NHỮNG ĐẢNG PHÁI DO-THÁI
Thời Chúa Giêsu, trong đạo Do-thái có nhiều nhóm khác biệt nhau. Danh từ đảng phái thời đó không đồng nghĩa với danh từ đảng phái trong thế giới hiện đại. Đó là những phong trào có tính cách tôn giáo hay quốc gia. Những đảng phái chính là Biệt phái, Sađđucêô, và Essêni.
Ta biết nguồn gốc và đặc tính những phong trào đó nhờ các sách Macabê, các ngụy thư, các tác phẩm của Giuse Flaviô, Philô thành Alexandria và các tài liệu tìm thấy gần Biển Chết.
Những đảng phái này hình như tiêu biểu cho những tiến triển của hai phong trào trong đạo Do-thái từ thời Macabê : khuynh hướng Hasiđêô (= ngoan đạo, nhân đức) bảo thủ và phản đối tất cả những gì không phải là Do-thái (1 Mac 2,42; 2 Mac 14,6) và trào lưu những người theo văn hóa Hy-lạp, sẵn sàng nhận một vài yếu tố văn hóa đó do Hoàng đế Alexanđrô phổ biến. Những người Biệt phái và Essêni thuộc trào lưu Hasiđêô, những người Sađđucêô thuộc trào lưu những người chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp.
1. Biệt phái
Các sử gia Do-thái và Kitô giáo nói khá nhiều tới Biệt phái tuy văn chương Talmud thường chỉ nói tới Biệt phái vào thế kỷ II sau Công nguyên hơn là tới Biệt phái đồng thời với Chúa Giêsu.
Pharisêô theo từ nguyên học (do tính từ tiếng Aram: “Phơrisaia”) có nghĩa là tách biệt. Có lẽ là một danh từ người ta gán cho họ rồi sau đó chính họ nhận như là một danh từ xứng hợp để chỉ những khuynh hướng căn bản của họ.
Gọi là Pharisêô, vì hiểu biết Luật sâu xa hơn và giữ nhặt nhiệm các Luật biên tập và truyền khẩu, nhất là luật kiêng việc ngày Sabbat, đóng thuế thập phân và giữ sự tinh sạch theo luật pháp, họ sống xa cách và tách biệt ra khỏi những người không theo khuynh hướng đạo lý và thực hành của họ. Giuse Flaviô so sánh họ với những người theo chủ nghĩa Khắc kỷ của Zénon.
Những người Biệt phái tin linh hồn bất tử và xác sẽ sống lại, nhưng hạn chế sự sống lại đó trong phạm vi những người công chính thôi. Họ công nhận có Chúa quan phòng trong việc cai quản vũ trụ và người ta có tự do. Lập trường của họ là trung độ giữa những người Sađđucêô, quan niệm rất hạn hẹp sự quan phòng của Chúa, và những người Essêni, không tin người ta có tự do. Trong phạm vi phụng tự, người Biệt phái khác với người Sađđucêô về luật dâng bó lúa đầu mùa : theo sách Lêvi 23,11, phải dâng bó lúa đầu mùa sau ngày Sabbat. Biệt phái hiểu ngày Sabbat là ngày 15 Nisan và dâng bó lúa đầu mùa vào ngày 16 Nisan; còn người Sađđucêô hiểu ngày Sabbat nói trong Lv 23,11 là ngày Sabbat thực sự và dâng bó lúa đầu mùa vào ngày tiếp theo ngày Sabbat đó. Về án lệ, người Biệt phái tỏ ra rộng rãi và phản đối án tử hình.
Trong cách cư xử của người Biệt phái, ta thấy có điểm tích cực và tiêu cực. Chắc chắn rằng trong Biệt phái có những người thành tâm ngoan đạo và sốt sắng. Chứng cớ là Chúa Giêsu có giao thiệp mật thiết với vài người trong bọn họ như : Simêon, Nicôđêmô, Giuse người thành Arimathêa. Thánh Phaolô cũng thuộc Biệt phái. Trong những tập truyền của tiền nhân, có những hạt ngọc quý giá, gia hưởng những lời giáo huấn của các tiên tri.
Về phương diện đạo lý, người Biệt phái gần với Phúc Âm hơn người Sađđucêô, vì thế có nhiều người Biệt phái đã trở nên Kitô hữu (Cv 4 – 6). Điều đó làm ta hiểu tại sao cộng đồng Kitô giáo ở Giêrusalem trung thành giữ luật Môsê.
Đàng khác, chúng ta biết Chúa Giêsu đã trách mắng những người Biệt phái và các Luật sĩ, phần đông họ thuộc Biệt phái (Mt 23). Chúa Giêsu trách họ về hình thức tôn giáo chủ nghĩa (Lc 11,39; Mt 15,3-6), giả hình (Mt 23,13-32), kiêu ngạo (Lc 18,9-14), khinh miệt những người khác (Gio 7,49; 9,34).
Chúa Giêsu đã khiển trách họ không tiếc lời. Nhưng nếu đứng về quan điểm lịch sử mà xét, ta thấy nhiều người Do-thái cũng không có cảm tình với người Biệt phái, phê bình đời sống của họ và nói đến những tính xấu của họ mà Chúa đã nói ra. Những người Biệt phái bị trách là giả hình và bị coi như một tai họa.
Một đoạn trong Talmud chia Biệt phái ra làm 7 hạng và nói chỉ có hạng thứ bảy được Chúa thương đến vì biết hành động vì lòng mến Chúa.
Những người Biệt phái coi những người không thuộc Biệt phái và không có những tư tưởng như họ trong việc giải nghĩa và thực hành Luật là “dân quê” (Am-ha-rez) dốt nát không hiểu Luật (Gio 7,49).
2. Nhóm nhiệt tín (Zelotes)
Nhóm nhiệt tín là những người Biệt phái hăng hái nhưng thiếu sáng suốt đối với tôn giáo và tổ quốc; họ coi các phương tiện đều tốt và dùng mọi phương tiện không chút bối rối để thoát ách ngoại bang. Họ chỉ nhận Thiên Chúa là Chúa và không gán cho ai chức đó.
Hình như phong trào đó đã bắt đầu do một người tên là Giuđa Galilêô, đã làm loạn trong dịp khai sổ kiểm tra do Quiriniô thực hiện, sau khi Archêlaô bị cất chức. Nhiều hoàn cảnh kích thích và nuôi dưỡng lòng hăng hái của họ : chính sách hà khắc và đời sống có tính cách ngoại giáo của Hêrôđê và các vua nối nghiệp, lòng khinh miệt và thù ghét người Rôma, những người ngoại giáo đã làm nhơ bẩn Đất Thánh và lòng trông đợi mãnh liệt Đấng Mêsia, một đặc điểm của thời đó.
Những người nhiệt tín táo bạo nhất làm thành một nhóm gọi là Sicari. Sicari bởi tiếng Sica là dao găm, mà họ thường dùng để hãm hại những người Rôma ở lẻ tẻ và những người thân Rôma (Cv 21,38).
Những người nhiệt tín là linh hồn cuộc kháng chiến chống người Rôma trong cuộc chiến tranh 66 – 70 và đã đưa quốc gia Do-thái đến diệt vong.
3. Những người Sađđucêô
Tân Ước thường nhắc tới những người Sađđucêô và coi họ là những người đối lập với Biệt phái (x. Cv 23,6). Danh từ Sađđucêô có liên lạc với danh từ Sadoq, vị Thượng tế thuộc ngành Elêazar. Thời Salomon, Abiathar bị sa thải và Sadoq và con cháu ông được nhìn nhận là Thượng tế cho tới khi phải đi lưu đày (587) và sau khi lưu đày (538) đến đời vua Antiôcô IV (175 – 164 trước Công nguyên). Theo giả thiết trên, danh từ Sađđucêô có nghĩa là con cháu Sadoq và ngụ ý phần đông những người thuộc phái nầy là các vị tư tế.
Phái Sađđucêô thuộc trào lưu theo văn hoá Hy-lạp. Trào lưu này được thành lập trong những thế kỷ tiếp theo
lưu đày, nhất là thời Macabê, dưới áp lực của họ Sêleuciđê.
Phái Sađđucêô chiêu mộ các đảng viên trong hàng quí tộc, tư tế hay dân sự. Dân chúng không có cảm tình với những người Sađđucêô và để khỏi mất liên lạc với quần chúng nhiều khi họ phải theo các tập truyền và thực hành của Biệt phái. Về chính trị thường họ xu thời hơn là lo đến lợi ích tôn giáo của tổ quốc.
Phái Sađđucêô chỉ nhận Lời Chúa đã được biên tập làm tiêu chuẩn tư tưởng và hành động, từ chối những điều mà luật Môsê không dạy một cách rõ ràng; trong thực tế họ từ chối những qui tắc đời sống thực hành, tức là các tập truyền của tiền nhân.
Theo Giuse Flaviô, những người Sađđucêô không tin linh hồn bất tử; theo họ, linh hồn chết làm một với xác. Họ cũng không tin người ta sẽ sống lại. Phúc Âm có nói qua đến (x. Mt 22,23) và Công vụ Tông đồ nói rõ ràng (Cv 23,8). Không tin linh hồn bất tử, họ đã gián tiếp chối người ta sẽ sống lại, vì linh hồn bất tử là điều kiện để người ta có thể sống lại. Giuse Flaviô khi nói tới sự đối lập giữa Biệt Phái và người Sađđucêô, đã nói người Sađđucêô không công nhận sự sống lại.
Giuse Flaviô còn nói: “Những người Sađđucêô thường cứng cỏi ngay cả đối với người cùng phái và bất lịch sự trong cách giao tiếp với người đồng hương cũng như với người ngoại bang”. Cũng theo Giuse Flaviô, trong việc xử tử thánh Giacôbê, anh em họ với Chúa Giêsu, Thượng tế Anna II (61 – 62) đã nghe theo phái Sađđucêô, nghiêm khắc hơn những người Do-thái khác trong việc xử án. Hình như những người Sađđucêô, chiếm phần đa số trong Hội đồng Tối cao, có trách nhiệm nhiều hơn về cái chết của Chúa Giêsu (Mt 26,3 tt) và về những bách hại đối với Giáo hội buổi sơ khai (Cv 4,1-4; 5,17).
4. Phái Essêni
Giuse Flaviô, trong các tác phẩm của ông, cho ta biết về các đảng phái Do-thái, đặc biệt chú trọng đến phái Essêni. Philô và Pliniô kỳ lão cũng cho ta biết ít nhiều về phái này.
Giuse Flaviô nói nhiều tới đời sống của phái Essêni, mục đích của nhóm, những tập quán và phong tục riêng của họ, khen những đức tính luân lý và nhấn mạnh tới một vài phương diện của đạo thuyết Essêni.
Theo tài liệu của các sử gia nói trên, những người Essêni sống chung với nhau thành cộng đồng, một phần tản mát trong xứ Palestina và các miền phụ cận, một phần tụ họp trong sa mạc xứ Giuđê, gần bờ Biển Chết, mạn bắc Engaddi (Pliniô).
Những người Essêni muốn thực hiện một đời sống thánh thiện và sống cách biệt những người khác để tập luyện nhân đức. Ngay danh từ Essêni cũng có ngụ ý đến đời sống đạo đức của họ, vì có lẽ danh từ đó có liên lạc với tiếng Hy-lạp “hosios”, có nghĩa là thánh, hay tiếng Aram “hasé”, có nghĩa là “ngoan đạo và sốt sắng”.
Những cảo bản khám phá được ở gần Biển Chết cho ta thấy nhiều điểm giống nhau giữa người Essêni và cộng đồng Qumran và Damas. Do đó vấn đề liên lạc giữa phái Essêni và các ẩn sĩ Qumran mà cuốn Luật Cộng đồng (I QS) diễn tả lại đời sống và cách tổ chức, đã được nêu lên.
Phần đông các học giả công nhận cộng đồng Qumran và Damas có liên lạc mật thiết với người Essêni.
5. Phái Hêrôđianô
Phúc Âm thánh Marcô (3,6) và thánh Matthêô (22,16) nhắc tới một đảng có mầu sắc chính trị, đảng Hêrôđianô.
Giuse Flaviô hình như chỉ nhắc qua tới khi nói đến những người phái Hêrôđê; có lẽ đây là một nhóm người Do-thái nhất quyết tranh đấu cho nhà Hêrôđê, muốn tái lập chủ quyền của nhà đó trên toàn xứ Palestina. Nguyện vọng của họ đã được thoả mãn trong một thời gian ngắn dưới thời Hêrôđê Agrippa I (41 – 44 sau Công nguyên).
Có lẽ họ đã hợp với người Biệt phái để chống lại Chúa Giêsu, không phải vì có cảm tình với những khuynh hướng đạo lý và thực hành của phái này, nhưng là để thủ tiêu một nhân vật được lòng dân có thể làm khó dễ cho những tham vọng của con cháu Hêrôđê Đại vương. Chính bạo vương này đã muốn thủ tiêu con trẻ sơ sinh ở Bethlêhem vì cho rằng Người có thể là kẻ đối lập (Mt 2).
6. Các Luật sĩ Do-thái (Sribes)
Theo từ nguyên học, “Scribes” có nghĩa là người sao chép (viên lục sự), trong từ ngữ thông dụng và trong Tân Ước, có nghĩa là “Luật sư”. Trong Phúc Âm ta thấy nhiều khi Luật sĩ và Biệt phái về phe với nhau; nhưng ta không nên lầm tưởng hai phái đó là một. Không phải mỗi người Biệt phái là một Luật sĩ và ngược lại mỗi Luật sĩ không nhất thiết phải là một Biệt phái. Những người Biệt phái thuộc về một đảng phái có những khuynh hướng đạo lý và thực hành riêng biệt; các Luật sĩ là một giai cấp chuyên học Luật, về địa vị có thể là tư tế hay thường dân, về tôn giáo có thể là Sađđucêô hay Biệt phái. Nhưng thời Chúa Giêsu, phần đông các Luật sĩ Israel là thường dân và theo tôn chỉ Biệt phái. Nhận thức này làm cho ta có thể gán cho các Luật sĩ một phần lớn những đức tính và những nết xấu của Biệt phái.
Người Do thái, trong thời lưu đày, mất hết tài sản thiêng liêng cũng như vật chất, chỉ trừ Luật, nên họ đã dồn tất cả tâm trí và lòng mến yêu vào của báu duy nhất còn lại. Hoàn cảnh đó đã tạo ra các Luật sĩ, những người tận hiến tâm trí và năng lực để bảo vệ, học hỏi, giải thích và dạy Luật. Sau lưu đày, số các Luật sĩ càng ngày càng nhiều.
Sách Huấn ca có bài ca tụng đặc biệt vị tiến sĩ Luật (Hc 39,1-11). Thời Chúa Giêsu, các Luật sĩ rất đông và có uy thế. Họ cũng là thành phần của Hội đồng Tối cao Do-thái.
Phúc Âm dùng nhiều danh từ để gọi họ : luật sĩ, luật gia, luật sư. Philô và Giuse Flaviô gọi họ là những người giải thích Luật, là Luật sĩ, là những người khôn ngoan. Những Rabbi hiện đại tự coi là có liên lạc với những vị tiến sĩ Luật thời xưa.
Các Luật sĩ học Luật và dạy Luật. Những Luật sĩ thời danh đều muốn có một số đông môn đệ để dạy Luật cho họ. Các học sinh phải học thuộc lòng Luật biên tập và Luật truyền khẩu. Với sự cần cù kiên nhẫn lặp đi lặp lại các bài phải học, học sinh dần dần in vào óc những bài đó.
Giáo sư cũng ra câu hỏi bắt học sinh giải đáp và học sinh có thể xin giáo sư giải nghĩa cho. Những vị tiến sĩ thông minh lỗi lạc đã sáng lập những trường danh tiếng : nổi tiếng nhất là trường Hillel có khuynh hướng tự do và có tính chất ôn hòa và trường Shammai với tôn chỉ nghiêm khắc và có tích cách hăng hái.
Thường thường không ai được chức giáo sư trước khi tới 40 tuổi. Thời Chúa Giêsu, việc dạy Luật không được thực hiện ở các trường học, nhưng tại nhà các Rabbi và ở Giêrusalem tại sân Đền thờ. Các môn đệ ngồi dưới chân thầy. Có lẽ Chúa Giêsu khi ở lại Đền thờ (năm Chúa lên 12 tuổi dịp lên thành Giêrusalem dự lễ Vượt qua) đã dự một lớp học của các Rabbi (Lc 2,46 tt).




