Linh mục (1556-1648)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Joseph Calasanz qua đời tại Roma ngày 25 tháng 8 năm 1648, được phong thánh năm 1767 và được Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố là bổn mạng các trường học công giáo bình dân năm 1948.

Joseph Calasanz sinh ra trong một gia đình Tây Ban Nha xứ Aragon. Đậu tiến sĩ luật tại đại học Alcalá, thụ phong linh mục năm 1584 lúc hai mươi tám tuổi. Đầy lòng đạo đức, Ngài dùng tài sản riêng giúp đỡ người nghèo đói và phục hưng Giáo hội. Năm 1592, Ngài rời Tây Ban Nha sang Roma, ở tại nhà bạn là Đức hồng y Ascanio Colonna. Cảm động trước cảnh đói nghèo và bị bỏ rơi của các thiếu niên, cha lập tại khu Transtévère ngôi trường miễn phí đầu tiên, với mục đích đào tạo nhân bản và trí tuệ cho trẻ con. Nhiều người cộng tác đến với cha, nên đã ra đời Viện các linh mục dòng chuyên trách về các trường công giáo, về sau gọi là “Hội dòng các giáo sỹ nghèo Mẹ Thiên Chúa” phụ trách các trường từ thiện (cũng gọi là Scolopes hoặc Piaristes). Thành viên hội dòng được kêu gọi khấn lời khấn thứ tư là giáo dục giới trẻ, đặc biệt là trẻ nhà nghèo.

Được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV chấp thuận, nhưng viện dòng phải trải qua một giai đoạn thử thách đau đớn, bách hại dữ dằn. Chính đấng sáng lập dòng lúc này đã thành bề trên tổng quyền, cũng bị đuổi khỏi dòng và tố cáo với Thánh Bộ. Sau hết năm 1646, Đức giáo hoàng Innocent X quyết định giải tán Hội dòng. Thánh Calasanz qua đời sau khi được phục hồi ít lâu. Ngài đã chịu đựng tất cả những thử thách đó với một sự kiên nhẫn anh hùng, còn hội dòng, được Đức Giáo Hoàng Alexandre VII cho tái lập năm 1656, đã lại có một sức bật mới.

2. Thông điệp và tính thời sự

Thánh Calasanz được Chúa ban cho một tấm lòng nhân từ và quảng đại, đã hiến dâng “trót cuộc đời cho việc dạy dỗ và giáo dục trẻ con” (lời nguyện trong ngày). Ngài đã dùng tất cả tài sản của riêng mình cho công trình giáo dục khắp các nước Ý, Đức, Bohêmevà Moravie. Nhưng nhất là với sự kiên nhẫn của một đấng thánh, Ngài đã biết đương đầu với những thử thách lớn lao tấn công Ngài nhiều lần. Thay vì phàn nàn các “nguyên nhân phụ”, Ngài thường nói với các bạn thân rằng: “Chúa gởi chúng đến vì ích lợi chúng ta”. Ngài ước ao nhà nguyện bao giờ cũng được xây chính giữa các học xá và thánh nhân là người đầu tiên cho đọc phúc âm bằng ngôn ngữ thông thường.
Phụng vụ bài đọc trưng dẫn một trang thánh Calasanz viết về vấn đề giáo dục trẻ con “ước mong người ta đưa lại cho trẻ con, nhất là trẻ con nghèo, một nền giáo dục tốt, không phải vì điều đó góp phần nâng cao nhân cách chúng, mà còn của mọi thành phần xã hội … Những người nhận trách nhiệm giáo huấn này phải có rất nhiều bác ái, lòng kiên nhẫn lớn lao và nhất là khiêm nhường thẳm sâu”. Sau hết, Ngài nhắc lại lời Thánh Kinh sau đây : “Kẻ dạy công chính cho đại chúng sẽ rực rỡ chiếu sáng như sao trong cõi vĩnh hằng muôn đời” (Đnl 12,3).
* * *

Tại Pháp : Ngày 26.8
THÁNH CÉSAIRE THÀNH ARLES
Giám mục (kh.470-543)
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Césaire thành Arles sinh trong một gia đình công giáo Gallo-Roma vào khoảng năm 470 gần thị trấn Cabillon (tỉnh Chalon-sur-Saône) vào thời kỳ quân Burgondes còn có mặt khắp vùng. Năm mười tám tuổi, Ngài trở thành giáo sỹ phục vụ đức giám mục tại Chalon, nhưng hai năm sau, Ngài trốn đến tu viện Lérins, tại đây viện phụ Porcaire nhận Ngài làm tập sinh tại tu viện nổi tiếng này do thánh Honorat lập quãng năm 420. Ngài lưu lại đây vài năm, nhận chức vụ quản lý, nhưng vào khoảng năm 499, đức viện phụ sai Ngài đến Arles, nơi đây sức khoẻ Ngài được phục hồi sau những năm tháng quá nhặt nhiệm của đời tu dòng. Đức giám mục Eone là bà con đã truyền chức linh mục và Người đã thế làm quyền giám mục tại đây năm 503.

Trong bốn mươi năm làm giám mục tại Arles, thánh nhân được tiếng đến nỗi trở thành người bảo vệ và bênh vực cho dân chúng Gallo-roma trong những năm khó khăn dưới sự cai trị của Người Wisigotho (cho đến năm 507, với Alaric II), người Ostrogotho (đến 536, với Théodoric), người Franes (từ 506 trở đi). Được chỉ định đại diẹn tòa thánh tại các Giáo hội xứ Gaule và Tây Ban Nha, Ngài được Đức giáo hoàng Symmaque trao quyền triệu tập các công đồng miền và trao Pallium.

Năm 505, thánh Césaire bị đày sang Bordeaux vì có kẻ tố cáo Ngài muốn đưa Arles sang quyền cai trị của người Burgonde, nhưng rồi thấy vô tội, Ngài được trở về Arles. Năm 512/513, Ngài được triệu đến Raveme, trình diện hoàng đế Théodoric, nhưng được công nhận vô tội, Ngài lợi dụng thời gian lưu tại kinh đô chuộc rất nhiều tù nhân. Năm 514, Đức giáo hoàng Symmaque, sau khi ban cho Ngài các đặc quyền trong chức vụ giáo chủ, cũng trao cho Ngài quyền Đại diện Tòa thánh tại Tây ban Nha và giáo xứ Gaules. Vậy nên thánh nhân đã triệu tập và chủ tọa nhiều công đồng : Agde (506), Arles (524), Carpentras (527), Orange và Vaison (529), Marseille (533). Một bản kỷ luật của Giáo hội đã được thiết lập gồm nhiều qui định về tài sản Giáo hội, xác định quyền lợi và nhiệm vụ các giám mục, hàng giáo sỹ và giáo dân, cải cách phụng vụ, một sự thúc đẩy mới đối với dòng tu và tổ chức đời sống chung các giáo sỹ. Ngài viết hai cuốn luật : một cho các tu sỹ, một cho các nữ tu, cả hai xoay quanh ba trục chính : ổn định, nghèo khó và đời sống chung. Bản qui luật cho các nữ tu, được người kế vị là thánh Aurélien hiệu đính, được phổ biến rộng rãi đến nổi thánh nữ Radegonde đến Arles để học cách thực hành. Từ năm 513, vị giám mục giao cho người em gái tên là Césarie tu viện nữ xây tại Aliscamps, tại đây bà sẽ trở thành nữ tu viện trưởng và được Grégoire de Tours cũng như Venanes Fortunat ca ngợi

Thánh Césaire qua đời ngày áp lễ thánh Augustin 27 tháng 8 năm 542, an táng trong giáo đường Đức Bà chính Ngài đã cho xây ở Arles.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện riêng cho thấy những điểm đặc trung nơi thánh Césaire là lòng nhiệt thành trong việc mục vụ ghi đậm lòng bác ái. Bởi thế nên Ngài lo chuộc các tù nhân, tiếp tế người nghèo và dân phiên cư, hồi cư bị tù đày, thành lập các bệnh viện. Ngài rất nhiệt tình chiến đấu chống lại các tàn dư ngoại giáo, xây dựng các nhà thờ, xúc tiến việc đào tạo giáo sỹ.

Ngay từ đầu, lời nguyện nhấn mạnh khả năng lạ thường của thánh Césaire trong việc “dạy dỗ lời Chúa cho dân chúng”. Được mệnh danh là “Thầy dạy xứ Gaule của người Franes”, thánh Césaire đã thực thi sứ mệnh giáo huấn của mình bằng sự hiện diện tại nhiều công đồng, như chẳng hạn tại công đồng thứ hai Orange (529), tại đây lấy lại điều cốt lõi trong giáo lý thánh Auguatin về ân sủng và tự do, nhấn mạnh đặc biệt vai trò thiết yếu và cơ bản của Chúa trong việc cứu rỗi mỗi người

Lòng nhiệt thành rao giảng nơi thánh Césaire cũng đi đôi với sự mộ mến phụng vụ cách sâu xa. Thánh nhân thường tập hợp các giáo sỹ để cùng đọc thần vụ chung và khuyến khích sự tham gia của giáo dân bằng cách đề ra các thánh vịnh dễ hiểu, phổ biến cũng như các ca vãn, ca vịnh

b. Phụng vụ bài đọc trích một đoạn trong bài “huấn dụ” của thánh Césaire trong đó “thánh nhân cho thấy việc đọc sách thánh hữu ích và không đọc, không tìm đọc nó thiệt hại biết bao” (Cerf, Sources chrétiennes, số 175, tr.338-340) : “Nếu muốn gặp được sự ngọt ngào của Thánh kinh và các huấn lệnh của Chúa sinh lợi cho anh em nhiều hết sức có thể, hãy loại bỏ những bận tâm trần tục trong vài giờ. Ngồi trong nhà, anh em hãy đọc lại các lời của Chúa …”. Rồi Ngài tiếp : “Đừng tự bằng lòng vì chỉ nghe đọc lời Chúa ở nhà thờ, còn phải kéo dài việc đọc Sách thánh tại nhà, trong bữa ăn và những hôm ngày ngắn thì đọc mấy giờ vào ban đêm”. Đối với các giáo sỹ của mình, Ngài buộc mỗi người đọc tối thiểu bốn lần theo thứ tự Cựu ước sang Tân ước trước khi truyền chức
* * *

Ngày 27.8
THÁNH MÔNICA (332-387)
Lễ buộc ; Bắc Phi : Lễ trọng

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh nữ Mônica qua đời tại Ostie gần Roma mùa thu năm 387, lễ kính được ghi vào lịch Roma ngày 4 tháng 5, áp lễ kỷ niệm cuộc trở lại của con là thánh Augustin. Ngày nay lễ được cử hành vào áp trước lễ duy nhất mừng thánh Augustin vào ngày 28 tháng tám.

Thánh nữ Mônica sinh tại Thagaste (Souk-Ahras, Algérie) năm 332 trong một gia đình công giáo. Kết bạn với Patricius, một nghiệp chủ ở Thagaste thương vợ nhưng nóng nảy, bà học cách thương chồng, và cả chịu đựng những chuyện thiếu chung thủy của chồng một cách hiền lành và kiên nhẫn. Bà có với Patricius ba người con: Augustin, Navigius và một người con gái, chết lúc còn làm bề trên nữ tu viện Hippone, năm 424. Patricius vốn là một người lính viễn chinh Roma ngoại đạo trở thành dự tòng năm 370 và lãnh bí tích thánh tẩy vào năm sau, trên giường bệnh. Ông để lại cho vợ cậu con trai Augustin mười sáu tuổi, đang là dự tòng, nhưng tính tình lộn xộn. Bà đi theo con trai từ Madaure đến Carthage, nhất quyết sống cạnh cậu quí tử sa đọa chứ không xa con vì các sai lạc của cậu. Nhưng bà thất vọng đau đớn khi Augustin sang Italia, về sau bà mới đến được với cậu ở Milan, khi Augustin nhận ghế giáo sư tu từ học và đã được thánh giám mục Ambroise chinh phục cải đạo cho. Phục sinh 387, đêm 24 tháng tư, bà vui mừng được dự lễ rửa tội cho con trai.

Nhưng cũng vào chính cuối năm đó, sau một thời gian sống với con trai và bạn hữu ở Cassiciacum, bà qua đời tuổi mới năm mươi lăm, ở Ostie, bên cạnh Augustin, khi đang chuẩn bị trở về Châu Phi. Xác bà được chôn cất trong chính ngôi nhà nơi bà tắt thở. Với những ai thắc mắc có sợ bỏ xác nơi đất khách quê người không, bà trả lời : “Đối với Chúa, không có gì là xa hay gần, đâu có sợ vào ngày thế mạt Chúa không nhận ra nơi đã phục sinh tôi” (Confessions IX,II)

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày nhắc đến “những giọt nước mắt thánh nữ Mônica đổ ra cho sự trở lại của Augustin con trai mình” đã được Chúa đón nhận với lòng yêu thương. Bà đã được yên ủi lần đầu tiên khi nghe những lời tiên báo của vị giám mục ở Thagaste lúc Bà nhờ Người đánh tan các điều lầm lạc của con trai : “Thôi mà … Tôi nói thật đấy, đứa con đã làm bà rơi nhiều nước mắt, không thể hư mất đâu” (Confessions III,12).

Phụng vụ bài đọc dẫn một trang trong sách Tự Thuật nhắc lại những ngày cuối đời của thánh nữ Mônica ở Ostie và cuộc tâm sự với Augustin : “Vậy là chỉ có chúng con nói chuyện với nhau, thật êm đềm. Quên đi quá khứ, nghĩ tới tương lai, chúng con cùng nhau tìm hiểu nơi Đấng chân lý, nghĩa là nơi Chúa, thế là cuộc sống vĩnh cửu của các thánh mà mắt chưa thấy, tai chưa nghe, trái tim không thể hiểu thấu. Tâm hồn chúng con hăm hở mở rộng đón những đợt sóng thiên đình từ nguồn mạch của Ngài, nguồn mạch sự sống trong Ngài”. Cũng trong trích đoạn đó, thánh Augustin kể lại những lời nói cuối cùng của bà mẹ thánh thiện này : “Con ơi, đối với mẹ không còn gì ở trần gian này làm mẹ vui thích. Mẹ còn làm gì ở đây đâu ? Sao mẹ còn ở đây ? Mẹ không biết. Trông đợi ở đời này đối với mẹ giờ đây đã cạn. Chỉ còn một điều mà mẹ muốn nán lại nơi đời này ít lâu là trước khi mẹ nhắm mắt, được thấy con thành người công giáo ; về điều này Chúa đã ban cho mẹ quá hơn mong đợi, vì mẹ thấy giờ đây con đã là tôi tớ Chúa đến độ coi khinh các hoan lạc trần thế. Mẹ còn làm gì ở đây ?” (IX,10)

Trong nước mắt và lời cầu nguyện, thánh Mônica đã biết tin tưởng vào Chúa và giao con trai Augustin cho Người. Gương mẫu của bà cho chúng ta thấy rằng muốn đưa một linh hồn về với Chúa, cần hành động một cách hiền từ, tin tưởng và kiên nhẫn, bởi vì Chúa không dập tắt đốm lửa sắp tàn
(Is 42,3), Người sẽ can thiệp vào thời điểm của Người.

* * *

Ngày 28.8
Thánh Augustin
Giám mục và tiến sỹ Hội thánh (354.430)
Lễ buộc ; Bắc Phi : lễ trọng

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Việc kính nhớ thánh Augustin, một trong bốn tiến sỹ lớn của Giáo hội la tinh, qua đời tại Hippone ngày 28 tháng 8 năm 430, đã xuất hiện trong sách các phép thế kỷ thứ III, và ở Roma từ thế kỷ XI.

Aurelius Augustinus sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại Thagaste (nay là Souk-Ahras, Algéric) ở châu Phi thuộc Roma. Là công dân Roma, con một người cha không công giáo tên Patricius và một bà mẹ công giáo tên Mônica, Augustin trước học văn phạm ở Madanre, và sau, năm 371, đi sang Carthage thủ phủ châu Phi Roma để theo học triết lý- Mê say đọc Hortensius của Cicéron, Augustin khám phá triết học và đam mê đi tìm chân lý. Vì nhu cầu nuôi sống gia đình ông buộc lòng nhận dạy tu từ học ở Carthage. Thời gian đó ông theo lạc thuyết Manichée trong chín năm, mong tìm được chân lý nơi tôn giáo này. Trước tiên, ông bị mê hoặc bởi giáo thuyết này tưởng có thể giải thích sự tranh chấp giữa Thiện và Ác, cái đẹp và những điều lộn xộn nơi thế giới, nhưng rồi ông thất vọng. Năm 383, Augustin bỏ Carthage sang Roma trước khi đến Milan lúc đó là thủ phủ đế quốc Roma phương Tây tại đây ông cũng dạy tu từ. Mẹ Ngài là bà Mônica đã đến tìm gặp ông ở đây, và cũng chính tại đây, đường chuyển biến tinh thần của Augustin kết thúc nhờ thánh giám mục Ambroise mở đường cho Ngài hiểu Kinh thánh và một thứ tân Platon thuyết có vẻ đáp ứng niềm khát mong chân lý nơi Ngài. Giờ đây Augustin đã sẵn sàng cho bước nhảy tới Chúa, tức là trở lại.

Một giai thoại nhiều người biết xãy ra trong vườn nhà Ngài ở Milan đã được thánh nhân kể trong quyển Tự Thuật : “Tâm hồn đau đớn, con tim tan nát, tôi đang khóc, bỗng tôi nghe từ nhà bên cạnh tiếng hát của một người con trai hay con gái không rõ. Tiếng hát không rõ nhưng nghe lặp nhiều lần : Tolles, lege. Tolles, lege (Cầm lên, đọc đi ! Cầm lên, đọc đi !). Vậy nên tôi vội vã đến chỗ Alypius ngồi, tôi cầm lấy cuốn sách của Thánh Tông đồ, mở ra và im lặng đọc khúc đầu tiên bắt gặp : Đừng chè chén say sưa, đừng chơi bời dâm đãng, cũng đừng cải cọ ghen tuông. Trái lại hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều theo xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng (Rm 13,13) … Chính lúc này, như có một luồng sáng tỏa lan hồn tôi phá tan mọi bóng tối nghi ngờ” (XIIII,12). Tám tháng sau, thánh Ambroise rửa tội cho Ngài trong đêm Phục sinh đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng tư năm 387.

Năm 388 sau khi mẹ qua đời tại Ostie, Augustin trở về Thagaste ở châu Phi cùng với ông bạn Alypius và Adeodat con trai. Mong ước cuộc sống chuyên tu, Augustin tập hợp một số bạn hữu lại và cùng sống đời dòng tu, chuyên nghiên cứu và cầu nguyện trong ba năm (388-391), sau đó, thể theo đề nghị của giáo dân Hippone, Augustin thụ phong linh mục để giúp đỡ Đức giám mục Valère. Năm 395 Ngài thụ phong giám mục và một năm sau, kế vị Đức giám mục Valère làm giám mục Hippone, thành phố lớn thứ hai châu Phi. Từ đây, trong suốt ba mươi lăm năm trong đại thánh đường An Bình, Ngài chú giải Thánh vịnh và các Sách thánh, ngồi tòa xử án, theo dõi việc quản trị tài sản Hội thánh, trả lời các thư tín đến từ khắp phương Tây, biện luận đã kích lạc giáo, đặc biệt là phái Donatus và Pélagius.

Cùng với các giáo sỹ của mình sống đời tu trì, thánh Augustin cũng sáng tác một số tác phẩm rất quan trọng, như Confessions (397-401), Giáo lý dự tòng (400), Giáo lý công giáo (394-416). Đối với phái Donatus vẫn tự phụ là Giáo hội của những người Trong Trắng, thánh thiện, Ngài dùng nhiều thái độ khác nhau liên tục, khi diễn thuyết, lúc tranh luận cho đến một cuộc tranh luận phản biện tại Carthage năm 411 dưới sự chủ tọa của một đại diện hoàng đế đã đến kết luận rằng người công giáo mà Augustin là phát ngôn nhân, thắng. Từ đó những người theo phái Donatus bị cảnh sát hoàng đế truy đuổi. Với phe Pélagius (bị Roma kết án năm 417), Augustin chứng tỏ là một tiến sỹ lớn về ân sủng và tiền định. Cũng trong thời gian đó một số tác phẩm khác ra đời : Đô thành Thiên Chúa (413-424), Chúa Ba Ngôi (399-422). Cuốn những lời phản biện (Rétractations) viết vào những năm cuối đời (426-427) là chứng tá đức khiêm tốn thánh Augustin : “Tôi đọc lại các tác phẩm thô hèn của mình và nếu có đoạn nào gây cho tôi hoặc có thể gây cho người khác khó chịu thì lúc đó tôi lên án nó, có lúc phải giải thích ý nghĩa cần có để biện minh cho nó”.
Những năm cuối đời của thánh Augustin nhuốm màu ảm đạm vì châu Phi Roma và Hippone, thành phố có toà giám mục của Ngài bị người Vandales vây hãm và xâm chiếm ; lúc này đã bảy mươi sáu tuổi, thánh Augustin giám mục vẫn cần mẫn chu toàn bổn phận giáo huấn và quản trị, đồng thời lo cho rất nhiều người di cư đến tìm trốn tránh tại thành phố. Tháng thứ ba kể từ ngày thành phố bị vây hãm, Người bị bệnh và qua đời ngày 28 tháng 8 năm 430, trối các sách vở của mình lại cho Giáo hội Hippone. Mười lăm tháng sau khi người Vandales chiếm thành phố, mộ và thư viện thánh Augustin vẫn được tôn trọng.

Các ảnh tượng về thánh Augustin rất nhiều chứng tỏ ảnh hưởng lan tỏ lạ thường của sự thánh thiện và giáo lý Người, đặc biệt là các tác phẩm của Fra Angelico và G.de Crayer (Louvre) và G.Coustou (Versailles).

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày van xin Thiên Chúa cho chúng ta được tràn đầy tinh thần của thánh Augustinô, chỉ khao khát mỗi mình Thiên Chúa và chỉ tìm Người vì Người là nguồn của sự khôn ngoan. Đề tài tìm kiếm chân lý là trọng tâm của đời sống thánh nhân ; ngài nói với Cassiciacum : “Tâm hồn con xin nói Ngài : Con đã đi tìm nhan thánh Chúa ! Lạy Chúa ! cho đến bây giờ, con vẫn đi tìm nhan thánh Ngài !”(Tự thuật IX,3).

Trong bản văn Phụng vụ giờ kinh, vị thánh tiến sĩ thành Hippone ca tụng chân lý : “Chí có tình yêu mới có thể nhận ra chân lý. Ôi chân lý vĩnh hằng ! Ôi tình yêu vĩnh cửu, ÔI sự đời đời đáng yêu ! Ngài là Thiên Chúa của con, con khao khát Chúa đêm ngày…Cuối cùng con đã được ôm lấy Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người , Đức Giêsu Kitô !…Chính Người đã gọi chúng con và nói rằng : Ta là Đường, là sự Thật và là sự sống” (Tự thuật VII, 10.18). Bài đọc này trích đoạn nổi tiếng mà chúng ta gặp trong điệp ca Magnificat : “Ôi sự đẹp đẻ vừa cổ kính vừa mới lạ, Con đã yêu Người quá trễ tràn! nhưng bây giờ : Ngài ở trong con trong khi con còn ở bên ngoài, và ở bên ngoài con lại đi tìm Chúa …Chúa luôn ở với con, còn con con không ở với Chúa …Ngài đã gọi con, đã kếu lớn tiếng cuối cùng Chúa đã thắng sự điếc lát của con ; Chúa tỏ sáng, Chúa bừng lên và Chúa đã xua đuổi sự tối mù của con…” (Tự thuật ; Chúa tỏ sáng, Chúa bừng lên và Chúa đã xua đuổi sự tối mù của con…) (Tự thuật X,27).
Sự khôn ngoan của thánh Augustinô được nhận thấy trong Lề luật viện tư tưởng, xuất phát từ những giáo huấn trong một lá thư của thánh tiến sĩ, được phổ biến rộng rãi vào thời Trung Cổ. Bản Luật này cũng ảnh hưởng trên thánh Bênêđíctô, sau đó là các kinh sĩ của thánh Phanxicô và thánh Đaminh. “Từ một trái tim duy nhất và từ một tâm hồn duy nhất, hướng về Thiên Chúa”luôn là luật căn bản, như lý tưởng của chính cộng đoàn tiên khởi (x. Cv 2,42-47).

Lời nguyện trên lễ vật rút cảm hứng từ Chuyên luận về thánh Gioan (26,13) : “Lạy Chúa, ước gì bí tích tình yêu của Chúa trở thành dấu chỉ sự hiệp nhất và dây bác ái cho chúng ta.” Thánh Augustinô, sống trong một Giáo Hội bị xâu xé vì lạc giáo, đã dấn thân trong suốt thời làm Giám Mục để tạo lại sự hiệp nhất, và vì “ngoài Hội Thánh không có ơn Cứu Độ!”(Về bí tích Rửa tội 4,17,24) ; ngài khuyến khích : “ Chúng ta hãy yêu Thiên Chúa như người cha và yêu Hội Thánh như người mẹ …Thiên Chúa như Đức Chúa và Hội Thánh như tớ nữ, vì chúng ta là con của tớ nữ này ; hôn nhân này được đặt nền tảng trên một tình yêu vĩ đại ; không ai được xúc phạm đến vị hôn thê và xứng đáng lãnh nhận tình bạn của hôn phu.” Một trích đoạn của “Thành đô Thiên Chúa” : “Mỗi ngày, Hội Thánh khi dâng hiến Đức Kitô, cũng học hỏi để tự dâng hiến chính mình” (X,20).

Lời nguyện Hiệp Lễ lấy cảm hứng từ các Bài giảng của thánh nhân (57,7) làm nổi bật một khía cạnh khác của giáo lý thánh Augustinô : bí tích Thánh Thể giúp chúng ta đồng hình đồng dạng với Đấng mà chúng ta rước lấy. Vì thế chúng ta cầu nguyện : “Lạy Chúa, xin cho việc thông phần vào Bàn Tiệc thánh hóa chúng con, để một khi chúng con là chi thể của Nhiệm Thể của Người, chúng con thật sự trở thành điều chúng con đã lãnh nhận.”

Thánh Tiến sĩ Ân sủng, vì đã chống lại nhóm Pelagius, cũng là kẻ bảo vệ tự tự do của con người, vì sự tự do này không bị sự toàn năng của Thiên Chúa bóp nghẹt, nhưng ngược lại được nâng lên thật cao qúi, vì Thiên Chúa một khi đội mão triều thiên cho công nghiệp của chúng ta (nhờ ân sủng) thì cũng đội triều thiên cho chính ân sủng của Người (sự tự do).

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tuyên bố về thánh Augustinô : “Tất cả phẩm chất của các Giáo phụ nổi bật trong thánh nhân ở mức độ tuyệt diệu nhất.” Thật vậy, không ai trình bày về Hội Thánh như ngài. Say mê Thiên Chúa và con người, ảnh hưởng của ngài có thể nói là nổi bật nhất trong phạm trù công giáo.
* * *

Ngày 29.8
THÁNH GIOAN TẨY GIẢ BỊ HÀNH QUYẾT
Lễ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ kỷ niệm thánh Gioan Tẩy giả bị hành quyết được cử hành để kỷ niệm ngày khánh thành một nhà nguyện trong hầm mộ ở Sébaste, Samarie, nơi tôn kính thánh nhân từ nửa đầu thế kỷ IV ; đến thế kỷ V, lễ được cử hành ở Jérusalem, và tại các Giáo hội phương Đông cũng như ở Roma từ thế kỷ VI, với tước hiệu thánh Gioan bị hành quyết hoặc khổ nạn.

Việc hành quyết thánh Gioan Tẩy đã gợi hứng cho nhiều nghệ sỹ như Pisano và Andrea del Sarto (Florence), Van der Weyden (Berlin), Tiepolo (Bergame)

2. Thông điệp và tính thời sự

Các kinh nguyện trong thánh lễ ca tụng “người con vĩ đại nhất trong các con cái loài người (theo Mt 11,14) được gọi là “người công chính và thánh thiện” (Điệp ca II Kinh sáng)

a. Lời nguyện trong ngày nhấn mạnh Thiên Chúa đã muốn “thánh Gioan Tẩy giả là người đi trước cả trong việc sinh cũng như tử của con Chúa”. Đề tài về việc thọ nạn có tính tiên báo đó của thánh Gioan được bài giảng của thánh Bêđa khả kính triển khai và Giáo hội cho chúng ta đọc trong Giờ kinh Phụng vụ : “Vị thánh Tiền Hô về việc sinh hạ, việc rao giảng và cái chết của Chúa, qua cái chết của mình, đã chứng tỏ một sự can đảm xứng đáng thu hút cái nhìn của Thiên Chúa … yêu chuộng cái chết chắc chắn sẽ tới (những con người giống thánh nhân như thế) đã lựa chọn đón nhận nó bằng cách tuyên xưng danh Đức Kitô và nhờ thế lãnh được cành lá chiến thắng của cuộc sống trường sinh”. Lời nguyện trong ngày cũng nhắc lại “thánh nhân đã hiến mạng sống vì lẽ công chính và vì chân lý”. Ngài loan báo không chút sợ sệt trước mặt dân chúng cũng như vua quan mặc dầu có nguy hiểm cho cuộc sống

b. Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh ơn gọi thánh Gioan Tẩy giả đi “rao giảng nơi hoang mạc” để loan báo Nước trời sắp tới “Tôi không phải là Mêssia, tôi được sai đi trước báo tin Người đến ; Người sẽ lớn lên và tôi sẽ nhỏ đi” (xem Ga 3,28.30). Nhưng ngần ấy đã là niềm vui, vì như điệp khúc ca vịnh Zacharie nhắc lại : “ Bạn của Hôn thê nghe tiếng của Hôn thê liền vui mừng” (xem Ga 3,29).

c. Trong kinh tiền tụng, chúng ta gặp lại những biến cố đặc trưng trong sứ vụ của Vị Tiền hô. Trước hết là việc Người sinh ra đã đem lại niềm vui lớn. Thứ đến, việc nhận ra Đấng Mêssias mà ngài công nhận là Chiên Thiên Chúa và được Ngài rửa cho trong sông Giorđan. Sau hết là “chứng tá đẹp đẽ nhất” của Ngài đối với Đức Kitô chính là cái chết làm chứng của mình.

Là tiền hô của Đức Kitô trong việc sinh ra cũng như trong cái chết, thánh Gioan Tẩy giả, Đấng rao giảng trong hoang địa sự sám hối, tính ngay thẳng, đã để lại cho chúng ta ý nghĩa đích thực của việc thanh tẩy : đó là dâng hiến mãi mãi cuộc đời mình, trong đức công chính và chân lý Phúc âm, đến độ hy sinh trọn vẹn bản thân mình.
* * *

Tại Bỉ : Ngày 31.8
ĐỨC BÀ TRUNG GIAN
Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo, đề tài Đức Bà trung gian (hiểu như là Đấng cầu bầu) đã thấy xuất hiện. Chỉ cần nhắc lại kinh Sub tuum praesidium thế kỷ III hay IV, cũng như giáo huấn của các giáo phụ và tiến sỹ Hội thánh từ thế kỷ IV đã từng sử dụng tước hiệu đó, mỗi lần đều có xác minh ý nghĩa mới. Thánh Bênađô là âm vang của đề tài đó trong câu nói dịu kỳ : “Thiên Chúa không muốn ta có được gì mà không qua tay Đức Maria” (Trong Vig.Nativ. Domini, bài giảng 3,10). Tước hiệu Đức Bà trung gian đã khá phổ biến từ thế kỷ XII nhưng chỉ thực sự triển khai thành luận đề tín lý từ thế kỷ XVII. Sau hết vào thế kỷ của chúng ta, thần học có khuynh hướng nhấn mạnh chức năng làm mẹ của Đức Maria. Đức Gioan Phaolô II tuyên bố : “ Thực tế tính trung gian của Đức Maria liên kết chặt chẻ với chức năng làm mẹ của Người” (RM 38).

Chính nhờ Đức hồng y Mercier, tổng giám mục Malines, với sự cộng tác của viện Đại học Lonvain và sự yểm trợ của Hội đồng giám mục Bỉ, của toàn giáo sỹ giáo dân cũng như các Hội dòng, nên đã dâng lời thỉnh cầu vào năm 1921 lên Đức giáo hoàng xin định tín tính cách trung gian phổ quát của Đức Maria, cũng như chấp thuận việc cử hành thánh lễ và kinh thần vụ riêng kính Đức Bà trung gian. Năm 1922 Đức Bênêđíctô XV chấp thuận cho các giáo phận Bỉ được cử hành thánh lễ và thần vụ theo yêu cầu, nhưng không đặt vấn đề tuyên bố thành tín điều
Vatican II giữ lại tín hiệu “trung gian” được đặt cho Đức Maria, nhưng với những cách xưng hô khác, tất cả đều phát sinh từ “Thiên chức làm mẹ của Đức Maria, trong nhiệm cục ân sủng … cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mỗi người được tuyển chọn … Vì thế trong Giáo hội, Đức nữ trinh được kêu cầu qua các tước hiệu : Trạng sư, vị Bảo trợ, Đấng phù hộ, Đấng trung gian. Tuy nhiên phải hiểu các tước hiệu ấy thế nào để không thêm bớt gì vào vinh dự và quyền năng của Đấng trung gian duy nhất là Đức Kitô” (GH 62).

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện thánh lễ nhắc lại những nền tảng thần học trong tư cách trung gian của Đức Maria, Đấng hoàn toàn tự do ưng thuận “thánh ý Chúa trở nên mẹ của Con Chúa và đã hoàn toàn thông hiệp vào công trình cứu rỗi của Người” (GH 53 và 56).

Bài Phúc âm (Ga 9,25-27) nhắc lại ơn gọi làm mẹ của Đức Maria đối với Giáo hội “… Đức Giê-su khi thấy mẹ và cạnh Mẹ có môn đệ Người yêu thương, đã nói với mẹ : Thưa Bà, đây là con Bà. Rồi Người nói với môn đệ : Đây là mẹ con”. Công đồng Vatican II giải thích bản chất của tư cách mẹ trung gian mà Đức Maria thực thi chỉ là “vai trò phụ thuộc” nhưng có thật : “Không bao giờ có thể đặt một tạo vật ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và cứu chuộc. Nhưng cũng như chức tư tế của Chúa Kitô được thông ban dưới nhiều hình thức khác nhau … và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các tạo vật, thì sự trung gian duy nhất của Đấng cứu thế hkông những không loại bỏ mà còn khuyến khích các thụ sinh cộng tác, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất. Vai trò tùy thuộc ấy của Đức Maria, Giáo hội không ngần ngại tuyên xưng” (GH 62).

Lời nguyện mở đầu thánh lễ kết thúc bằng lời cầu xin Chúa ban cho chúng ta, nhờ lời cầu bầu của Đức trinh nữ “được tiến bộ trong đức tin, đức cậy và đức mến và biết cộng tác quãng đại vào sứ vụ của Giáo hội”. Cũng như Đức Maria “đã công tác tuyệt đối vào công trình của Đấng cứu thế và qua sự vâng phục, qua đức tin, đức cậy, đức mến nồng nàn để các linh hồn tìm lại được sự sống siêu nhiên”, cũng vậy mọi kitô hữu sẽ cố gắng bắt chước Mẹ Đấng cứu chuộc, Đấng mà “đời sống là một gương sáng của tình mẫu tử thắm thiết. Tình mẫu tử ấy phải là động lực của tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo hội để tái sinh nhân loại” (GH 65).

Bài giảng thánh Bênađô được Giờ kinh Phụng vụ trích lại, khuyến khích chúng ta “… hãy cầu khấn Đức Maria … hãy nhìn ngắm Đức Maria … nghĩ đến Đức Maria …” và nhắc nhở lời yêu cầu này : “Muốn được Người cầu cho, đừng quên noi gương sống của Người”.

* * *

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *