Tìm Hiểu GIÁO THUYẾT ĐẠO DO THÁI

GIÁO THUYẾT ĐẠO DO THÁI

Những quan niệm tôn giáo và luân lý của dân  Do-thái giải thích những biến cố lịch sử cũng như những phong tục đặc biệt của dân đó. Tìm hiểu và đi sâu vào những quan niệm đó, tức là tìm hiểu và đi sâu vào linh hồn của đạo Do-thái và như thế ta sẽ dễ dàng hiểu tư tưởng các tác giả Tân Ước, những người đã sinh trưởng và sống trong cảnh vực Do-thái.

Thiên Chúa, Luật của Ngài, thiên thần và quỷ, những đặc ân của dân Israel, lòng trông đợi Đấng Mêsia, vấn đề thế mạt là những đề tài giáo lý quen thuộc của đạo Do-thái mà các tác phẩm Do-thái thường đề cập tới.

1. Thiên Chúa

Vinh quang cao cả của dân Do-thái là đức tin độc thần, đức tin này được gìn giữ qua bao thế hệ và được bảo vệ trước những tấn công mê hoặc của sự sùng bái ngẫu tượng. Lòng tin ở Thiên Chúa duy nhất và gớm ghét bụt thần thường được diễn tả một cách mạnh mẽ trong văn chương Do-thái (Hen II, 10,6; 66,2,5; Giub 12,2 tt;. Ta thấy người Do-thái có một quan niệm rất cao cả về Thiên Chúa qua những danh từ mà họ dùng để chỉ Ngài.

Thiên Chúa là Chúa tể (Hen I,1,2), là Chúa các thần linh (37,4), là Chúa vinh quang, Chúa công bằng (22,14), khôn ngoan (63,2), Chúa tể thế giới, Chúa các vua, Chúa những người giàu sang quyền thế (63,2), Chúa thẩm phán, Vua hằng hữu (25,5). thiên Chúa là Đấng quyền phép không ai có thể chống lại được; là Đấng Tối cao (IV Esd 4.2), tối đại (Hen I,1,3).

Sự hoàn thiện vô biên của Thiên Chúa được diễn tả rõ ràng trong văn chương Do-thái. Người ta ca tụng vẻ uy nghi và sự vinh hiển của Chúa ngự trên trời và đặc biệt ca tụng uy quyền Ngài, sự khôn ngoan thánh thiện của Ngài, lòng nhân hậu của Ngài đối với tội nhân.

Vì có một quan niệm cao cả về Thiên Chúa nên người Do-thái hết sức kính trọng Thánh Danh Chúa. Họ rất cẩn thận để không phạm tới Thánh Danh Ngài, và vì thế họ dùng những danh từ trống hay những kiểu nói quanh để chỉ Chúa, ví dụ : Tên, Trời, “Vị phán một lời thì thế giới liền có”.

Những vẻ hoàn thiện của Chúa được biểu lộ trong các công trình của Ngài, trong sự tạo dựng vũ trụ, trong sự cai quản thế giới, trong sự thẩm phán. Người ta nhấn mạnh đến công trình sáng tạo của Chúa (IV Esd 6,38-54).

Chúa phán một lời thì tất cả mọi sinh vật đã từ hư vô mà có. Chúa đã dựng nên mọi vật và Chúa gìn giữ mọi vật đã dựng nên. Thiên Chúa ảnh hưởng một cách quyết định trên mọi hoạt động của người ta và công của các việc ta làm thuộc về Chúa, nhất là các việc thiện.

Cũng thế, mọi sinh vật đều do Chúa dựng nên và hoàn toàn phục quyền Chúa, mọi sinh vật sẽ phải Chúa phán xét. Chúa là Đấng thẩm phán công minh.

2. Luật (Torah)

Năm 587 trước Công nguyên, Nabucodonosor phá hủy Đền thờ Giêrusalem. Đối với người Do-thái, đó là một tai họa lớn vì Đền thờ là trung tâm phụng tự quốc gia và là yếu tố đoàn kết toàn dân. Họ David mất ngôi, một yếu tố thống nhất quốc gia khác nữa bị tiêu diệt.

Tuy phải tản mác khắp nơi, nhưng dân Do-thái không bị tan rã, không bị đồng hóa với các dân tộc nơi họ bị lưu đày và vẫn giữ được sự duy nhất về dân tộc tính và tôn giáo. Sự kiện này là do lòng yêu mến Luật tạo ra. Ngụy thư Baruch viết : “Bây giờ chúng ta không còn gì hết, chỉ còn Đấng mạnh mẽ và Luật của Ngài” (83,3). Người Do-thái có một quan niệm rất cao về Luật. Đối với họ, Luật có một sức mạnh cứu độ.

Luật tiếng Do-thái là Torah. Theo từ nguyên học, Torah có nghĩa là lời giáo huấn; theo Kinh Thánh và văn chương Rabbi, Torah chỉ phương diện thực hành của mạc khải:

Lời Chúa là nguyên tắc hành động. Văn chương Do-thái đồng thanh ca tụng Luật. Luật là một thực tại linh thiêng vì là sự khôn ngoan Thiên Chúa nhập thể (Hc 24,1-3). Luật có đặc tính bất biến và tồn tại đến muôn đời; từ trời xuống và có thể ban sức mạnh cho người ta (Esd 14,22.). Của quý báu vô giá này là độc quyền của Israel. Do đó dân Israel vượt lên trên các dân tộc khác.

Những vị tiến sĩ Do-thái dùng các kiểu nói bóng diễn tả ý nghĩa cao cả và quý trọng của Luật. “Những lời của Torah là hương thơm của đời sống” . “Luật là nước, rượu, dầu, mật; vì cũng như các yếu tố đó, Luật là nguồn ánh sáng và sức sống”. Là một thực tại linh thiêng, nguồn của mọi điều thiện, dây liên kết giữa Chúa và dân Ngài. Luật còn là rường cột vũ trụ, trung tâm mọi tư tưởng và tình cảm của người Israel ngoan đạo. Đọc qua văn chương Do-thái, ta có cảm tưởng rõ ràng rằng Luật đối với người Do-thái có một địa vị như Chúa Giêsu đối với các tín hữu.

Trong tư tưởng của nhiều người đồng thời với Chúa Giêsu, Torah là dụng cụ công chính hoá và cứu rỗi vì Luật làm cho mọi người hiểu biết và cho họ năng lực để thi hành điều thiện và nhờ những việc thiện họ đáng được hưởng sự công chính và sự sống, Luật làm cho người ta sạch tội. Vì thế quan niệm về Luật có liên quan với vấn đề tự do và thưởng phạt.

Văn chương Do-thái thường chú trọng đến sự tự do của con người và con người có khả năng thi hành mọi đòi hỏi của luân lý và ít chú trọng đến ơn Chúa.

Những tác phẩm Do-thái nói rõ về nguyên tắc thưởng phạt và hình như theo các tác phẩm đó nguyên tắc này là “căn bản ơn cứu độ”.

Ý niệm cao cả về tự do của con người cùng với nguyên tắc thưởng phạt đã làm cho một số người Biệt phái xác tín là Thiên Chúa mắc nợ họ và vì những việc họ làm, họ có quyền hưởng những ân huệ thời đại cứu thế và cánh chung.

Nhiều tài liệu cho ta biết về sự sùng bái Luật, về sự cứu độ hiệu nghiệm của Luật. Những tài liệu đó cũng cho ta thấy lòng tín nhiệm sâu xa vào sự tự do của con người và khả năng thực hành, đồng thời nhấn mạnh về ý tưởng thưởng phạt. Thái độ đó đã làm cho nhiều người sa vào hình thức chủ nghĩa, nghĩ rằng một khi thi hành những việc và những lễ nghi bên ngoài là đã làm trọn phận sự đối với Thiên Chúa, không cần chú trọng đến ý bên trong.

Nhưng ta cũng không nên quên tư tưởng của các ngụy thư và những cảo bản tìm thấy gần Biển Chết. Bên cạnh trào lưu tư tưởng quá lạc quan có một trào lưu tư tưởng khác mà ta có thể nói là bi quan. Ngược lại với giáo huấn của các Rabbi, tư tưởng nầy xác nhận sự thiếu sót và bất lực của Luật và mong đợi sự cứu độ ở lòng từ bi của Chúa.

3. Luật truyền khẩu

Luật Môsê gồm những mạc khải của Thiên Chúa cho các Tổ phụ và nhất là mạc khải được truyền lại trong Ngũ thư cần phải được xác định, chú giải về những điểm không được rõ và thích nghi với hoàn cảnh mới. Sự thích nghi và xác định này được thực hiện dần dần do các Luật sĩ (Scribes) và tạo thành luật truyền khẩu.

Người ta cho rằng luật truyền khẩu có từ thời Môsê. Luật truyền khẩu hay những lời dạy của tiền nhân (traditions des anciens) gồm có hai loại : Loại có tính cách truyện ký và loại có tính cách luật pháp. Loại truyện ký quảng diễn lịch sử thánh, một phần có giá trị dựa trên tài liệu, một phần vô giá trị. Chúng ta có một vài dấu vết cả ở trong Tân Ước như : dựa vào truyền thuyết Do-thái, người ta xác định rằng Chúa đã ban Luật cho dân Israel qua các thiên thần làm trung gian (Gal 3,19; Dt 2,2; Giu 9; 1 Tim 3,7). Những truyền thuyết này gọi là Haggada (= truyện ký).

Nhưng những lời dạy của tiền nhân chú trọng nhiều hơn đến phong tục, đó là những nguyên tắc thực hành do các bậc thầy có danh tiếng lập ra qua nhiều thế hệ. Những quy tắc này ấn định cách đối xử trong mọi trường hợp của đời sống. Những nguyên tắc này do các tiến sĩ luật lập ra và bắt dân theo đã được thu thập lại trong sách Mishna và gọi là Halakha, có nghĩa là quy tắc hành động.

Người ta gán cho luật truyền khẩu một giá trị tương đương và đôi khi hơn cả luật biên tập. Luật truyền khẩu là như bức rào của luật biên tập và thực ra ta phải công nhận trong đó có nhiều lời khuyên khôn ngoan, nhưng ta cũng phải công nhận rằng với thời gian, luật của các thầy Rabbi trở nên rất phiền toái và tỉ mỉ, do đó làm khó dễ hơn là san bằng con đường giới răn của Chúa.

4. Thiên thần và quỷ

Phúc Âm nhiều lần nhắc tới các Thiên thần. Phúc Âm cũng nhiều lần nói tới quỷ như là thù địch của nhân loại và nhất là thù địch của Nước Thiên Chúa do Chúa Giêsu sáng lập. Thực ra trong thời đại Tân Ước, giáo thuyết Do-thái về các Thiên thần, một phần do ảnh hưởng ngoại lai, đã được chú ý đặc biệt nơi một số giáo phái, nhưng nhiều khi thái quá, do trí tưởng tượng. Trái lại, giáo thuyết của Phúc Âm về các Thiên thần và quỷ căn cứ vào truyền thống của Cựu Ước rất mực thước và có căn bản.

Các Thiên thần được Chúa tạo dựng từ thuở sơ khai (người ta tranh luận về vấn đề Chúa dựng nên Thiên thần ngày thứ nhất hay ngày thứ hai, vì thế loại trừ các thuyết “nhị nguyên”, phiếm thần và do đó loại trừ sự thờ phượng các thiên thần). Thiên thần là thụ tạo không có thể xác, người ta không thể trông thấy và không thể hiểu được. Thiên thần là cận thần của Chúa, rất hòa hợp với nhau và chỉ biết ca ngợi Chúa và thi hành mệnh lệnh của Ngài. Các ngụy thư mô tả với nhiều chi tiết các phẩm trật Thiên thần và những nhiệm vụ của các vị đó. Ngoài sự phân chia các Thiên thần ra hai bậc : Thiên thần và Tổng lãnh Thiên thần, người ta còn nói tới các vị Seraphim, Cherubim, Ophanim, các vị Hành chánh, Quyền bính, Dũng lực, Bệ tọa, …

Tuy công nhận Thiên thần là các vị không có xác, các ngụy thư có nhiều đoạn dài tả hình thể các vị đó ở trên trời hay khi hiện ra : gán cho các vị đó có cánh … Một số các Thiên thần cai quản thiên nhiên và vũ trụ, các vị khác giúp việc Chúa trong lúc thẩm phán với tư cách là công tố viên, trạng sư hay thi hành án đã ra, những vị khác can thiệp vào lịch sử Do-thái và bênh vực phù hộ những người công chính, có những vị giữ những nhiệm vụ quan trọng trong việc Chúa ban Luật cho dân Ngài (x. Gal 3,19; Cv 7,38). Những nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt thường do các Tổng lãnh Thiên thần phụ trách : Michael là thủ lãnh đạo binh của Đức Giavê, là bổn mạng bênh vực dân Chúa và dẫn đưa các linh hồn đến trước tòa Chúa. Gabriel là Thiên thần mạc khải, truyền tin những bí mật của Thiên Chúa. Raphael là Thiên thần chữa các bệnh xác và hồn …

Người ta cũng nhắc tới các vị Uriel, Raguel, Saraqiel, Ramiel và nhiều vị khác nữa. Giáo lý về quỉ cũng không kém tiến bộ. Quỉ là các Thiên thần đã sa ngã, “ác thần”, thần dơ, là thù địch của Chúa và nhân loại (Kng 2,24; St 3,5). Sự hiện hữu của các thần ác là một truyền thuyết dựa trên một vài đoạn Kinh Thánh (x. Lv 17,7; Đnl 32,17; Tv 106,37; Is 13,21; 34,14). Về nguồn gốc ác thần, những truyền thuyết không giống nhau, trừ điểm này là Chúa đã dựng nên các thần đó tốt cả, nhưng vì lỗi của họ, họ đã trở nên ác thần. Một vài truyền thuyết mà các sách Henoch, Giubilêô, Khải huyền Baruch là đại biểu, cho rằng Sáng thế ký 6,1-4 kể lại sự sa đọa của các ác thần, nhưng theo những truyền thuyết khác, các thần đó đã tự ý chống lại Thiên Chúa hay đã do một vài thủ lãnh xúi giục.

Văn chương Rabbi mô tả bản thể và hoạt động các quỉ một cách rất lố bịch : quỉ có những hình thể lạ lùng, có cánh, có ăn uống, sinh sản và biết tương lai. Các ác thần không chống lại Thiên Chúa bằng chống lại loài người (nhưng không làm hại được người công chính); ác thần có thể làm hại người ta trong thể xác và trong tâm hồn, vì thế sinh nhiều sợ hãi, mê tín và các phép trừ quỉ (Mt 12,27). Các quỉ cũng có một thủ lãnh. Quyền lực của thủ lãnh này sẽ bị tiêu diệt trong thời đại Cứu thế. Thủ lãnh đó có nhiều tên : Satan, Belial, Mastema, Azazael, Beelzebul (Mc 3,22; Lc 11,15; Mt 9,34; 12,24; 10,25 …). Một việc thảm hại mà Satan đã làm cho loài người là cám dỗ nguyên tổ phạm tội (x. Kng 2,24).

5. Dân Chúa chọn

Những người Do-thái xác tín rằng họ là một dân tộc khác với các dân tộc khác và được Chúa yêu thương.

Theo sách Khải huyền Baruc (48,20), Israel là một dân tộc mà không một dân tộc nào có thể sánh được, một dân tộc vượt trên mọi chủng tộc vì đã được Chúa ban cho Luật để hộ giúp và nâng đỡ. Sách IV Esdra còn dùng những lời tha thiết hơn để ca tụng địa vị đặc biệt của Israel.

Trong phạm vi dân Chúa chọn, các tổ phụ : Abraham, Isaac, Giacob và luật gia Môsê trổi hơn cả. Những vị này nổi tiếng về lòng đạo đức được dân chúng khâm phục và kính trọng.

Trong các chi tộc, chi tộc Giuđa và Lêvi trổi hơn cả (Giub 31,14-20.). Có thể nói nền tảng pháp lý địa vị dân Israel đối với Thiên Chúa là giao ước long trọng trên núi Sinai (x. Bar II,19,1;).

Trong đạo Do-thái, một tư tưởng đã được các tiên tri nói tới nhiều, đó là sự cứu rỗi của một “thiểu số” hay “số sót”. Chúa phạt dân Chúa nhưng không phá hủy hoàn toàn. Chúa cho Môsê biết sau khi sa ngã, dân Israel sẽ trở lại. Israel là dân Chúa nên được Chúa phù hộ cách riêng (Hen 1,20,3;). Dấu chỉ lòng yêu thương của Chúa đối với dân Ngài là shekina, nghĩa là sự hiện diện, có ý chỉ Chúa hiện diện trong Nhà Xếp và trong Đền thờ (Rm 9,4).

Người Do-thái công nhận rằng loài người do một ông tổ mà sinh ra, vì thế mọi người đều bình đẳng và suy tôn Chúa là Đấng tạo thành muôn loài (IV Esd 6,55 tt). Dầu vậy, dân Do-thái hiên ngang vì những đặc ân của họ, nhiều khi khinh miệt các dân khác. Theo người Do-thái, những dân khác tuy cũng do Adam mà sinh ra nhưng chỉ là không, giống như một chút nước bọt, và sự đông đảo của họ chỉ như là giọt nước từ một chiếc bình rớt xuống. Esdra thưa với Chúa rằng tất cả các dân ngoại đều xấu xa (3,43); người Do-thái coi các dân ngoại là nô lệ Satan. và sẽ phải số phận trầm luân
ở Gehenna.

6. Lòng trông đợi Đấng Mêsia trong đạo Do-thái

Đức tin độc thần và lòng trông đợi Đấng Mêsia là hai của báu thuộc phạm vi tôn giáo mà dân Israel được hưởng. Trải qua nhiều thế hệ, các tiên tri, khi quảng diễn những mạc khải về sự cứu độ, đã xác định ngày một rõ thêm dòng dõi, những đặc ân và sứ mệnh của Đấng Mêsia. Đấng Mêsia theo các tiên tri là con vua Đavid, là vị vua lỗi lạc, có đủ mọi tài đức và ơn Thánh linh, là vua vinh hiển và đôi khi là người Tôi tớ đau khổ (x. Is 52,13; 53,12). Văn chương Do-thái cũng nói nhiều về sự trông đợi Đấng Mêsia, về hành động của vị Thiên sai, và cố gắng nói rõ bản thể và hoàn cảnh xuất thế của Người.

Các ngụy thư cho ta biết lòng trông đợi Đấng Mêsia rất mãnh liệt trong quần chúng (Tv Sal 17,23). Lòng tin ở Đấng Mêsia đã được phổ biến ở trường các Rabbi và trong giới trí thức, cả nơi những phần tử cộng đồng Qumran và Damas.

Ta thấy tinh thần quốc gia Do-thái bộc lộ rất rõ trong quan niệm của họ về nhiệm vụ Đấng Thiên sai. Đấng Mêsia sẽ cứu dân Người; trung tâm đế quốc của Người sẽ là Sion, Thành Thánh được cải tân.

Đấng Mêsia sẽ thi hành cuộc phục hưng quốc gia từ lâu mong đợi, luận phạt những kẻ đè đầu bóp cổ dân Người và dân Do-thái sẽ được giải phóng vĩnh viễn khỏi ách nô lệ và xum họp trong xứ sở của cha ông. Đấng Thiên sai sẽ bảo đảm cho dân Người một đời sống vật chất đầy đủ. Hơn nữa, theo một vài trào lưu tư tưởng, Đấng Mêsia sẽ còn thực hiện cuộc phục hưng tôn giáo và luân lý (Tv Sal 17,28; 18,9; Jub 1,25.22). Đôi khi cũng nói tới sự cứu độ các dân ngoại (En I,84,4; 90,30-38).

Đấng Cứu thế là nguồn bao hồng ân nên những người sống dưới thời đại của Người thực là hạnh phúc. Hành động của Đấng Cứu thế rất quan trọng đối với nhân loại. Đó là một nhân vật mà đời sống luân lý, đạo đức vượt xa những người thường. Tên của Đấng Cứu thế làm ta hiểu tư cách của Người. Đấng Cứu thế được gọi là Mêsia (tiếng Hy-lạp : cristos ) nghĩa là Đấng chịu xức dầu (IV Esd 7,28; 12,32; Hen I,48,10; Bar II,70,9). Đấng Cứu thế thuộc dòng dõi Đavid, nhiệm vụ của Người là cứu độ dân Israel, đôi khi Người được gọi là Con Thiên Chúa (IV Esd 13,22); văn chương Rabbi thường gọi Người là con vua Đavid, ta cũng gặp danh từ đó trong Tân Ước (Mt 21,9). Danh từ đó chỉ dòng dõi Đấng Cứu thế và nhấn mạnh đến vương hiệu của Người. Sách Enoc dùng danh từ “Con Người” để chỉ Đấng Cứu thế, ám chỉ đến chiêm bao mà tiên tri Đaniel đã thấy (Đn 7,13). Trong sách Hênoch, danh từ Con Người xen lẫn với danh từ “Đấng được chọn”. Đấng Cứu thế cũng là tôi tớ Đức Giavê. Theo các Rabbi, vị giải phóng tương lai của dân tộc thuộc dòng dõi Đavid (IV Esd 12,32) và sẽ ngự trị vinh hiển trên dân Israel. Tuy phải số phận không may, nhưng trong tâm trí Thiên Chúa, nhà Đavid vẫn còn giữ quyền làm vua (Tv Sal 17,5). Những ẩn sĩ ở Biển Chết hình như trông đợi hai vị Cứu thế, một vị thuộc dòng dõi tư tế, một vị thuộc dòng dõi vua Đavid.

Văn chương Do-thái nói rõ Người có bản thể nhân loại. Đôi khi cũng nói đến tính cách siêu việt và tiên hữu của Người. Người đã có lâu đời trước khi xuống địa cầu (IV Esd 12,21; 13,26). Theo văn chương Talmud, tên Đấng Cứu thế có trước khi dựng nên trời đất. Các sách nhiều khi nói rõ về uy quyền cao cả của Người.

Hơn những thường nhân, Đấng Cứu thế tham dự sức mạnh (IV Esd 11,37; 12,31), sự khôn ngoan, lòng nhân hậu và sự thánh thiện của Thiên Chúa và hợp nhất mật thiết với Ngài. Những đoạn nói về sự đau khổ và sự nhục nhã của Đấng Cứu thế không được rõ ràng. Chỉ nói qua rằng Người sẽ có những địch thù, trong đó có những người không có điều độ và những người ở nhưng vô dụng. Những người nầy sẽ họp nhau chống lại Đấng Thiên sai, nhưng Đấng Thiên sai sẽ thắng chúng một cách dễ dàng (IV Esd 13,8-9).

Các sách đó cũng nói đến cái chết của Người, nhưng chỉ là một cái chết thông thường, không có một hiệu lực gì đặc biệt. Cũng như đối với mọi người, cuộc Phục sinh sẽ tiếp theo cái chết của Đấng Cứu thế (7,29-32).

Lời Isaia tiên tri về “Người Tôi Tớ Đức Giavê” (Is 52,13 – 53,12) đã nói rõ về những đau khổ của Đấng Cứu thế. Nhưng thường thường các sách Do-thái không chú trọng đến lời tiên tri này. Sách Targum có nói tới nhưng không làm nổi bật lên đạo thuyết phong phú và độc đáo này.

7. Vấn đề thế mạt trong đạo Do-thái

Những người Do-thái ngoan đạo suy niệm về những lời dạy của Cựu Ước đã xác định về vấn đề bên kia nấm mồ. Cũng như Sách Thánh, họ nhấn mạnh người ta có đời sau. Xác tín này được nhấn mạnh trong đạo thuyết “hai thế kỷ” thịnh hành trong đạo Do-thái. Về đời sống mai ngày họ tin rằng sau khi chết, mọi người phải xuống Schéol (Âm phủ, Âm ti). Hơn nữa, những ngụy thư còn cho biết khá rõ ràng về ngày cuối cùng của toàn thể nhân loại và mỗi người, về những điều sẽ xảy ra trong thời thế mạt có liên quan đến toàn thể nhân loại và về số phận mỗi cá nhân.

Số phận của mỗi người sẽ được tuyệt đối ấn định trong ngày phán xét. Ý nghĩa, mục đích, cách thức, thời giờ và các hoàn cảnh khác của ngày trọng đại đó được xác định. Cuộc thẩm phán đó sẽ đánh dấu sự toàn thắng của điều thiện và điều ác phải bị hủy diệt; mọi người đều phải chịu thẩm phán (Giub 5,14; Hen II,65,5), trong ngày đó các việc người ta đã làm đều được đem ra ánh sáng (IV Esd 14,35). Người ta cũng nhấn mạnh rằng ngày tận thế chỉ đến khi số người được sinh ra bởi Adam đã đầy đủ và tham dự hạnh phúc (IV Esd 4,36); đó đây người ta nghĩ rằng ngày tận thế có nhiều điềm báo trước, những hiện tượng lạ lùng và ghê sợ, tội ác sẽ tăng thêm và các dân tộc sẽ biến động (IV Esd 5,1-5).

Cuối cùng Thiên Chúa sẽ can thiệp và việc đầu tiên là làm cho người chết sống lại. Lòng tin người ta sẽ sống lại rất phổ biến trong dân Do-thái, tuy không hoàn toàn IV Esd 14,35; TR 295; 346; 500.. Nhiều khi chỉ chú ý đến sự sống lại của những người công chính mà không nói tới những người bất lương, những người đó phải chết vĩnh viễn. Tuy thế rất nhiều người tin rằng hết mọi người sẽ sống lại.

Sách Esdra và Baruc cho rằng cuộc sống lại sẽ thực hiện vào cuối thời đại Cứu Thế và có liên quan tới cuộc thẩm phán. Nơi khác cho rằng cuộc thẩm phán, sống lại sẽ thực hiện vào đầu thời đại Cứu Thế. Sự sống lại sẽ do quyền phép vô biên của Thiên Chúa. Sau khi sống lại (hay trong lúc sống lại), người ta sẽ được đổi mới.

Các ngụy thư cũng nói rõ tới số phận những người công chính và những kẻ bất lương sau khi chết. Chính vào dịp thẩm phán chung, Chúa sẽ phân biệt người tốt kẻ xấu (IV Esd 14,35). Những ngưòi công chính sẽ được hưởng hạnh phúc vô biên, sẽ được sống với Chúa và các Thiên thần, tràn đầy niềm vui muôn thuở (IV Esd 7,98).

Trái với niềm vui vô biên của những người công chính, kẻ bất lương sẽ phải chịu khổ cực tuyệt vọng vĩnh viễn. Một đổ nát không thể hàn gắn là số phận những người đó. Họ sẽ bị Chúa chúc dữ, sẽ bị vĩnh viễn tách khỏi cuộc sống hạnh phúc của những tôi trung của Chúa và bị đau khổ xâu xé.

Nhiều sách nhấn mạnh về tính cách vĩnh viễn của hình phạt mà kẻ bất lương phải chịu. Đôi khi ta ngạc nhiên thấy các sách Do-thái nói đến tính cách tạm thời và mau qua của hình phạt Gehenna; nhưng tính cách tạm thời này chỉ áp dụng cho một vài hạng người thôi, hạng người này có thể được luyện sạch trong đời sống mai sau. Hiện nay, những người Do-thái vẫn cầu cho người quá cố.

Nhưng tác động canh tân của Thiên Chúa không phải chỉ giới hạn trong phạm vi nhân loại nhưng còn bao trùm cả vũ trụ. Thế giới và tạo vật sẽ được Thiên Chúa canh tân.

Thế mạt với lửa thường được nhắc tới một trật với nhau. Với thời gian, người ta chú trọng tới số phận cá nhân trong hiện tại và mai sau hơn. Người ta cố gắng xác định tình trạng linh hồn trước khi thẩm phán chung và dần dần nói rõ rằng : Những người công chính tuy chưa được hưởng niềm vui đầy đủ và trọn vẹn, nhưng đã được một phần nào dễ chịu; trái lại những tội nhân đã phải cực khổ.

Sách Esdra cho ta biết rõ thêm tình trạng linh hồn sau khi lìa khỏi xác. Theo sách đó, sau khi phán xét chung mới thi hành phần thưởng cho người lành và hình phạt cho kẻ dữ. Nhưng ngay sau khi chết, linh hồn những tội nhân phải sống trong một tình trạng buồn phiền, còn linh hồn những người công chính sống trong niềm vui ở một nơi đã dọn sẵn.

Một đôi khi, ta thấy nhắc tới một cuộc phán xét ngay sau khi chết.

Lm Trịnh Hưng Kỷ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *