Tìm Hiểu Về VĂN CHƯƠNG DO THÁI

VĂN CHƯƠNG DO THÁI

1. Ngụy thư

Đối với người Công giáo, ngụy thư là những sách không được linh hứng và không được Giáo hội công nhận vào Kinh bộ, tuy rằng theo nhan đề hay nội dung xem ra được linh hứng hay có lần đã được Giáo hội địa phương công nhận.

Các ngụy thư chia làm 2 loại : ngụy thư Cựu Ước và ngụy thư Tân Ước. Các ngụy thư Cựu Ước thường do những người Do-thái biên soạn, còn các ngụy thư Tân Ước do các Kitô hữu biên soạn.

Các ngụy thư Cựu Ước cho chúng ta biết tư tưởng đạo đức và luân lý của những người Do-thái đồng thời với Chúa Giêsu, do đó giúp chúng ta hiểu Tân Ước cũng như công cuộc Cứu độ của Đấng Cứu Thế và Giáo hội sơ khai hơn. Các ngụy thư Tân Ước cho chúng ta biết giáo thuyết và quan niệm của các tín hữu hay những người lạc giáo trong những thế kỷ đầu của Giáo hội.

Theo các Giáo phụ, ngụy thư là những tác phẩm có tính cách tôn giáo, mà nguồn gốc thiếu chính xác, nội dung chứa nhiều điều sai lầm pha lẫn với một ít điều chân thực và không được Giáo hội công nhận là chính thức.

Những ngụy thư đã nói đến:

  • · Sách Henoch Ethiopicô (Hen I)
  • · Sách Henoch Slavicô (Hen II)
  • · Sách Giubilêô (Giub)
  • · Sách IV Esdra (IV Esd)
  • · Thánh vịnh Salomon (Tv Sal)
  • · Sách IV Maccabê (IV Mac)
  • · Khải huyền Baruch (Bar II)

2. Văn kiện Qumran

Dọc theo bờ Biển Chết về phía tây bắc và cách Biển Chết một cây số, có một dãy núi đá mầu đỏ xám. Trong dãy núi có nhiều hang. Cách xa Wadi Qumran một chút về phía bắc, có những đổ nát hoang tàn Qumran (Khirbet Qumran) nhưng không ai để ý tới. Chính ở nơi đây, mùa xuân năm 1947, hai du mục Mohammad el Dib và Ahmad Mohammad thuộc bộ lạc TaAmira đã khám phá trong một hang, bây giờ người ta gọi là I Q, bảy cuốn sách hầu như còn nguyên vẹn.

Những cuốn sách đó sau ít tháng đã làm chấn động thế giới Kinh Thánh và Cận-đông-học. Đó là sách Tiên tri Isaia còn nguyên vẹn (I QIsa), sách chú giải (peser) Habacuc (I QpHab), cuốn Luật (Serek) Cộng đồng (I QS). Những cuốn trên đã do American Schools of Oriental Research xuất bản và do M.Burrows phụ trách; một cuốn Tiên tri Isaia thứ hai (I QIsb), sách những Bài ca (Hôdayot : I QH), cuốn Luật chiến đấu (Milhamah : I QM) do Đại học Do-thái xuất bản và do E. Sukenik phụ trách, một ngụy thư về Sáng thế ký đã hư hại nhiều cũng do Viện Đại học Do-thái xuất bản năm 1956. Sau một thời gian tản mát đó đây, bây giờ các cuốn nói trên đều được giữ tại Viện Đại học Do-thái ở Giêrusalem.

Năm 1949, các nhà cổ học đại diện Bộ Khảo cổ Jordania, trường Kinh Thánh các cha Đaminh Pháp và Bảo tàng viện Palestina bắt đầu cuộc tìm kiếm. Cuộc tìm kiếm đó kéo dài tới năm 1956 và thu được nhiều mảnh cảo bản trong 11 hang khác nhau, nhất là trong hang IV. Các nhà khảo cổ đó cũng khai quật hoang tàn Qumran. Cuộc khai quật này cho ta biết Khirbet Qumran đã là trụ sở của một cộng đồng đông đảo vào thời Hasmônêô (135 – 37 trước Công nguyên) (tiền đúc của Alexandrô Jannêô 103 – 76 trước Công nguyên) và từ năm 4 đến năm 68 sau Công nguyên.

Người ta chỉ mới xuất bản những mảnh cảo bản của hang I : D. Barthelemy – T.J. Milik, Qumran Cave I, Oxford 1955; những mảnh cảo bản ở các hang khác mới được nói tới trên tạp chí đó đây. Chúng ta còn phải đợi một thời gian nữa mới được biết tất cả các tài liệu và có thể những du mục còn giữ một số tài liệu quí báu.

Họ đã đòi một số tiền khổng lồ để bán các tài liệu mà họ đã lấy được; bây giờ có lẽ họ còn đợi cho lên giá (mỗi phân vuông một Bảng Anh). Dầu sao tất cả các mảnh cảo bản đã tìm thấy, cả các mảnh cảo bản mà những tổ chức khoa học đã bỏ tiền ra mua đều được giữ tại Viện Bảo tàng Jordania và do một nhóm học giả thuộc nhiều quốc tịch và tôn giáo khác nhau khảo sát. Trong những cuộc tìm kiếm văn kiện Qumran, người ta đã khám phá ra hai kho cảo bản khác : ở Murabbaat và ở Khirbet Mird. Nhưng những tài liệu này không liên quan tới vấn đề của chúng ta.

Trái lại phải kể vào loại văn kiện Qumran, tài liệu Damas (CD) do S. Schlechter tìm thấy năm 1896 – 1897 trong một hội đường Do-thái ở Le Caire (Ai-cập) và do ông xuất bản : Fragment of a Zadokite Work, Cambridge 1910. Tài liệu này đã là một bí nhiệm cho đến khi người ta khám phá ra những mảnh cảo bản ở hang IV, V và VI Qumran. Những mảnh cảo bản này cho ta biết chắc tài liệu trên là của các ẩn sĩ Qumran.

Những văn kiện Qumran được nhắc tới trong chương II :

  • · Luật Cộng đồng (I QS)
  • · Luật Cộng đồng Israel (I QSa)
  • · Những lời chúc tụng (I QSb)
  • · Tập các bài ca (I QH)
  • · Chú giải Habacuc (I QpHa)
  • · Luật chiến tranh (I QM)
  • · Tài liệu Damas (CD).

3. Tác giả Do-thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy – Á :Philô và Giuse Flaviô

a) Philô (30TCN – 59SCN)

Philô sinh trưởng ở Alexandria trong một gia đình giàu có và được hấp thụ nền giáo dục Do-thái và Hy-lạp. Philô đã biên soạn nhiều tác phẩm chú giải Kinh Thánh, nhất là “Sáng thế ký” và luật Môsê. Philô có ý giao hòa mạc khải Do-thái với văn hóa Hy-lạp. Một trong số các tác phẩm của ông : “Quod omnis liber sit” nói đến những người Essêni.

b) Giuse Flaviô (37/38 – 95)

Giuse Flaviô dòng dõi tư tế thuộc trào lưu Biệt phái. Trong cuộc chiến tranh Do-thái (66 – 70), Giuse Flaviô chỉ huy đồn Iotapata. Sau khi đồn Iotapata thất thủ, Giuse Flaviô ra đầu hàng và được Vespasianô và Titô đối đãi tử tế.

Ít lâu sau năm 70, Giuse Flaviô viết cuốn “Cuộc chiến tranh Do-thái” (BJ) bắt đầu từ thời kỳ Antiôcô Epiphanê. Sách xuất bản bằng tiếng Aram và tiếng Hy-lạp. Sau đó, ông lại viết cuốn Lịch sử Do-thái (Antiquitates Judaicae) từ buổi sơ khai đến thế kỷ thứ nhất, xuất bản lần thứ nhất năm 93/94, lần thứ hai năm 100. Qua hai tác phẩm trên, Giuse Flaviô cho chúng ta biết Do-thái giáo vào thời Tân Ước.

4. Văn chương Rabbi

Văn chương Rabbi gồm những bộ sách do các Rabbi thu thập hoặc biên soạn vào sau thời kỳ Tân Ước, các tác phẩm này chia làm 3 loại chính :

a) Talmud (= lời dạy) gồm có sách Mishna (= lời dạy, truyền thuyết) và Gemara. Mishna là sách thu thập những tập truyền và lời dạy của tiền nhân. Gemara chú giải những tập truyền và lời dạy đó. Bộ Talmud được bắt đầu biên tập vào ít lâu trước Công nguyên và hoàn thành vào thế kỷ V sau Công nguyên.

b) Midrash (= khảo cứu) chú giải Luật (Torah)  do các Luật sĩ và Rabbi.

c) Targum (= phiên dịch). Từ sau thời lưu đày, dân Do-thái nói tiếng Aram. Vì thế trong hội đường, sau khi đã đọc Sách Thánh bằng tiếng Do-thái, đoạn Sách Thánh đó được dịch ra tiếng Aram để cử tọa hiểu. Đó là nguồn gốc các sách Targum. Lối dịch này không phải là lối dịch theo sát nguyên văn, nhưng là một kiểu dịch và chú giải paraphrase).

Văn chương Rabbi cho ta biết về đời sống đạo đức và phong tục của người Do-thái, cũng như cách giải thích Cựu Ước của họ, ví dụ nhờ sách Talmud mà chúng ta được biết về tập truyền của tiền nhân. Vì thế văn chương Rabbi giúp ta hiểu Tân Ước hơn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *